Mở đầu: Lý do chọn đề tài Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Đối tƣợng, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo 4. Quá trình làm luận văn Quá trình làm luận văn đã đƣợc thực hiện theo các bƣớc nhƣ sau: - Tìm hiểu chủ đề. - Thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp. - Phân tích các tài liệu, số liệu thứ cấp.
- Đi thực địa, điều tra, phỏng vấn: thực hiện phỏng vấn các nhà quản lý (Bộ GTVT, Bộ TN&MT, Ban QLDA đƣờng Hồ Chí Minh), các chuyên gia tƣ vấn lập dự án đầu tƣ, lập báo cáo ĐTM, và các bên liên quan khác. - Xử lý phân tích số liệu thực địa: với các thông tin, số liệu thu thập đƣợc ở dạng thô, tác giả đã phân tích, tổng hợp lại và kiểm chứng so sánh với các thông tin chính thức trong các tài liệu của dự án đã công bố nhằm tăng tính thuyết phục của các nhận định đã đƣa ra. - Tập hợp lại số liệu, thông tin và tiến hành viết luận văn. - Trao đổi, thảo luận với thầy hƣớng dẫn, chỉnh sửa bổ sung các nội dung còn chƣa hoàn chỉnh và hoàn thiện luận văn.
- Thời gian: từ 8/2010 đến 11/2010. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về sự đánh đổi, quá trình ra quyết định thực hiện dự án phát triển 1. Khái niệm và các loại hình đánh đổi (trade-off) a.
Khái niệm Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về đánh đổi (Trade-offs) từ các lĩnh vực, văn hoá và bối cảnh xã hội khác nhau. Trade-offs đƣợc định nghĩa nhƣ là sự đánh đổi/sự lựa chọn tối ƣu/sử dụng khôn ngoan/sử dụng hợp lý (CRES, 2007). Theo nghiên cứu của dự án ACSC, trade-offs không chỉ là ngƣời đƣợc - mất, nó đƣợc định nghĩa nhƣ một loạt sự lựa chọn về quản lý làm thay đổi tính đa dạng, chức năng và dịch vụ mà hệ sinh thái cung cấp theo không gian và thời gian (ACSC, 2007). Tuy nhiên, các lĩnh vực khoa học và các chuyên gia hiểu biết về đánh đổi cũng có những cách tiếp cận là khác nhau.
Theo Báo cáo tổng quan về quá trình ra quyết định về bảo tồn và phát triển ở Việt Nam thuộc dự án “Xúc tiến bảo tồn trong bối cảnh xã hội vận hành trong thế giới của sự đánh đổi” do Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trƣờng- Đại học Quốc gia thực hiện năm 2009 có nêu ra quan điểm khác biệt về cách hiểu “sự lựa chọn giữa bảo tồn và phát triển” nhƣ sau: Nhóm Sinh thái cho rằng sự lựa chọn giữa bảo tồn và phát triển là sự lựa chọn về phƣơng thức quản lý. Theo nhóm xã hội, „sự lựa chọn giữa bảo tồn và phát triển‟ đƣợc định nghĩa là sự đánh đổi giữa lợi ích lâu dài và lợi ích ngắn hạn; là sự hy sinh lợi ích của nhóm ngƣời này cho lợi ích của nhóm ngƣời khác; là sự hy sinh quyền lợi kinh tế cho lợi ích bảo tồn. Hay nói cách khác là sự đánh đổi giữa loại lợi ích này và loại lợi ích khác. 5 Nhóm thể chế cho rằng trade-offs là sự lựa chọn, hợp lý, hiệu quả khi định hƣớng giải quyết một vấn đề nào đó có liên quan, là sự đánh đổi cái đƣợc và cái mất khi thực hiện hoạt động phát triển.
