Đặt vấn đề Sản xuất (SX) ô tô, xe máy là một ngành kinh tế tổng hợp bao gồm nhiều ngành công nghiệp (CN) khác nhau như: SX vật liệu, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện; lai ghép các ngành CN cơ khí, CN điện, điện tử, công nghệ thông tin để có một sản phẩm hoàn chỉnh là ô tô, xe máy phục vụ cho SX và tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Những hoạt động sản xuất công nghiệp (SXCN) nhằm tạo ra sản phẩm ô tô, xe máy hoàn chỉnh được gọi là công nghiệp hỗ trợ (CNHT). Thực tiễn đã cho thấy, CNHT là động lực trực tiếp tạo nên giá trị gia tăng không chỉ cho ngành công nghiệp (CN) ô tô, xe máy mà còn cho các ngành kinh tế khác. Đối với nước ta, sự phát triển của ngành CN này không chỉ góp phần làm giảm nhập siêu, giảm sự phụ thuộc vào bên ngoài trong sản xuất (SX) sản phẩm hoàn chỉnh, mà còn tăng tính nội địa hóa sản phẩm, chủ động hơn trong các quan hệ thị trường, cạnh tranh để hội nhập quốc tế sâu hơn.
Trong thời gian qua, CNHT ngành ô tô xe máy ở Việt Nam đã hình thành và bước đầu có sự phát triển. Việt Nam đã và đang SX một số phụ tùng linh kiện, như: các chi tiết cấu thành khung gầm xe, thùng xe, vỏ ca-bin, cửa xe, săm lốp, bộ tản nhiệt, dây phanh, hệ thống dây dẫn điện trong ô tô, trục dẫn, vành bánh xe, nhíp lò xo, ống xả, ruột két nước, hộp số vô lăng, van điều khiển trong hộp số tự động, điều hòa khí trong động cơ, sơ mi xi-lanh, một số sản phẩm dùng hợp kim, gioăng đệm cao su, một số chi tiết bằng cao su và composit… Việc liên kết giữa cơ sở SX trong nước với các đối tác nước ngoài trong SX và cung ứng phụ tùng, linh kiện ô tô, xe máy đã có kết quả tích cực. Một số cơ sở CNHT trong nước đã vươn lên nhằm bảo đảm số lượng và yêu cầu chất lượng, trở thành nhà cung cấp phụ tùng linh kiện tin cậy cho các doanh nghiệp (DN) lắp ráp ô tô ở Việt Nam Thế nhưng CNHT ngành ô tô, xe máy của Việt Nam vẫn còn rất yếu kém. Điều này hạn chế khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp lắp ráp, cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Tỷ lệ nội địa hóa đối 2 với xe máy là 80% còn ô tô chỉ khoảng 20% trong đó: xe cá nhân đến 9 chỗ ngồi còn thấp, mục tiêu đề ra là 40% vào năm 2005, 60% vào năm 2010, tuy nhiên đến nay mới đạt bình quân khoảng 7 - 10%, trong đó Thaco đạt 15 - 18%, Toyota Việt Nam đạt 37% đối với riêng dòng xe Innova, thấp hơn mục tiêu đề ra. Trong khi hiện nay, tỷ lệ nội địa hóa của các nước trong khu vực trung bình đã đạt được 65 - 70%, Thái Lan đạt tới 80%. Một trong những lý do chính của sự thất bại này là vì CNHT cho ngành ô tô, xe máy gần như không phát triển. Việc đầu tư phát triển cho CNHT ô tô, xe máy là vấn đề cấp thiết được các cấp, các ngành, các doanh nghiệp ngày một quan tâm cả trên phương diện định hướng phát triển và dành vốn để triển khai.
Vì vậy, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Đầu tư phát triển CNHT trong ngành CN ô tô, xe máy: nghiên cứu tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghiệp Việt”. Với mục đích làm rõ thực trạng của ngành hiện nay cũng như đề xuất các giải pháp đầu tư phát triển. Mục tiêu nghiên cứu - Làm rõ cơ sở lý luận về đầu tư phát triển CNHT ngành CN ô tô, xe máy. - Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển CNHT trong ngành CN ô tô, xe máy nói chung và tại CNV Group.
- Đề xuất giải pháp đầu tư phát triển CNHT trong ngành CN ô tô, xe máy và tại CNV Group. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: CNHT cho ngành CN ô tô, xe máy tại Việt Nam và tại CNV Group - Phạm vi: + Về không gian: Đề tài nghiên cứu tập trung vào các DN trong nước và DN có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong ngành ở Việt Nam. Cụ thể nghiên cứu tại CNV Group. + Về thời gian: giai đoạn 2013 - 2018 3 1.
Phương pháp nghiên cứu - Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh các số liệu để làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng phát triển CNHT ngành SX ô tô, xe máy. - Sử dụng phương pháp: thống kê thực tiễn, các hình ảnh và bảng phân tích thành tự đạt được, những hạn chế và nguyên nhân - Phương pháp thu thập thông tin từ các hiệp hội, diễn đàn, hội thảo liên quan đến CNHT ngành SX ô tô, xe máy. - Sử dụng các phương pháp: tổng kết thực tiễn, các hình và bảng để rút ra những nhận định về thực trạng CNHT ngành SX ô tô, làm rõ mức độ đạt được, những hạn chế và nguyên nhân. - Tác giả thu thập thông tin từ nhà quản lý, hiệp hội, DN, kỹ sư, chuyên gia… theo những chủ đề liên quan đến từng khía cạnh liên quan đến CNHT ngành SX ô tô, xe máy ở Việt Nam nhằm phục vụ cho chủ đề nghiên cứu.
