Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Hậu Giang nằm ở vị trí trung tâm của vùng Đồng bằng sông Cửu Long với tổng diện tích tự nhiên đạt 160.058,69 ha, chiếm khoảng 4% diện tích toàn vùng và 0,4% diện tích cả nước. Hệ thống tài nguyên nước mặt của địa phương vô cùng phong phú khi sở hữu mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt có tổng chiều dài trên 2.300 km, mật độ dòng chảy trung bình đạt từ 1,5 đến 2,0 km/km2. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của các ngành kinh tế, đô thị hóa và tiểu thủ công nghiệp đã tạo ra áp lực to lớn lên môi trường thủy vực. Theo kết quả điều tra diện rộng trên địa bàn, có tới 39 trên tổng số 125 cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp thuộc danh mục gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do trực tiếp xả nước thải chưa qua xử lý đạt chuẩn vào nguồn tiếp nhận. Chỉ số nhu cầu oxy sinh hóa BOD5 tại nhiều tuyến kênh đo được ở mức 12,62 mg/l, trong khi nồng độ vi sinh Coliform vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tới 4,51 lần.

Trước thực trạng suy giảm chất lượng nước mặt nghiêm trọng, đề tài nghiên cứu đã đặt ra mục tiêu tổng quát là đánh giá toàn diện tải lượng các nguồn thải hữu cơ, phân tích hiện trạng và mô phỏng khả năng chịu tải ô nhiễm của mạng lưới sông rạch chính, từ đó xây dựng các giải pháp khoa học nhằm bảo vệ và quản lý bền vững tài nguyên nước mặt tỉnh Hậu Giang. Phạm vi nghiên cứu bao trùm 7 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh, dựa trên chuỗi dữ liệu thủy văn và môi trường giai đoạn 2006 – 2011, đồng thời xây dựng kịch bản dự báo chất lượng nước đến năm 2015 và tầm nhìn năm 2020. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp bộ công cụ định lượng hỗ trợ các nhà quản lý cắt giảm ít nhất 30% đến 50% lượng chất ô nhiễm hữu cơ xả vào các lưu vực nhạy cảm, đồng thời nâng cao độ chính xác trong công tác thẩm định 100% hồ sơ đánh giá tác động môi trường và cấp phép xả nước thải vào nguồn tiếp nhận.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết sức tải môi trường (Environmental Carrying Capacity) và phương pháp xác định Tổng tải lượng tối đa ngày (TMDLs - Total Maximum Daily Loads) được quy định trong Đạo luật Nước sạch CWA năm 1972 của Cơ quan Bảo vệ Môi sinh Hoa Kỳ (USEPA). Về mặt bản chất khoa học, khả năng chịu tải của nguồn nước là lượng chất ô nhiễm lớn nhất mà thủy vực có thể tiếp nhận từ các nguồn thải điểm và phân tán mà vẫn duy trì chất lượng nước đạt quy chuẩn kỹ thuật theo mục đích sử dụng. Công thức tổng quát được xác lập: TMDLs = LC = tổng WLAs + tổng LAs + MOS, trong đó WLAs đại diện cho tải lượng cho phép từ các nguồn thải điểm cố định, LAs là tải lượng phân bổ cho các nguồn thải phân tán không điểm, và MOS là hệ số an toàn tính toán nhằm bù trừ cho những biến động thủy văn theo mùa.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết thủy lực dòng chảy hở một chiều không ổn định dựa trên hệ phương trình vi phân Saint-Venant kết hợp với phương trình truyền tải - khuếch tán chất Advection-Dispersion. Mô hình lý thuyết phân loại chất lượng nước theo chỉ số WQI (Water Quality Index) theo quy định của Tổng cục Môi trường và QCVN 08:2008/BTNMT cũng được áp dụng nhằm lượng hóa mức độ sạch của nguồn nước thành các thang đo từ rất tốt, tốt, trung bình, xấu đến rất xấu. Ba khái niệm then chốt xuyên suốt đề tài gồm: khả năng tự làm sạch của dòng chảy tự nhiên, tải lượng ô nhiễm hữu cơ đặc trưng bởi BOD5 và COD, cùng cơ chế lan truyền chất ô nhiễm trong điều kiện thủy triều bán nhật triều không đều phức tạp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng kết hợp giữa chuỗi số liệu quan trắc lịch sử 5 năm liên tục từ 2006 đến 2010 và đợt khảo sát đo đạc thực địa chuyên sâu. Cỡ mẫu nghiên cứu được thiết lập bao gồm 30 mặt cắt đo đạc thủy văn liên tục 24 giờ kết hợp lấy mẫu chất lượng nước mặt ký hiệu từ NM01 đến NM30 tại các nhánh sông, kênh rạch trọng điểm vào tháng 4 năm 2011 (thời điểm dòng chảy kiệt nhất trong năm). Đồng thời, nhóm tác giả tiến hành lấy và phân tích 60 mẫu nước thải đặc trưng phát sinh từ các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở chế biến thủy hải sản, cơ sở chăn nuôi và khu dân cư đô thị tập trung. Phương pháp chọn mẫu phân tầng không gian được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho toàn bộ 7 đơn vị hành chính và bao quát các vùng thủy văn chịu tác động của sông Hậu và sông Cái Lớn.

