ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm trùng đường tiểu là một bệnh lý nhiễm trùng do nhiều vi sinh vật khác nhau gây nên. Vi khuẩn thường gây nhiễm trùng tiểu là các trực khuẩn Gram âm (-) trong đó E. coli chiếm đa số các trường hợp nhiễm khuẩn cấp tính ở những bệnh nhân không có bất thường hoặc sỏi ở đường tiểu. Các trực khuẩn Gram (-) khác như : Proteus, Klebsiella, Enterobacter, Seratia, Pseudomonas chiếm tỉ lệ ít hơn.
Nhiễm trùng đường tiểu là một trong những hội chứng thường gặp nhất tại các bệnh viện và thường có khuynh hướng tái phát nhiều lần, vì thế cần hiểu rõ các cơ chế gây bệnh để trị liệu một cách nghiêm ngặt và lâu dài. Nhiễm trùng đường tiểu thường dẫn đến các biến chứng như: viêm thận, bể thận cấp, áp xe quanh thận, suy thận cấp; những trường hợp nặng có thể gây viêm mủ đài bể thận, nhiễm trùng huyết và gây tử vong. Ở trẻ em có trào ngược dòng bàng quang niệu quản có thể gây nhiễm trùng thận và dẫn đến suy thận mãn tính; phụ nữ có thai bị nhiễm trùng tiểu có thể gây sinh non, sẩy thai, nhiễm trùng sơ sinh. Tại Mỹ hàng năm có khoảng 8 – 10 triệu người mắc bệnh nhiễm trùng tiểu.
Tại Việt Nam, số lượng bệnh nhân nhập viện chủ yếu là do các bệnh về nhiễm trùng trong đó nhiểm trùng tiểu là một trong các bệnh lý có số lượng điều trị nội trú cao nhất. Kháng sinh đóng vai trò rất quan trọng trong điều trị nhiễm trùng đường tiểu, nhưng việc sử dụng có hiệu quả kháng sinh vẫn chưa thống nhất và chưa được quan tâm đúng mức. Dù có sự phát triển mạnh các kháng sinh, nhưng bên cạnh đó, việc lạm dụng kháng sinh, sử dụng không đúng kháng sinh và tính đề kháng kháng sinh của vi khuẩn gây nhiễm trùng vẫn còn là mối lo ngại cho ngành điều trị và ngành sản xuất dược phẩm. SVTH: Nguyễn Quách Anh Duy 1 GVHD: ThS – BS Nguyễn Sử Minh Tuyết Luân Văn Tốt Nghiệp Đã có những công trình nghiên cứu về bệnh nhiễm trùng đường tiểu trên nhiều phương diện, đặc biệt là phương diện lâm sàng và điều trị, nhưng các công trình khảo sát về tác nhân vi sinh học và sự nhạy cảm của chúng với kháng sinh vẫn còn chưa nhiều.
Nhằm góp phần tình hình nhiễm trùng tiểu và sự đề kháng kháng sinh ở bệnh viện nhân dân Gia Định. Chúng tôi xin thực hiện đề tài: “Khảo sát tình hình đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây nhiễm trùng đường tiểu được phân lập trên các bệnh nhân điều trị tại bệnh viện nhân dân Gia Định từ tháng 02/2011 đến tháng 05/2011” Mục tiêu nghiên cứu: Thực hiện các kỹ thuật xét nghiệm vi sinh theo hướng thường quy chuẩn thức tại khoa Vi sinh – Bệnh viện Nhân Dân Gia Định nhằm: − Định danh vi khuẩn gây nhiễm trùng đường tiểu. − Xác định mức độ nhảy cảm và đề kháng kháng sinh đối với các sinh vật gây nhiễm trùng đường tiểu. SVTH: Nguyễn Quách Anh Duy 2 GVHD: ThS – BS Nguyễn Sử Minh Tuyết Luân Văn Tốt Nghiệp PHẦN I: TỔNG QUAN 1.