Các loại hình đánh đổi (trade-offs) Cũng theo nghiên cứu của dự án ACSC các loại hình về đánh đổi ở Việt Nam qua các thời kỳ bao gồm các loại đƣợc liệt kê ở bảng 1.1 dƣới đây: Bảng 1. Các loại hình đánh đổi qua các thời kỳ ở Việt Nam Loại hình 1960 – 1975 1976 - 1985 1986 - nay Tăng GDP và tăng độ che phủ rừng X XXX Tăng GDP và suy thoái tài nguyên X XXX Phát triển thủy điện, mất đất, di dân và XXX XXX mất đa dạng sinh học Di dân, khai hoang, mất sinh cảnh XXX X XXX Mở rộng VQG và sinh kế của ngƣời dân XXX Phát triển cà phê, cao su và mất rừng XXX Nuôi tôm và mất rừng ngập mặn XXX Phát triển công nghiệp, ô nhiễm và mất XXX đa dạng sinh học Phát triển cơ sở hạ tầng và mất đa dạng XXX sinh học Nguồn: dự án ACSC, 2009. Ghi chú: X chỉ mức độ từ thấp (X) đến cao (XXX) Liên quan đến lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam, liên quan đến quá trình ra quyết định. Những phản biện và tham vấn về “đánh đổi” của các chính sách 6 phát triển xã hội của nhà nƣớc trong hai thập kỷ qua bao gồm những loại hình trade- offs phổ biến nhƣ sau: Quy hoạch, thành lập khu bảo tồn, vƣờn quốc gia và sinh kế, định cƣ của ngƣời dân địa phƣơng; Can thiệp, xâm lấn ranh giới và chuyển đổi mục đích sử dụng đất của VQG, khu bảo tồn để xây dựng cơ sở hạ tầng nhƣ đƣờng Hồ Chí Minh (đi qua VQG Cúc Phƣơng, Phong Nha-Kẻ Bàng, Chƣ Yang Sin,.), đề xuất xây dựng khu nghỉ dƣỡng – giải trí ở VQG Tam Đảo; Khai thác khoáng sản và quặng ngay sát hoặc trong ranh giới của VQG nhƣ khai thác đá xây dựng ở VQG Phong Nha-Kẻ Bàng, khai thác vàng ở VQG Vũ Quang, Sông Thanh, khai thác quặng wolfram ở VQG Chƣ Mom Rây; Chính sách an ninh năng lƣợng – phát triển các dự án thủy điện và mất rừng; Chính sách di dân, tái định cƣ, phát triển cây công nghiệp trên diện rộng (cà phê) và phá rừng ở Tây Nguyên; Chính sách đóng cửa rừng, chuyển đổi lâm trƣờng (khai thác) sang khu bảo tồn hoặc quản lý các rừng phòng hộ; Chính sách giao đất, giao rừng và giao khoán quản lý bảo vệ rừng; Quản lý buôn bán động thực vật hoang dã và nuôi nhốt động vật hoang dã, điển hình là hổ, gấu; Những chi phí môi trƣờng – sinh thái chƣa đƣợc bóc tách khi tính GDP của quốc gia; Phát triển giao thông và bảo tồn đa dạng sinh học; Phát triển năng lƣợng (thủy điện, nhiệt điện, đƣờng dây tải điện Bắc – Nam) và bảo tồn đa dạng sinh học.
Bảo tồn và sự lựa chọn giữa bảo tồn và phát triển ở Việt Nam a) Sự thay đổi về cơ cấu chính trị, xã hội, kinh tế ảnh hƣởng đến việc ra các quyết định của Việt Nam từ khi đất nƣớc bắt đầu đổi mới (từ 1986-nay) Các nghiên cứu của Dự án “Xúc tiến bảo tồn trong bối cảnh xã hội vận hành trong thế giới của sự đánh đổi” (CRES 2009), cho thấy: do nhu cầu khai thác tài nguyên nhằm phục vụ phát triển kinh tế, tài nguyên rừng suy thoái nghiêm trọng. Năm 1943, độ che phủ của rừng còn 44% thì đến những năm 1990s còn gần 20% (Poffenberger, 1998). Gần đây do các chƣơng trình trồng rừng của nhà nƣớc, diện tích rừng phục hồi khá cao, song chất lƣợng rừng nghèo nàn (Trần Đình Nghĩa, 2006). Trung bình hàng năm có 1,5% diện tích rừng bị chặt phục vụ các hoạt động phát triển (O‟rourke (2005) trích dẫn tài liệu của EIU).