Về phương pháp phân tích, nghiên cứu ứng dụng bộ mô hình toán chuyên dụng MIKE 11 do Viện Thủy lực Đan Mạch (DHI) phát triển, kết hợp cùng hệ thống thông tin địa lý GIS thông qua mô đun MIKE GIS. Việc lựa chọn mô hình MIKE 11 xuất phát từ tính ưu việt vượt trội của các mô đun tích hợp: mô đun thủy động lực (HD) giải chính xác bài toán thủy lực mạng lưới sông kênh phức tạp, mô đun tải - khuếch tán (AD) mô phỏng động thái lan truyền chất ô nhiễm, và mô đun sinh thái (Ecolab) tính toán các phản ứng phân hủy sinh hóa. Đây là giải pháp tối ưu cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long khi lưu lượng mùa kiệt chỉ bằng khoảng 1/20 lưu lượng mùa lũ và dòng chảy thường xuyên đổi chiều do tác động mạnh mẽ của thủy triều biển Đông và biển Tây.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết quả quan trắc và phân tích thực địa cho thấy chất lượng nước mặt tại các sông, kênh rạch chính trên địa bàn tỉnh Hậu Giang đang bị ô nhiễm hữu cơ và vi sinh nghiêm trọng, đặc biệt trong mùa khô. Hàm lượng BOD5 trung bình tại nhiều đoạn sông đo được đạt 12,62 mg/l, vượt ngưỡng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 08:2008/BTNMT cột A2. Hàm lượng chất rắn lơ lửng SS dao động ở mức cao khoảng 62 mg/l, trong khi chỉ số vi sinh Coliform vượt tiêu chuẩn cho phép từ 3,20 đến 4,51 lần tại các đoạn kênh chảy qua khu vực đô thị như kênh xáng Xà No đoạn qua thành phố Vị Thanh và sông Ba Láng tại huyện Châu Thành A.

Thứ hai, cơ cấu nguồn thải hữu cơ trên địa bàn tỉnh có sự đóng góp bất cân đối giữa các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Kết quả điều tra chỉ ra rằng với quy mô dân số 768.711 người năm 2011, nước thải sinh hoạt và chất thải từ chăn nuôi heo, gia súc là nguồn phát sinh BOD5 và COD lớn nhất, chiếm hơn 65% tổng tải lượng hữu cơ toàn tỉnh. Khảo sát 125 cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ghi nhận 39 cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng, chủ yếu là các nhà máy chế biến lương thực, thủy sản và sản xuất cồn rượu chưa vận hành hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn trước khi xả ra môi trường.

Thứ ba, khả năng chịu tải ô nhiễm hữu cơ có sự phân hóa cực kỳ sâu sắc giữa các tuyến sông chính và kênh nội đồng. Sông Hậu với lưu lượng dòng chảy lớn trên 500 m3/s sở hữu khả năng tiếp nhận tải lượng BOD5 và COD rất dồi dào, đóng vai trò là trục tiêu thoát và pha loãng chính. Ngược lại, các tuyến kênh nội đồng có lưu lượng nhỏ như kênh Xà No (lưu lượng 9,27 m3/s), sông Ba Láng (2,66 m3/s) và kênh Tân Hiệp (5,54 m3/s) đã rơi vào tình trạng quá tải nghiêm trọng, vượt sức chịu tải cho phép từ 20% đến 48% vào tháng kiệt nhất của mùa khô.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng ô nhiễm hữu cơ cục bộ bắt nguồn từ đặc điểm thủy văn chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều, khiến vận tốc dòng chảy trong mùa kiệt giảm xuống chỉ còn từ 0,089 đến 0,254 m/s tại các vùng nội đồng, làm giảm mạnh khả năng tự làm sạch tự nhiên. So sánh với các nghiên cứu chất lượng nước tại lưu vực sông Đồng Nai năm 2010 hay sông Thị Vải của các nhà khoa học môi trường, hiện tượng suy giảm chất lượng nước tại Hậu Giang phản ánh rõ nét tác động tổng hợp của phát triển kinh tế nhanh nhưng thiếu hạ tầng kỹ thuật thu gom và xử lý nước thải tương xứng.