THUỐC KHÁNG SINH: [1, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 13, 14] 1. Kháng sinh có tác động chống lại sự sống của vi khuẩn, ngăn vi khuẩn nhân lên bằng cách tác động ở mức độ phân tử hoặc tác động vào một hay nhiều giai đoạn chuyển hóa cần thiết của đời sống vi khuẩn hoặc tác động vào sự cân bằng lý hóa. Kháng sinh có tác dụng đặc hiệu nghĩa là 1 loại kháng sinh sẽ tác động lên 1 hay 1 nhóm vi khuẩn nhất định. Do đó, thuốc kháng sinh không có cùng một hoạt tính như nhau đối với tất cả các loại vi khuẩn.[1, 8] Ngày nay, kháng sinh ngoài việc được trích ly từ động vật, thực vật, vi sinh vật còn có thể được bằng phương pháp hóa học.2 Phân loại: [1, 7, 8, 14] Dựa vào nguồn gốc của kháng sinh người ta chia ra làm 3 loại: − Kháng sinh tự nhiên: là những kháng sinh do vi sinh vật tiết ra rồi được tinh khiết (Penicillin, Streptomycin, Tetracycline…) − Kháng sinh bán tổng hợp: là kháng sinh có nguồn gốc tự nhiên nhưng được gắn thêm một hay vài gốc hóa học để thay đổi phổ kháng khuẩn hay dược lực – dược động (Ampicillin, mynocycline…) − Kháng sinh tổng hợp: là các hóa chất được tổng hợp hoàn toàn và có hiệu quả của kháng sinh (Sulfonamide, Quinolones, fluoroquinolones…) SVTH: Nguyễn Quách Anh Duy 3 GVHD: ThS – BS Nguyễn Sử Minh Tuyết Luân Văn Tốt Nghiệp Dựa trên tính đặc hiệu dược lý người ta xếp kháng sinh theo các họ như sau: − Nhóm β – Lactamines.3 Cơ chế tác động của kháng sinh: [1, 7, 8, 14] Hình 1.1: Cơ chế tác dụng của kháng sinh Ức chế sự thành lập vách tế bào: Bacitracin, Cephalosporins, Cycloserine, Penicillins, Rostocetin, Vancomycin.
Giai đoạn đầu của thuốc là gắn với trụ thể PBPs (Penicillinbinding protein) của tế bào. Sau khi gắn vào một hay nhiều thụ thể, thuốc sẽ SVTH: Nguyễn Quách Anh Duy 4 GVHD: ThS – BS Nguyễn Sử Minh Tuyết Luân Văn Tốt Nghiệp phong bế transpeptidase, làm ngăn chặn việc tổng hợp peptidoglycan, một thành phần quan trọng của vách tế bào. Giai đoạn tiếp theo có liên quan đến việc hoạt hóa enzyme tự tiêu (autolytic enzymes) gây ra sự ly giải của tế bào ở môi trường đẳng trương, trong môi trường ưu trương tế bào bị biến đổi thành protoblast hay spheroblast chỉ được bao bọc bởi một màng tế bào nên rất dễ vỡ. Ức chế tổng hợp protein: Chloramphenicol, Erythromycins, Lincomycins, Tetracyclines, Aminoglycosides.
Tùy loại kháng sinh sẽ có tác động khác nhau trong quá trình tổng hợp protein: làm vỡ các polysomes thành các monosomes không có khả năng tổng hợp protein, ngăn chặn các amino acid mới nối vào chuỗi peptide mới thành lập. Ức chế sự tổng hợp acid nucleic: Actinomycin, Mitomycin, Nalidixic acid, Novobiocin, Rifampin, Sulfonamides…Tùy loại kháng sinh sẽ có tác động khác nhau: actinomycin gắn vào DNA tạo nên một phức hợp, phức hợp này ức chế các polymerase tổng hợp RNA tương ứng; Nalidixic acid làm phong bế enzyme DNA gyrase.4 Sự kháng thuốc: [1, 7, 8] 1.1 Cơ chế đề kháng: − Vi khuẩn sản xuất enzyme để phá hủy hoạt tính của thuốc. − Vi khuẩn làm thay đổi tính thẩm thấu của màng tế bào đối với thuốc. − Điểm gắn của thuốc có cấu trúc bị đổi.
− Vi khuẩn thay đổi đường biến dưỡng làm mất tác dụng của thuốc. − Enzyme hoạt tính của vi khuẩn bị thay đổi.2 Nguồn gốc của việc kháng thuốc: 1.1 Nguồn gốc không do di truyền: SVTH: Nguyễn Quách Anh Duy 5 GVHD: ThS – BS Nguyễn Sử Minh Tuyết Luân Văn Tốt Nghiệp Sự nhân lên của vi khuẩn là yếu tố cần thiết cho những tác động của thuốc kháng sinh. Khi vi khuẩn vì lý do nào đó không nhân lên được và có thể trở thành kháng thuốc, nhưng những thế hệ sau có thể nhạy cảm trở lại. [7] Nguồn gốc không do di truyền còn do vi khuẩn mất điểm gắn đặc hiệu dành cho thuốc.2 nguồn gốc do di truyền: Phần lớn các vi khuẩn kháng thuốc là do thay đổi về mặt di truyền và là hậu quả của quá trình chọn lọc bởi thuốc kháng sinh.