Nghiên cứu của Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ƣơng và Khoa Kinh tế, Đại học Copenhagen (2008) có mô tả là tại các nƣớc nghèo tỉ trọng tài nguyên thiên nhiên trong tổng của cải cao hơn ở các nƣớc phát triển. Tại Việt Nam, giá trị tài nguyên thiên nhiên cũng chiếm tỉ trọng cao: đất và chăn nuôi là 36% và 16%, tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là than, dầu mỏ, v. 38%, tài nguyên rừng 10%. Do mức khai thác cao, nguồn tài nguyên đối mặt với nguy cơ suy thoái, cạn kiệt.
Theo báo cáo năm 2002 của Ngân hàng Thế giới, kể từ năm 1999 trở đi, hàng năm mức độ đốn rừng để xẻ gỗ đƣợc ƣớc tính là 2 triệu m3. Sau gần 20 năm đổi mới và phát triển nông nghiệp, Việt Nam mất đi 2 tỷ tấn đất/năm (nguyên nhân chính yếu là do việc phá rừng) hay tính trung bình đất bị xói mòn tùy theo vùng và đã thất thoát từ 50 - 3,200 tấn/mẫu/năm, ảnh hƣởng đến 70% diện tích trên toàn quốc (Mai Thanh Truyết, 2005). Những thay đổi nổi bật của Việt Nam từ 1962 đến nay có thể nói gọn là: kinh tế tăng trƣởng, xã hội tiến bộ, thể chế trong quản lý tài nguyên thiên nhiên thay đổi về cơ bản song môi trƣờng / tài nguyên phải đối mặt với nhiều thách thức. b) Tổng quan mối quan hệ giữa đánh đổi và bảo tồn ở Việt Nam Sau gần 20 năm Đổi mới, kinh tế Việt Nam đã đạt đƣợc thành tựu đáng kể với mức độ tăng trƣởng khả quan.
Theo nhận định của chính phủ, tốc độ tăng 8 trƣởng kinh tế nƣớc ta về cơ bản năm sau đều tăng hơn năm trƣớc và sự tăng đó đã diễn ra liên tục từ năm 1986 đến nay (Đảng Cộng Sản Việt Nam, 2007). Với mức tăng trƣởng cao và tƣơng đối ổn định, Việt Nam đã trở thành nƣớc có nền kinh tế đứng thứ hai trong khu vực Đông Nam Á có mức phát triển cao. Mức tăng trƣởng GDP với tốc độ khá cao và tƣơng đối ổn định trên đây đã khiến cho nền kinh tế Việt Nam trở thành nền kinh tế đứng thứ hai khu vực Đông Á và kể cả trên thế giới, nghĩa là chỉ sau Trung Quốc về thành tựu tốc độ tăng trƣởng GDP trong suốt hơn hai thập niên vừa qua. Quy mô tổng sản phẩm trong nƣớc (GDP) của nƣớc ta năm 2005 đã đạt 838 nghìn tỷ đồng, gấp đôi so với năm 1995, nâng GDP bình quân đầu ngƣời cùng năm 2005 đã đạt tới mức khoảng 10 triệu đồng, tƣơng đƣơng với 640 USD (Đảng Cộng Sản Việt Nam, 2007).
Cũng theo báo cáo của Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), có sự lệch pha rõ ràng giữa tốc độ tăng trƣởng và chất lƣợng môi trƣờng, và cái giá phải trả cho tăng trƣởng không nhỏ. Chi phí bảo vệ môi trƣờng có thể sẽ tiêu hết những thành quả có đƣợc từ tăng trƣởng kinh tế. Trong khi đó năng lực kiểm soát môi trƣờng của chúng ta không theo kịp sự phát triển. Một ví dụ cụ thể gần đây nhất là việc công ty Vedan Việt Nam đổ nƣớc thải làm ô nhiễm sông Thị Vải thông qua một hệ thống đƣờng ống tống nƣớc thải độc hại sau sản xuất xuống sông từ năm 1994.
Về vụ việc này, Chủ tịch nƣớc Nguyễn Minh Triết đã nhấn mạnh: Vụ việc Công ty Vedan đổ nƣớc thải làm ô nhiễm sông Thị Vải là bài học đắt giá đối với cơ quan quản lý cũng nhƣ các cơ sở công nghiệp (Vietnamnet, 2008).