Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN Nếu trước đây, câu chỉ được nghiên cứu ở mặt cấu trúc ngữ pháp thì nay, nó được tìm hiểu ở cả ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng. Sở dĩ như vậy là vì, xuất phát từ sự nghiên cứu về tín hiệu, người ta thấy rằng mỗi tín hiệu cần được xem xét trên ba bình diện: kết học, nghĩa học, dụng học. Mà ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu quan trọng bậc nhất trong các hệ thống tín hiệu được con người sử dụng và câu nói chung, danh từ nói riêng là sản phẩm được tạo ra bởi sự kết hợp các tín hiệu ngôn ngữ với nhau theo những quy tắc nhất định nên nó cũng cần được nghiên cứu trên ba bình diện: kết học, nghĩa học, dụng học. Nhìn nhận danh từ chỉ đơn vị tự nhiên trong thơ văn Hàn Mặc Tử từ ba bình diện, luận văn sẽ áp dụng một số vấn đề lí thuyết có liên quan sau: 1.
Danh từ và tiểu loại danh từ chỉ đơn vị trong tiếng Việt 1. Danh từ tiếng Việt Có rất nhiều tiêu chí để phân định hệ thống từ loại tiếng Việt đã được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đưa ra. Ở đây chúng tôi đi theo quan điểm phổ biến hiện nay là phân định từ loại tiếng Việt dựa trên ba tiêu chí sau đây: - Ý nghĩa khái quát: “Ý nghĩa từ loại là ý nghĩa khái quát của từng lớp từ, trên cơ sở khái quát hóa từ vựng thành khái quát hóa phạm trù ngữ pháp chung (phạm trù từ vựng - ngữ pháp). Khái quát hóa từ vựng thành khái quát ngữ pháp, là bước chuyển tiếp tự nhiên đi từ từ vựng đến ngữ pháp (…), bởi vì trong thực tế nó xuất hiện bằng cách khái quát hóa và trừu tượng hóa các ý nghĩa từ vựng như là một phạm trù phân loại (…).
Các từ loại đều phù hợp với định nghĩa của các phạm trù phân loại. Đó là những nhóm từ rất to lớn về khối lượng mà mỗi nhóm có một đặc trưng phân loại: Tính vật thể, phẩm chất, hành động hoặc trạng thái, v. [43; tr 244 - 259] - Khả năng kết hợp: 13 Các từ có khả năng tham gia vào một kết hợp có nghĩa: Ở mỗi vị trí của kết hợp có thể xuất hiện những từ có khả năng lần lượt thay thế nhau, trong khi đó, ở các vị trí khác trong kết hợp, các từ còn lại tạo ra bối cảnh cho sự xuất hiện khẳ năng thay thế của những từ nói trên. [34; tr 86] - Chức vụ cú pháp: Tham gia vào cấu tạo câu, các từ có thể đứng ở một hay một số vị trí nhất định trong câu, hoặc có thể thay thế nhau ở vị trí đó, và cùng biểu thị một mối quan hệ về chức năng cú pháp với các thành phần khác trong cấu tạo câu, có thể phân vào một từ loại.
(…) Tiêu chuẩn chức năng cú pháp ít ổn định hơn so với tiêu chuẩn ý nghĩa và khả năng kết hợp. Nói cách khác, một chức vụ ngữ pháp cụ thể, có thể do các từ thuộc các từ loại khác nhau đảm nhiệm, như: chủ ngữ có thể là danh từ, ngữ danh từ, là đại từ; vị ngữ có thể là động từ, ngữ, danh từ, ngữ tính từ… Theo đó, đặc trưng của danh từ tiếng Việt được nhận định theo 3 tiêu chí trên. Cụ thể là: * Ý nghĩa ngữ pháp khái quát: Ý nghĩa ngữ pháp khái quát của danh từ là ý nghĩa thực thể (hay nội dung ý nghĩa từ vựng có tính vật thể). Hiểu theo nghĩa rộng, ý nghĩa thực thể là ý nghĩa chỉ sự vật, chỉ khái niệm về sự vật và những gì được “sự vật hóa”.