Đề kháng do nhiễm sắc thể: do đột biến ngẫu nhiên của một đoạn gen kiểm soát tính nhạy cảm đối với một loại kháng sinh. Sự có mặt của thuốc được xem là một cơ chế chọn lọc, ức chế vi khuẩn nhạy cảm và tạo thuận lợi cho vi khuẩn đột biến kháng thuốc phát triển. Đột biến nhiễm sắc thể thông thường nhất là do thay đổi cấu trúc thụ thể dành cho thuốc. Đề kháng ngoài nhiễm sắc thể: yếu tố R là một lớp của plasmid mang những gen kháng 1 hay nhiều loại kháng sinh và những kim loại nặng.
Các gen này kiểm soát việc sản xuất những enzyme phá hủy thuốc.3 Sự kháng chéo: Vi khuẩn kháng với một loại thuốc nào đó cũng có thể kháng với những thuốc khác có cùng cơ chế tác động. Mối liên hệ như vậy thường gặp ở những thuốc có thành phần hóa học giống nhau, nhưng cũng có thể thấy giữa những thuốc không liên hệ về cấu trúc hóa học.4 Giới hạn kháng thuốc: Vấn đề kháng thuốc trong những bệnh nhiễm khuẩn có thể giảm thiểu bởi những cách sau: SVTH: Nguyễn Quách Anh Duy 6 GVHD: ThS – BS Nguyễn Sử Minh Tuyết Luân Văn Tốt Nghiệp − Duy trì liều lượng đủ cao để ức chế vi những vi khuẩn ban đầu lẫn những vi khuẩn đột biến. − Sự dụng đồng thời 2 loại thuốc không có phản ứng chéo, mỗi loại sẽ làm giảm thiểu những chủng đột biến đối với loại thuốc kia. − Không cho vi khuẩn quen thuốc có giá trị đặc biệt bằng cách hạn chế dùng.5 Nguy hiểm của việc sử dụng kháng sinh bừa bãi: − Quá mẫn, sốc phản vệ, nốt đỏ ngoài da, sốt, viêm gan ứ mật… − Che lấp tình trạng nhiễm khuẩn nặng mà không loại bỏ được vi khuẩn nên quá trình nhiễm khuẩn vẫn tiếp tục.
− Tác động trực tiếp do độc tính của thuốc, nhất là thuốc được sử dụng một thời gian dài. Phát triển của vi khuẩn kháng thuốc do loại bỏ vi khuẩn nhạy cảm.5 Tình hình đề kháng kháng sinh: [4, 7, 8, 14] Ngày nay, tỷ lệ kháng của vi khuẩn đối với kháng sinh gia tăng với tốc độ cao và không ngừng. Nhiều kháng sinh từ trước được xem là phương pháp hữu hiệu trong việc trị liệu thì nay một số đã trở nên vô tác dụng đối với vi khuẩn. Trước sự tấn công của vi khuẩn, các nhà bác học đã tìm ra nhiều loại kháng sinh hữu hiệu hơn, tiêu diệt được cả những loài vi khuẩn kháng thuốc.
Tuy nhiên một số loại chỉ sử dụng được trong khoảng thời gian ngắn thì đã bị một số vi khuẩn kháng thuốc. Những kháng sinh thuộc thế hệ thứ 3 như Cephalosporindines, thứ 4 như Aminoglycosides, Quinolones đều đã bị kháng từ 25 – 50 %.1 Trên thế giới: Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã báo động về nguy cơ vi khuẩn gây bệnh ngày càng kháng kháng sinh, tỷ lệ kháng có nơi lên đến 50 % với các loại kháng sinh thế hệ SVTH: Nguyễn Quách Anh Duy 7 GVHD: ThS – BS Nguyễn Sử Minh Tuyết Luân Văn Tốt Nghiệp mới. Rất nhiều hội nghị quốc tế trong và ngoài nước đã bàn thảo về vấn đề trên và tìm cách khắc phục. Theo một nghiên cứu khác năm 2002 trên 40 bệnh viện tại Tây Ban Nha, tỷ lệ E.coli sinh ESBL là 0 – 2,4 % có khả năng bất hoạt các cephalosporin phổ rộng như: Ceftriaxone, Cefotaxime, Ceftazidime.
Một nghiên cứu khác của Joshi SG năm 2002, cho thấy rằng tỷ lệ vi khuẩn gram âm kháng Ceftaxime là 25 – 75 %, Gentamycin là 23 – 69 %. Theo báo cáo của NNIS năm 2004, tỷ lệ kháng Cephalosporins thế hệ 3 của K.pneumoniae là 20,6 %, Enterobacter.