Mở đầu Đê sông là công trình thủy lợi ngăn nước trải dài theo các dòng sông làm nhiệm vụ bảo vệ các khu dân cư, các vùng đất canh tác để tránh các tác động của nước sôngkhi có bão, triều cường. Nước sông tràn vào trong đồng gây thiệt hại về tính mạng, tài sản của nhân dân, nhiễm mặn hệ thống đất canh tác, phá huỷ làng mạc hoa màu. Vì vậy trong mọi trường hợp, vấn đề đảm bảo an toàn đê sông nói riêng và hệ thống đê nói chung là đảm bảo an toàn về dân sinh, kinh tế, an ninh quốc phòng. Các nước phát triển đã có nhiều đầu tư về nghiên cứu khoa học, công nghệ đảm bảo sự an toàn tuyệt đối cho đê sông.
Các giải pháp gia cường, bảo vệ đê sông trước kia có thể được bóc bỏ, thay mới bằng giải pháp công nghệ an toàn vững chắc hơn. Việt Nam cũng có những chuyển biến tích cực, nhưng chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật của đê sông hiện tại. Các phần tổng quan về gia cường đê sông trên thế giới và của Việt Nam được trình bày sau đây cho toàn cảnh về cải tiến công nghệ cũng như những tồn tại về kỹ thuật. Từ đó sẽ phân tích, đánh giá rút ra được đề xuất khoa học công nghệ sao cho có tính sáng tạo, tăng thêm an toàn, kinh tế và Việt Nam.
Tổng quan về giải pháp bảo vệ mái đê sông trên thế giới 1.Giải pháp bảo vệ mái đê phía sông 1.Đá lát khan, mảng bê tông, cấu kiện bê tông lắp ghép tự chèn Phổ biến nhất vẫn là các hình thức bảo vệ mái bằng đá đổ, đá lát khan, cấu kiện bê tông đúc sẵn, cấu kiện bê tông lắp ghép với các dạng liên kết khác nhau.1 thể hiện một đoạn đê ở Hà Lan, mái đê được gia cường bằng các biện pháp là một đoạn đê dùng đá lát khan, một đoạn đê sử dụng kết cấu bê tông lắp ghép và phía trên cơ được trồng cỏ bảo vệ. 6 Cấu kiện bê tông tự chèn là dùng các cấu kiện bê tông có kích thước và trọng lượng đủ lớn đặt liên kết tạo thành mảng bảo vệ chống xói cho mái phía sôngdo tác động của sóng Hình 1.1: Gia cường mái đê ở Hà Lan và dòng chảy. Để gia tăng ổn định và giảm thiểu kích thước cấu kiện người ta không ngừng nghiên cứu cải tiến hình dạng cấu kiện và kiên kết giữa các cấu kiện theo hình thức tự chèn. Kết cấu loại này dễ thoát nước, dễ biến dạng cùng với đê nên có độ ổn định của kết cấu tương đối cao.
Các cấu kiện bê tông gia cố đúc sẵn có xu hướng chuyển từ dạng “bản” như đang được sử dụng phổ biến hiện nay sang dạng “cột” để tăng ổn định và dễ sửa chữa khi có sự cố. Với các nước phát triển, vì có điều kiện kinh tế nên các cấu kiện gia cường trước kia không đảm bảo trọng lượng được bóc bỏ, thay thế bằng các cấu kiện dày hơn, nặng hơn.2 thể hiện so sánh giữa cấu kiện bảo vệ mái đê trước kia và cấu kiện đang thay mới ở một đoạn đê của Hà Lan. a) Bóc bỏ cấu kiện gia cường cũ b) Thay thế bằng cấu kiện mới 7 Hình 1.2: Cấu kiện bê tông lắp ghép Có rất nhiều dạng kết cấu bê tông gia cố, hình dạng của các kết cấu gia cố dựa trên tiêu