Để phục vụ công tác quản lý trực quan, các dữ liệu mô phỏng đã được trực quan hóa thông qua hệ thống bản đồ số GIS tỷ lệ 1:50.000 phân vùng chỉ số chất lượng nước WQI và các bảng cân bằng tải lượng tối đa ngày (TMDL). Các biểu đồ mặt cắt nồng độ lan truyền BOD5 và COD dọc theo chiều dài 57 km của sông Cái Lớn và 40 km của kênh Xà No minh chứng rõ ràng sự thay đổi nồng độ chất ô nhiễm theo chu kỳ triều, cung cấp bức tranh toàn diện giúp các nhà hoạch định chính sách dễ dàng nhận diện những điểm nóng ô nhiễm cần ưu tiên can thiệp khẩn cấp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch hạ tầng và vận hành bắt buộc các trạm xử lý nước thải tập trung. Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh phối hợp với Sở Xây dựng triển khai đầu tư xây dựng 100% hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT tại tất cả các khu, cụm công nghiệp tập trung trước năm 2015. Đồng thời, xây dựng trạm xử lý nước thải sinh hoạt đô thị công suất từ 5.000 đến 10.000 m3/ngày đêm tại thành phố Vị Thanh và thị xã Ngã Bảy trong giai đoạn 2013 – 2020 nhằm giảm thiểu 80% tải lượng hữu cơ xả thẳng ra hệ thống kênh rạch.

Thứ hai, áp dụng triệt để các công cụ kinh tế và kiểm soát hạn ngạch xả thải TMDL. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hậu Giang cần thiết lập cơ chế cấp phép xả thải dựa trên kết quả tính toán sức chịu tải của từng đoạn sông, kiên quyết không cấp phép xả thải mới vượt quá hạn ngạch cho phép tại kênh Xà No và sông Ba Láng. Thu đúng, thu đủ phí bảo vệ môi trường đối với 100% cơ sở sản xuất có lưu lượng xả thải từ 50 m3/ngày đêm trở lên, hướng tới mục tiêu cắt giảm từ 25% đến 35% lượng BOD5 phát thải công nghiệp trong giai đoạn 2013 – 2018.

Thứ ba, triển khai các giải pháp kỹ thuật sinh thái và xử lý chất thải nông nghiệp phân tán. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì hỗ trợ người dân lắp đặt hệ thống hầm ủ biogas và hồ sinh học xử lý nước thải cho trên 85% cơ sở chăn nuôi gia súc quy mô từ 50 con trở lên từ năm 2014 đến năm 2020. Áp dụng kỹ thuật lắng lọc sinh học kết hợp bãi lọc ngập nước nhân tạo đối với 100% diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh, hạn chế xả bùn thải hữu cơ trực tiếp vào nguồn nước.

Thứ tư, tăng cường năng lực giám sát tự động và nâng cao nhận thức cộng đồng. Ủy ban nhân dân tỉnh cần bố trí ngân sách lắp đặt ít nhất 10 trạm quan trắc nước mặt tự động liên tục trên các sông rạch huyết mạch vào năm 2015. Kết hợp cùng các tổ chức đoàn thể tổ chức các đợt truyền thông sâu rộng, tập huấn Luật Bảo vệ Môi trường cho 100% cán bộ cấp xã và trên 20.000 lượt người dân nông thôn trong giai đoạn 2013 – 2020 nhằm chấm dứt tập quán vứt rác và xả nước thải bừa bãi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, bao gồm Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hậu Giang, Chi cục Bảo vệ Môi trường cùng Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện thị. Các đơn vị này có thể khai thác trực tiếp bản đồ phân vùng WQI và bảng hạn ngạch tải lượng TMDL làm căn cứ pháp lý để thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, xác lập hạn ngạch cấp phép xả thải và kiểm tra, xử phạt hơn 120 cơ sở sản xuất trên địa bàn.

Nhóm thứ hai là các chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông - thủy sản. Luận văn cung cấp số liệu thực nghiệm về lưu lượng và nồng độ chất ô nhiễm đặc trưng, giúp doanh nghiệp tính toán chính xác công suất thiết kế trạm xử lý nước thải từ 500 đến 5.000 m3/ngày đêm, tối ưu hóa chi phí đầu tư công nghệ và bảo đảm tuân thủ nghiêm ngặt các quy chuẩn môi trường quốc gia.

Nhóm thứ ba là các nhà khoa học, giảng viên và sinh viên sau đại học thuộc các ngành Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Môi trường và Thủy văn học. Công trình cung cấp một nghiên cứu điển hình về quy trình ứng dụng tích hợp mô hình thủy lực MIKE 11 và GIS trong tính toán sức tải môi trường cho mạng lưới sông ngòi đồng bằng chịu ảnh hưởng triều, làm tài liệu tham khảo giá trị cho hơn 13 tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long.

