phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung báo cáo đƣợc trình bày trong 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan về nghiên cứu địa mạo cho công tác quy hoạch sử dụng đất huyện Ba Vì Chƣơng 2: Các nhân tố ảnh hƣởng tới địa hình, các quá trình bề mặt và hiện trạng sử dụng đất huyện Ba Vì. Chƣơng 3: Phân tích đánh giá điều kiện địa mạo cho công tác quy hoạch sử dụng đất huyện Ba Vì. 13 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU ĐỊA MẠO CHO CÔNG TÁC QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN BA VÌ 1.1 Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm về địa hình và các quá trình bề mặt Địa hình là tập hợp của vô vàn những thể gồ ghề, lồi lõm hoặc tương đối bằng phẳng, phân cách với nhau bởi những đường ranh giới ít nhiều rõ ràng, tức là tập hợp của các dạng địa hình (ví dụ quả đồi, con sông, gò đất, quả núi, đụn cát, bãi bồi, doi cát, v.
Địa hình đƣợc phân biệt bởi các yếu tố địa hình. Các yếu tố địa hình đƣợc đặc trƣng bởi hình thái, trắc lƣợng hình thái, nguồn gốc và tuổi địa hình. Dạng địa hình có thể là một khối nhô cao so với bề mặt nằm ngang, gọi là địa hình dƣơng, hoặc có thể lõm xuống, gọi là địa hình âm. Mỗi dạng địa hình lại bao gồm những yếu tố thành phần, đó là bề mặt (nhƣ bề mặt đỉnh, các bề mặt sƣờn, gọi là các bề mặt sơ đẳng), các đƣờng và các điểm đặc trƣng.
Các dạng địa hình thƣờng đƣợc sắp xếp, kết hợp với nhau theo những quy luật nhất định để tạo thành những đơn vị địa hình cấp cao hơn [4]. Hình thái địa hình: Bao gồm những thông tin định lƣợng về độ cao tƣơng đối, độ cao tuyệt đối, độ chia cắt ngang, độ dài, độ dốc sƣờn và bề mặt, độ uốn khúc của các dòng sông, v. Tất cả những thông tin đó đƣợc thể hiện dƣới dạng các chỉ số và hệ số [4]. Nguồn gốc hình thành địa hình: Địa hình trên bề mặt Trái đất luôn biến đổi, một mặt do những lực có nguồn gốc ở trong lòng Trái đất sinh ra (nội lực), mặt khác do những lƣc ở bên ngoài Trái đất sinh ra (ngoại lực) Nội lực là lực đƣợc sinh ra ở bên trong Trái đất.
Nguyên nhân chủ yếu sinh ra nội lực là các nguồn năng lƣợng trong lòng Trái đất nhƣ: năng lƣợng của sự phân hủy các chất phóng xạ, sự chuyển dịch và sắp xếp lại các vật chất cấu tạo Trái đất theo trọng lực, sự ma sát vật chất. 14 Ngoại lực là những lực đƣợc sinh ra bên ngoài trên bề mặt Trái đất nhƣ các nguồn năng lƣợng của gió mƣa, nƣớc chảy, băng, sóng biển,.Nguyên nhân chủ yếu sinh ra ngoại lực là do nguồn năng lƣợng bức xạ mặt trời Tuổi địa hình: là khoảng khoảng thời gian, trong đó nó đã đƣợc hình thành và các dạng của nó vẫn còn giữ đƣợc những đƣờng nét chính cho tới ngày nay [4]. Tập hợp các dạng địa hình liên kết với nhau một cách có quy luật, có quan hệ mật thiết với nhau về nguồn gốc phát sinh và cùng tồn tại trên cùng một không gian mặt đất nhất định đƣợc gọi là kiểu địa hình nhƣ kiểu địa hình đồng bằng sông ( gọi là đồng bằng aluvi), kiểu địa hình đồng bằng biển, kiểu địa hình đồi xâm thực – bóc mòn, kiểu địa hình cao nguyên dung nham, v. Có hai nhóm kiểu địa hình chính đó là: Nhóm kiểu địa hình bào mòn và nhóm kiểu địa hình tích tụ.
Đất đai và đơn vị đất đai Đất đai (land): là một tổ hợp các dạng tài nguyên thiên nhiên đƣợc đặc trƣng bởi một lãnh thổ, một chất lƣợng của các loại đất, bởi một kiểu khí hậu, một dạng địa hình, một chế độ thủy văn, một kiểu thảm thực vật…Là một cơ sở không gian (đơn vị lãnh thổ) của việc bố trí các đối tƣợng sản xuất, định cƣ và là phƣơng tiện sản xuất mà trƣớc hết và rõ ràng nhất là kinh tế nông – lâm – ngƣ nghiệp với dân cƣ và xây dựng dân dụng.v…Khi nói đến đơn vị đất đai có nghĩa là một bộ phận không gian lãnh thổ đó đã kèm theo ngƣời sở hữu hoặc ngƣời có quyền sử dụng và quản lý nó [12]. Đặc tính đất đai là các thuộc tính của đất tác động đặc biệt đến tính thích nghi của đất đó đối với loại hình sử dụng đất. Các đặc tính đất đai (nhƣ chế độ nhiệt, chế độ ẩm, khả năng thoát nƣớc, chế độ cung cấp dinh dƣỡng của đất…) ảnh hƣởng đến tính thích hợp sản xuất của các loại hình sử dụng đất, nó trả lời trực tiếp cho yêu cầu sử dụng đất. Đơn vị đất đai (Land Unit): là một khoanh đất cụ thể đƣợc thể hiện trên bản đồ, có những đặc tính và tính chất tƣơng đối đồng nhất mà nhờ đó có thể phân biệt đƣợc ranh giới giữa nó với các khoanh đất khác [12].