chí liên kết mảng.3 thể hiện một dạng kết cấu gia cố đê sông của Nhật Bản.3: Một dạng cấu kiện gia cố đê sôngNhật Bản Hình 1.4 là ảnh thiết bị thi công lắp ghép các cấu kiện bê tông khối lớn gia cố mái đê phía sông.4: Thiết bị thi công cấu kiện gia cố mái đê biển Hà Lan 8 Hình 1.5 thể hiện một cấu kiện gia cố dạng khối sáu mặt, kích thước lớn theo xu hướng chuyển từ dạng tấm sang dạng cột (cấu kiện kích thước 0,6 x 0,8 x 0,8m).5: Cấu kiện bê tông gia cố dạng cột Tính đến thời điểm hiện tại, gia cố mái đê sông bằng các cấu kiện bê tông đúc sẵn vẫn phổ biến nhất do các ưu điểm nổi trội về sự ổn định của mảng gia cố dưới tác động của sóng và dễ thi công, thuận tiện cả dùng thi công cơ giới. Tiêu chuẩn ổn định của cấu kiện gia cố mái đê thường dùng công thức ứng dụng của Pilarczyk (1990) đề xuất dựa trên cơ sở thí nghiệm mô hình tỷ lệ lớn: Hs cos α ≤ Ψu Φ b ∆mD ξp Với ξ pb là chỉ số sóng vỡ trên mái đê −0.5 tanα Trong đó: ψ u : Hệ số ổn định cấu kiện (ψ u =1 với bảo vệ mái bằng đá đổ và ψ u >1 với các dạng cấu kiện khác); Φ : Hàm ổn định của cấu kiện ứng với thời điểm bắt đầu chuyển dịch; H s : Chiều cao sóng (m); 9 T p Chu kỳ sóng (s); L o : Chiều dài sóng (m); D : Chiều dầy cấu kiện gia cố (m); α: Góc mái dốc (độ); ∆ m : Tỷ trọng vật liệu cấu kiện; b : Hệ số tương tác của sóng lên kè có các độ nhám khác nhau Các đại lượng D , ∆ m xác định theo dạng kè bảo vệ mái 1.Gia cố mái đê bằng nhựa đường Hàng thế kỷ trước đây, vật liệu nhựa đường đã được sử dụng ở vùng Trung Âu vào việc làm kín nước.
Vào năm 1893, Italy dùng nhựa đường phủ mái đập đá đổ. Năm 1934 Hà Lan dùng nhựa đường phủ đáy âu thuyền Fuliana. Sau cơn bão 1953, Hà Lan đã sử dụng bê tông nhựa đường vào xây dựng đê. Vật liệu này thường dùng kết hợp với vật liệu khác để gia cường, chẳng hạn nhựa đường-đá xếp, nhựa đường-bê tông khối, bê tông Asphalt ứng dụng trong xây dựng công trình thủy lợi, đê sông của nhiều nước tiên tiến như Nauy, Hà lan, Mĩ và một số nước khác.6 là một dạng kè đê bằng đá xếp phủ nhựa đường ở Hà Lan.6: Kè đê bằng đá xếp phủ nhựa đường 10 1.Thảm bê tông Các cấu kiện bê tông được nối với nhau tạo thành mảng liên kết (hình 1.
Các cấu kiện này liên kết với nhau bằng dây cáp, bằng các móc, giữa các cấu kiện thường đệm bằng cao su, hoặc lấp đầy bằng sỏi, gạch xỉ. Phải bố trí tầng lọc ngược giữa thảm bê tông với thân đê. Cấu kiện kiểu này thường xuyên được cải tiến về hình dạng và liên kết giữa các cấu kiện.7: Thảm bê tông liên kết bằng dây cáp Hình 1.8 thể hiện thảm bê tông đang được thi công trên một đoạn đê, bên dưới lót vải địa kỹ thuật làm lọc. Sau khi thi công xong thảm bê tông, tra cỏ vào các hốc bê tông để tạo cảnh quan môi trường.8: Thảm bê tông được sử dụng làm kè đê sông Hà Lan 1.Thảm đá Các rọ bằng thép bọc chất dẻo hoặc chất dẻo trong đựng đầy đá gọi là “thảm đá”.