- Tham khảo các quyết định, đường lối, chính sách, pháp luật, đề tài khoa học, báo cáo liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài. Ngoài ra, tham khảo nội dung kết quả các công trình có nội dung liên quan đã công bố. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến ngành CNHT trong ngành công nghiệp ô tô, xe máy 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1.
Các nghiên cứu về vai trò, mô hình phát triển và các giải pháp chính sách để phát triển CNHT ô tô, xe máy - Báo cáo: “Automotive and components market in Asia”, của tác giả Paul Brough. Báo cáo nghiên cứu thị trường trọng điểm về ô tô và linh kiện hỗ trợ ở châu Á bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ và Thái Lan, dự báo thị trường châu Á - Thái Bình Dương sẽ tăng trưởng mạnh dưới tác động của Hiệp định thương mại tự do (FTA) đến ngành SX ô tô đòi hỏi nhiều công ty phải thay đổi chiến lược của mình. - Tác giả Kim Hill trong cuốn: “Contribution of the Automotive Industry to the Economies of All Fifty States and the United States”, nghiên cứu về đóng góp của ngành CN ô tô đối với các bang và nền kinh tế Mỹ. Theo tác giả, ngành CN ô tô là 4 một trong những ngành CN quan trọng nhất ở Hoa Kỳ.
Hàng năm, nó đóng góp 3 - 3,5% vào GDP; lượng lao động sử dụng lên tới tên 1,7 tỷ người. Do đó, Ngành CN ô tô đóng góp vài trò quan trọng vào tăng trưởng kinh tế ở Hoa Kỳ. - Cuốn: “Value chains, networks and clusters: reframing the global automotive industry” của Timothy Sturgeon và các đồng nghiệp phân tích về chuỗi giá trị, mạng lưới và các cụm về tái định hình ngành CN ô tô toàn cầu. Trong đó, chỉ ra các xu hướng gần đây trong ngành CN ô tô toàn cầu, đặc biệt chú ý đến trường hợp của Bắc Mỹ, nổi lên là tái cơ cấu để phát triển CNHT của ngành CN này.
- Cuốn: “The comprrtitive of nations, Harvard business review” của M.Porter, đã chỉ ra rằng CNHT là một trong năm yếu tố tạo ra lợi thế cạnh tranh của một quốc gia, để sản phẩm có sức cạnh tranh thì quốc giá đó phải có nền tảng CNHT phát triển đáp ứng được nhu cầu lắp ráp sản phẩm cuối cùng. - Mahipat Ranawat và Rajnish Tiwari trong “Influence of Government Policies on Industry Development: The Case of India's Automotive Industry”, tác giả phân tích ảnh hưởng của các chính sách của chính phủ đối với phát triển CN, trường hợp CN ô tô của Ấn Độ. Các chính sách của chính phủ đã tác động đến sự phát triển vượt trội của ngành CN ô tô Ấn Độ trong 50 năm qua với 4 giai đoạn: Giai đoạn đầu (1947- 1965) và thứ hai (1966-1979), đưa ra các quy định của ngành nhằm bảo vệ, bản địa hóa việc SX. Nhưng, việc nội địa hóa không đạt được mong muốn.
Giai đoạn thứ ba (1980-1990), chính phủ áp dụng chính sách mua lại công nghệ để SX, nhưng không hiệu quả do bị cạnh tranh bởi các đối thủ nước ngoài. Cuối cùng, trong giai đoạn thứ tư (1991 trở đi) có chính sách tự do hóa đối với đầu tư nước ngoài. Nhờ đó đã tác động mạnh đến phát triển ngành CN ô tô Ấn Độ như ngày nay. Việt Nam có thể tham khảo các chính sách nội địa hóa của Ấn Độ để tìm các ra các giải pháp phù hợp áp dụng.
- Kaoru Natsuda, John Thoburn, trong: “Industrial Policy and the Development of the Automotive Industry in Thailand”, nghiên cứu về Chính sách CN và sự phát triển của ngành CN ô tô ở Thái Lan. Trong đó, xác định Thái Lan là nước phát triển ngành CN ô tô thành công nhất trong khu vực ASEAN, đã trở thành 5 đã “nhà sản xuất” xe lớn trên thế giới trong những năm gần đây. Để đạt được thành tựu như vậy Thái Lan đã áp dụng mô hình thay thế nhập khẩu bằng việc nội địa hóa sản xuất, tăng cường năng lực nội địa hóa, sau đó chuyển sang giai đoạn tự do hóa và tạo ra khả năng cạnh tranh quốc tế. Chính phủ thực hiện chính sách “xóa bắt buộc” việc nhập khẩu đối với các nhà lắp ráp ô tô, nhờ đó tỷ lệ nội địa hóa của Thái Lan đang đạt trên 80%.
Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm này của Thái Lan để phát triển CNHT ngành ô tô hướng tăng cường nội địa hóa sản phẩm. Các công trình khoa học trong nước liên quan đến CNHT ô tô, xe máy. - “Phát triển công nghiệp hỗ trợ trong ngành ô tô để đáp ứng nhu cầu của các DN lắp ráp ô tô tại Việt Nam (tập trung nghiên cứu các DN tại Nhật Bản)”, luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Thị Huế, phân tích mô hình phát triển, kinh nghiệm phát triển CN ô tô ở Nhật Bản, thực tiễn các công ty lắp ráp ô tô FDI tại Việt Nam, đề xuất giải pháp phát triển CNHT đáp ứng nhu cầu của các công ty lắp ráp ô tô. Luận văn tập trung vào thực trạng nhu cầu của các DN lắp ráp để đưa ra giải pháp cho doanh nghiệp sản xuất sản phẩm CNHT, chưa nghiên cứu được các vấn đề thực tiễn khó khăn mà các DN sản xuất CNHT gặp phải để đưa ra những giải pháp từ những hạn chế đó.