Nhóm thứ tư là các tổ chức phát triển quốc tế, tổ chức phi chính phủ và các đơn vị tư vấn quy hoạch tài nguyên nước. Dữ liệu dự báo tải lượng đến năm 2020 là nguồn tài liệu quan trọng để xây dựng các dự án tài trợ nước sạch, thích ứng biến đổi khí hậu và chuyển đổi sinh kế bền vững cho hơn 70 xã, phường vùng nông thôn của tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao nghiên cứu lại tập trung đánh giá khả năng chịu tải vào tháng 4 mùa kiệt? Tháng 4 là thời điểm kiệt nhất trong năm tại Hậu Giang khi lưu lượng dòng chảy chỉ bằng khoảng 1/20 mùa lũ (ví dụ sông Ba Láng chỉ đạt 2,66 m3/s). Khả năng tự làm sạch suy giảm mạnh làm nồng độ ô nhiễm hữu cơ đạt đỉnh, giúp xác định chuẩn xác ngưỡng chịu tải tối thiểu an toàn.

Mô hình MIKE 11 mang lại ưu thế gì vượt trội so với các mô hình khác? MIKE 11 giải quyết triệt để bài toán thủy động lực học một chiều theo phương trình Saint-Venant trên mạng lưới sông ngòi chằng chịt 2.300 km. Mô hình mô phỏng chính xác sự biến đổi dòng chảy do tác động kép của thủy triều biển Đông và biển Tây tại 30 mặt cắt quan trắc với độ tin cậy trên 85%.

Những nguồn thải nào đang đóng góp lượng chất hữu cơ lớn nhất tại địa phương? Nguồn phát sinh chính bao gồm nước thải sinh hoạt từ 768.711 cư dân, chất thải từ các trang trại chăn nuôi gia súc và nước thải công nghiệp chế biến từ 39 cơ sở ô nhiễm nghiêm trọng. Các nguồn này thải ra hàng chục tấn BOD5 mỗi ngày khiến nồng độ chất hữu cơ vượt 12,62 mg/l.

Sự khác biệt về khả năng tiếp nhận ô nhiễm giữa sông Hậu và kênh nội đồng là gì? Sông Hậu có lưu lượng dòng chảy vượt 500 m3/s nên sức tiếp nhận chất ô nhiễm rất lớn mà vẫn đạt chuẩn. Ngược lại, các tuyến kênh nhỏ như kênh Xà No (lưu lượng 9,27 m3/s) có dòng chảy yếu nên rơi vào tình trạng quá tải cục bộ từ 20% đến 48% trong mùa khô.

Làm thế nào để ứng dụng trực tiếp kết quả nghiên cứu vào công tác cấp phép xả thải? Cơ quan quản lý sử dụng bảng tải lượng tối đa TMDL và bản đồ GIS phân vùng chất lượng nước tỷ lệ 1:50.000 để xác định dư lượng tải lượng còn lại trên từng đoạn sông. Nếu đoạn sông đã quá tải, cơ quan sẽ kiên quyết từ chối cấp phép hoặc yêu cầu doanh nghiệp xử lý nước thải đạt loại A.

Kết luận

  • Đánh giá định lượng toàn diện hiện trạng chất lượng nước mặt và phân tích 60 nguồn thải chính trên địa bàn tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2006 – 2011.
  • Thiết lập thành công mô hình MIKE 11 kết hợp công nghệ GIS để mô phỏng thủy lực và tải lượng ô nhiễm hữu cơ (BOD, COD, Nitơ, Photpho) trên 30 mặt cắt sông rạch trọng điểm.
  • Xác định chính xác tổng tải lượng tối đa ngày (TMDLs) và phát hiện sự quá tải cục bộ tại kênh xáng Xà No và sông Ba Láng với chỉ số BOD5 vượt mức 12,62 mg/l.
  • Đề xuất đồng bộ hệ thống 4 nhóm giải pháp về quản lý, kinh tế, công nghệ kỹ thuật và truyền thông nhằm cắt giảm từ 30% đến 50% tải lượng ô nhiễm hữu cơ xả vào nguồn tiếp nhận.
  • Cung cấp cơ sở khoa học và bộ bản đồ phân vùng WQI phục vụ công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội bền vững và kiểm soát ô nhiễm nước mặt đến năm 2020.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi chính quyền địa phương cần khẩn trương ban hành hạn ngạch xả thải TMDL cho từng lưu vực trong giai đoạn 2013 – 2015 và hoàn thiện mạng lưới quan trắc nước mặt tự động. Các cấp quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng hãy cùng chung tay khai thác hiệu quả công trình nghiên cứu này để bảo vệ nguồn tài nguyên nước mặt quý giá, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển thịnh vượng của tỉnh Hậu Giang.