Thảm đá dùng để chống xói cho đê và bờ sông, bờ sông do tác động 11 của sóng và dòng chảy. Ý tưởng của kết cấu này là liên kết đá nhỏ lại thành khối lớn để sóng và dòng chảy không phá hỏng được.Thảm bằng các túi địa kỹ thuật chứa cát Các túi địa kỹ thuật được bơm đầy cát đặt trên lớp vải địa kĩ thuật, liên kết với nhau thành một hệ thống gọi là thảm túi cát để bảo vệ mái dốc của đê, bờ sông, bờ biển.9 là ảnh chụp một đoạn kè chống xói bằng hệ thống các túi địa kỹ thuật trên đảo Sylt-Kliffende-Đ ức.9: Thảm gia cường bằng hệ thống túi vải địa kỹ thuật Hình 1.10 là một số ứng dụng khác của túi địa kỹ thuật, có thể xây dựng kè chắn sóng, sửa chữa trụ cầu, gia tăng trọng lượng cho đường ống, neo giữ… Ghi chú: a) Xây dựng kè chắn sóng, chống xói. b) Bảo vệ bờ, chống tác động của sóng lớn. c) Sửa chữa trụ cầu xây dựng trong nước.
d) Bảo vệ xói trên các ống chôn, gia tăng sự neo giữ. e) Gia tăng trọng lực, ổn định cho đường ống dẫn nước.10: Mở rộng ứng dụng của f) Neo giữ kết cấu mỏ. túi địa kỹ thuật g) Sửa chữa xốp rỗng trong các kết cấu xây 12 1.Hệ thống ống địa kỹ thuật chứa cát Sử dụng ống địa kĩ thuật, có đường kính từ 0,5m đến 2,5m, kích thước tuỳ thuộc vào yêu cầu công trình. Chiều dài mỗi ống trung bình khoảng 60m-100m.
Định vị ống vào vị trí dự kiến sau đó bơm dung dịch tỉ lệ 1 phần cát với 4 phần nước, cho đến khi ống đầy cát hoặc vữa xi măng. Hình thành mặt cắt đê sông hoặc kết cấu dự định xây dựng (hình 1.11: Ống địa kỹ thuật trong xây dựng đê kè 1.Công nghệ sử dụng vật liệu địa kỹ thuật tổng hợp Sử dụng vật liệu địa kỹ thuật tổng hợp (vải địa kỹ thuật, lưới địa kỹ thuật) làm chức năng gia cố dạng đất có cốt, chức năng phân cách các lớp vật liệu có nhóm đường kính hạt khác nhau, gia cường làm nền khi đắp đê trên nền đất yếu. Như vậy tăng cường đuợc ổn định tổng thể cho đê (hình 1.12: Công nghệ sử dụng vật liệu địa kỹ thuật tổng hợp 13 Vải địa kĩ thuật được dệt từ sợi tổng hợp có thể dùng làm tăng ổn định mảng gia cố mái đê hoặc sợi tổng hợp dệt thành màng địa kỹ thuật làm chức năng chống thấm, chức năng phân cách giữa các lớp vật liệu. Nhìn chung với sự thay đổi về công nghệ vật liệu đã giải quyết được nhiều vấn đề kỹ thuật, đảm bảo sự an toàn và ổn định lâu dài của đê sông.Giải pháp bảo vệ mái đê phía đồng 1.Trồng cỏ Trồng cỏ để bảo vệ chống xói mái đê phía trong đồng được sử dụng từ lâu và khá phổ biến trên thế giới.
Trồng cỏ là hình thức kết cấu đơn giản thân thiện với môi trường. Cỏ trồng trên mái dốc để cỏ và bộ rễ tạo thành lớp bảo vệ chống xói bề mặt đê (hình 1.13), hoặc trồng cỏ trong ô được chia ra bởi các khối xây hoặc trong những cấu kiện đúc sẵn. Nhìn chung giải pháp tạo thảm cỏ được đánh giá là hiệu quả và là giải pháp được sử dụng từ lâu vì lá cỏ, rễ cỏ đều có tác dụng chống xói bề mặt đê khi có dòng chảy tràn. Tuy nhiên, lớp cỏ bảo vệ chỉ chịu được lưu lượng tràn nhất định.13: Thảm cỏ chống xói mái đê 1.Thảm ba chiều bằng sợi tổng hợp Thảm ba chiều bằng sợi tổng hợp kết hợp với trồng cỏ tăng cường sức chịu tải cho lớp đất, tạo điều kiện thuận lợi ban đầu cho cỏ phát triển.
14 Bảo vệ mái đê theo công nghệ này đảm bảo được điều kiện thân thiện với môi trường và tăng khả năng chống xói hơn so với thảm cỏ thông thường (hình 1.