15 Các tiêu chí/cách thức để xác định một đơn vị đất đai của Nhà nƣớc Việt Nam hiện nay. Đánh giá đất Đánh giá đất theo FAO: là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của khoanh đất (vạt đất) cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại hình sử dụng đất yêu cầu cần phải có [21]. Trong đánh giá đất, đất đai đƣợc định nghĩa nhƣ một khoanh đất đƣợc xác định về vị trí đía lý, là một phần diện tích bề mặt Trái Đất với những thuộc tính tƣơng đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán đƣợc của môi trƣờng bên trên, bên trong và bên dƣới bề mặt của nó nhƣ không khí, loại đất, điều kiện địa chất, thủy văn, thực vật và động vật cƣ trú, những hoạt động tác động từ trƣớc và hiện tại của con ngƣời, ở chừng mực mà những thuộc tính này có ảnh hƣởng đáng kể đến việc sử dụng khoanh đất đó trong hiện tại và tƣơng lai. Nhƣ vậy đánh giá đất phải đƣợc xem xét trên phạm vi rất rộng, bao gồm cả không gian, thời gian, tự nhiên, kinh tế - xã hội.
Đặc điểm đánh giá đất của FAO là dựa vào những tính chất đất đai có thể đo lƣờng hoặc ƣớc lƣợng – định lƣợng đƣợc. Cần thiết có sự lựa chọn chỉ tiêu đánh giá đất thích hợp, có vai trò tác động trực tiếp và có ý nghĩa tới việc sử dụng hợp lý đất đai của vùng nghiên cứu. Mục đích ý nghĩa của việc đánh giá đất: - Kết quả đánh giá đất cho phép xác định tiềm năng sản xuất của đất đai và là cơ sở, căn cứ cho việc lập quy hoạch sử dụng đất. - Phục vụ cho việc định hƣớng sử dụng đất, đặc biệt đối với khu vực miền núi, để đảm bảo an toàn lƣơng thực, chống xói mòn, thoái hóa đất và bảo vệ môi trƣờng.
- Kết quả đánh giá đất là cơ sở cho việc xây dựng các dự án đầu tƣ sản xuất và đề xuất các biện pháp khoa học kỹ thuật phù hợp với điều kiện của địa phƣơng. Quy hoạch sử dụng đất Đất đai là nguồn tài nguyên, nguồn lực vô cùng quý giá của quốc gia song là nguồn tài nguyên hạn chế. Trong giai đoạn công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở nƣớc 16 ta hiện nay, việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên này phục vụ các mục đích phát triển kinh tế - xã hội một cách khoa học, tiết kiệm và có hiệu quả là vô cùng quan trọng. Vì vậy công tác quy hoạch và kế hoạch hóa việc sử dụng đất đai là một công cụ thiết yếu trong hệ thống quản lý đất đai ở nƣớc ta.
Điều 6 của Luật đất đai năm 2003 xác định một trong những nội dung quản lý Nhà nƣớc về đất đai là quản lý quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất. Hiểu theo nghĩa rộng thông thường quy hoạch sử dụng đất là sự phân bố, bố trí đất đai cho các mục đích phát triển kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng của cả nước và từng địa phương trong một giai đoạn nhất định ở tương la i [20]. Hiểu theo nghĩa rộng, quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật, pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao; thông qua việc phân bố quỹ đất đai cho các mục đích sử dụng và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường [20]. Đối tƣợng của quy hoạch sử dụng đất là quỹ đất đai của các cấp lãnh thổ hành chính (cả nƣớc, tỉnh, huyện, xã) hoặc một khu vực.
Căn cứ vào đặc điểm tự nhiên, phƣơng hƣớng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phƣơng, quy hoạch sử dụng đất đƣợc thực hiện nhằm xác định cơ cấu đất đai hợp lý, phân bổ đất đai cho các mục đích sử dụng, các ngành kinh tế, xác định sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý đất đai, làm cơ sở để tiến hành giao đất vào đầu tƣ và phát triển sản xuất, đảm bảo an toàn lƣơng thực,phục vụ các nhu cầu dân sinh, văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trƣờng. Quy hoạch sử dụng đất đƣợc lập cho thời kỳ 10 năm chẵn với tầm nhìn 20 năm. Một kỳ quy hoạch gồm 2 kỳ kế hoạch sử dụng đất cho từng giai đoạn 5 năm. Khi có thay đổi về cơ cấu sử dụng đất, thay đổi mục đích sử dụng đất, thay đổi về cơ cấu, vị trí, diện tích sử dụng đất do tác động của thiên tai, chiến tranh thì quy hoạch sử dụng đất đƣợc điều chỉnh.
Quản lý đất đai Quản lý đất đai là quá trình quản lý việc sử dụng và phát triển tài nguyên đất đai. Tài nguyên đất đai được sử dụng cho nhiều mục đích, có thể bao gồm nông nghiệp hữu cơ, trồng rừng, quản lý tài nguyên nước và các dự án du lịch sinh thái [12]. Đất đai là tài nguyên vô giá, vì vậy quản lý đất đai là một nhiệm vụ của hệ thống hành chính công do nhà nƣớc thực hiện. Ở các quốc gia khác nhau thì có các quan niệm khác nhau về nhiệm vụ của hệ thống quản lý đất đai.
Có nƣớc quan tâm chủ yếu tới khía cạnh thuế, có nƣớc lại tập trung vào khía cạnh quy hoạch phát triển…Ở nƣớc ta Nhà nƣớc quản lý đất đai về mọi mặt nhƣ: 1.