Danh từ biểu thị mọi “thực thể” tồn tại trong thực tại, được nhận thức và được phản ánh trong tư duy của người bản ngữ như là những sự vật. * Khả năng kết hợp - Danh từ có khả năng kết hợp với đại từ chỉ định: Này, kia, ấy, nọ v.v… (nhà kia, thắng lợi này, việc nọ, cuốn ấy v.v…) - Danh từ còn có khả năng kết hợp trực tiếp hay gián tiếp với số từ (số từ xác định: một, hai, ba…, số từ phỏng định: vài, dăm, mươi…) hay phụ từ chỉ lượng (những, các, mọi, mỗi…). 14 * Chức vụ cú pháp Danh từ có đầy đủ chức năng cú pháp của thực từ. Trong mối quan hệ với động từ, tính từ, nét riêng của danh từ là ít được dùng làm vị ngữ trực tiếp sau chủ ngữ của câu.
Thông thường, trong câu, danh từ thường đảm nhận những chức vụ ngữ pháp sau: - Làm chủ ngữ: Đây là chức năng tiêu biểu nhất của danh từ. VD: Cô giáo // giảng bài. CN VN - Làm vị ngữ: Danh từ không làm vị ngữ trực tiếp, khi làm vị ngữ phải thông qua quan hệ từ “là”. VD: Tôi (là) học viên.
CN (là) VN - Làm trạng ngữ: VD: Cánh đồng, cò đậu trắng xóa. Danh từ chỉ đơn vị trong tiếng Việt 1. Đặc trưng của lớp danh từ chỉ đơn vị trong tiếng Việt Đây là một tiểu loại danh từ rất đa dạng trong tiếng Việt, bao gồm những lớp từ không thuần nhất nhưng lại có những đặc trưng riêng : Bảng 1. Nghĩa khái quát, ngữ pháp của từ loại Về nghĩa Từ loại Về ngữ pháp khái quát - Kết hợp trực tiếp, vô điều kiện với mọi từ chỉ số lượng.
- Là những Danh từ chỉ VD: một chiếc, mỗi hộ, hai kilômét… từ chỉ sự đơn vị - Kết hợp với từ chỉ toàn bộ như: cả tỉnh, cả ngày… vật, thực (chiếc, con, - Kết hợp với từ “cái” chỉ xuất. thể mang thằng, VD: cái con mèo ấy… nghĩa đơn cuộc, bó…) - Kết hợp với với một số tiểu nhóm danh từ khác ở phía vị. VD: Cái thước, chiếc dép. Các nhóm danh từ chỉ đơn vị Nhóm danh từ trong tiếng Việt có thể chia thành nhiều tiểu loại: * Nhóm danh từ chỉ tổ chức, địa lý bao gồm những từ như: đoàn, xã, khoa, trường, lớp, viện… * Nhóm danh từ chỉ đơn vị mang ý nghĩa tập hợp: bầy, lũ, đàn, khóm, bạn, tụi… * Danh từ chỉ đơn vị tính toán quy ước: lít, miếng, tấm, khúc, lọ, bát, chai, nắm, vốc, hũ… * Danh từ đơn vị, chỉ phạm vi, khoảng thời gian và không gian: vùng, miền, khoảnh, nơi, chỗ… * Danh từ chỉ đơn vị có ý nghĩa chỉ số lần của hoạt động, sự việc: chuyến, phen, cơn, đợt, trận… * Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên (loại từ) : cái, chiếc, quyển, ngôi, đứa, bác, con… Như vậy, danh từ chỉ đơn vị tự nhiên (loại từ) nằm trong cùng một hệ hình ngữ pháp với những từ chỉ đơn vị.
Loại từ tiếng Việt tồn tại hòa lẫn vào khối chung của lớp từ chỉ đơn vị. Do vậy, ta thấy được một đặc điểm cơ bản của loại từ là đặc điểm chỉ đơn vị. Nhưng chính điều này đã gây nên một sự nhầm lẫn giữa loại từ (tức danh từ chỉ đơn vị tự nhiên) với các từ chỉ đơn vị khác, đặc biệt là nhóm danh từ chỉ đơn vị quy ước. Ở mục sau, chúng tôi sẽ đi vào lí giải vấn đề này.
Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên a) Về cách phân loại * Căn cứ vào danh từ đi sau, có thể chia danh từ chỉ đơn vị tự nhiên thành ba nhóm nhỏ: - Nhóm từ chỉ người: đứa, thằng, tên… - Nhóm từ chỉ vật thể (đồ đạc): cái, chiếc… - Nhóm từ chỉ động vật, thực vật: con, cây, quả… * Căn cứ vào chức năng và cách dùng thì lại có thể chia thành: 16 - Những danh từ chỉ đơn vị tự nhiên “chuyên biệt”: Là những từ ở bất cứ hoàn cảnh ngôn ngữ nào cũng chỉ dùng với tư cách là danh từ chỉ đơn vị tự nhiên (loại từ), ngoài chức năng đó ra, nó không còn chức năng nào khác: đứa, thằng, con, cái… - Những danh từ chỉ đơn vị tự nhiên “lâm thời”, là những từ thường dùng với tư cách là danh từ bình thường, chỉ trong một số văn cảnh nhất định chúng mới được dùng như danh từ loại thể: người, anh, chị, cây, quả… b) Về ý nghĩa ngữ pháp khái quát, khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp Bảng 1. Ý nghĩa ngữ pháp, khả năng kết hợp, đảm nhận chức năng ngữ pháp của danh từ đơn vị tự nhiên Ý nghĩa ngữ pháp Khả năng kết hợp Khả năng đảm nhận chức năng ngữ pháp khái quát Là - Kết hợp với tất cả a) Làm thành phần câu: những từ những từ chỉ lượng ở - Làm chủ ngữ: chỉ rõ phía trước như: “những”, VD: dạng tồn “mỗi”, “từng”, “hai”, (1) Con thì đứng, con thì nằm. tại tự “ba”, “cả”, “nửa”… (2) Quyển này cũ quá! nhiên của VD: nửa con, cả cái, một (3) Chiếc này được đấy! sự vật, chiếc, những quyển… - Làm vị ngữ: chúng - Kết hợp với các từ chỉ Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên không có khả vừa có ý định “này”, “kia”, năng tự mình trực tiếp làm vị ngữ mà phải đi nghĩa chỉ “ấy”… ở phía sau. cùng với tác tử cú pháp như: “thì”, “mà”, “là” đơn vị VD: Cái ấy, chiếc này, VD: (1) Đây thì quyển, kia thì chiếc.
vừa có ý con nọ… (2) Nào là đứa, nào là thằng. nghĩa chỉ - Kết hợp với các từ nghi - Làm bổ ngữ: loại. vấn hàm ý xác định: Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên làm bổ ngữ trong “nào”, “gì”… những trường hợp sau: VD: quyển gì? tấm nào? + Người nói (viết) cần xác định đối tượng cụ cái gì? thể. 17 - Kết hợp với danh từ VD: Nó // mua cây này.
Khả + Khi cần bổ sung ý nghĩa về lượng năng kết hợp với danh từ VD: Nó mua một cây. loại thể là đặc điểm khu + Khi cần bổ sung ý nghĩa về loại: biệt giữa danh từ biệt VD: Nó mua cây mai. loại và danh từ không + Khi cần bổ sung ý nghĩa về lượng, ý nghĩa biệt loại. về loại: VD: con mèo, cái bút, VD: Nó mua một cây mai.
ngôi nhà, người bác, tấm + Khi cần bổ sung ý nghĩa xác định và ý ảnh, bức thư… nghĩa về lượng. - Đứng độc lập trong câu VD: Nó mua một cây này. (sau lượng từ hoặc không + Khi cần bổ sung ý nghĩa xác định, ý nghĩa có lượng từ - trong khi về lượng, ý nghĩa về loại. không có cả danh từ đi VD: Nó mua một cây mai này.
theo nhưng cái được b) Về khả năng làm thành tố trong danh ngữ: danh từ biểu thị đã được Có ba ý kiến như sau: báo trước). + Coi danh từ chỉ đơn vị tự nhiên là thành tố VD: chính trong danh ngữ. 1) Cặp, tôi có hai cái.