MỞ ĐẦU Composite là vật liệu được tổ hợp từ hai hay nhiều vật liệu có bản chất khác nhau, nhằm mục đích tạo ra một vật liệu mới có tính năng ưu việt hơn hẳn những thành phần ban đầu. Nhờ những thuộc tính ưu việt hơn hẳn các vật liệu truyền thống mà ngày nay vật liệu composite đã được sử dụng rất rộng rãi trong thực tế cuộc sống, trong các lĩnh vực khác nhau như xây dựng, chế tạo máy, trong giao thông vận tải, công nghiệp nặng, công nghiệp dân dụng, thậm chí cả trong y học và đặc biệt là ứng dụng trong thiết kế chế tạo các kết cấu hàng không, vũ trụ hiện đại,… Đến nay, có hai cách phân loại vật liệu composite: dựa vào cấu trúc của thành phần cốt hoặc bản chất của vật liệu nền. Theo cơ học, composite được phân loại dựa vào cấu trúc của các thành phần cốt, bao gồm composite độn hạt, composite cốt sợi đồng phương, composite phân lớp, composite có cấu trúc không gian, composite tạp lai. Theo công nghệ, composite được phân loại dựa trên bản chất của vật liệu nền, bao gồm các loại cơ bản như composite polime, composite kim loại, composite gốm, composite cacbon, nano composite (khi có một thành phần composite có cấu trúc nano).
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu vào loại vật liệu composite cốt sợi đồng phương, hạn chế ở việc xác định một số module đàn hồi độc lập của compostite hai pha và đưa ra một phương án xác định các hệ số giãn nở nhiệt của composite ba pha, qua đó góp phần xác định được ứng xử cơ học của vật liệu composite cốt sợi đồng phương. Vấn đề xác định module đàn hồi cho composite cốt sợi đồng phương đã được nhiều tác giả nghiên cứu như Christensen, Pobedria, Vanin [8].Cách tiếp cận là dựa trên các phương pháp như tìm các biểu thức giới hạn nhờ các định lý biến phân năng lượng, tìm lời giải giải tích, phương pháp xác định bằng thực nghiệm. Theo cách tìm các biểu thức giới hạn, người ta sử dụng các định lý biến phân năng lượng (định lý thế 4 z năng toàn phần) để xác định các cận trên và cận dưới của các module đàn hồi. Tuy nhiên, phương pháp trên dẫn đến các cận, xa với thực tế và chỉ xác định khoảng gần đúng các module này.
Trong khi đó, phương pháp tìm lời giải giải tích thông qua các hàm năng lượng. Lời giải của bài toán sử dụng phương pháp này được tìm dựa vào các phương pháp giải tích hoặc phương pháp số nhưng tính toán khá phức tạp. Các cách tiếp cận như vậy đã ứng dụng nguyên lý Esenpi, sử dụng các hàm năng lượng…Ưu điểm của của những phương pháp đó là cho phép đưa ra lời giải với độ chính xác khá cao, vấn đề ở chỗ khi giải quyết bài toán ta thường gặp rất nhiều khó khăn. Theo cách tiếp cận mới, phương pháp xấp xỉ thể tích đã được giới thiệu trong các bài báo của PGS.Nguyễn Đình Đức và những người khác.
Ưu điểm của phương pháp này dễ nhận thấy là đơn giản, gần gũi, dễ tiếp cận. Việc mô hình hoá dựa trên phương pháp xấp xỉ thể tích thường đưa về giải các bài toán cơ bản của lý thuyết đàn hồi để tìm các hằng số đàn hồi. Dựa trên phương pháp xấp xỉ thể tích, luận văn đã đề ra mục tiêu xác định module đàn hồi K23 - module khối biến dạng phẳng của vật liệu composite cốt sợi đồng phương thông qua bài toán kéo trụ đều mọi phía theo phương ngang với lực kéo không đổi. Bên cạnh đó, luận văn cũng đề xuất một phương án nhằm xác định biểu thức của các hệ số giãn nở nhiệt của vật liệu composite ba pha cốt sợi đồng phương độn hạt cầu như là hàm của các đặc trưng đàn hồi thành phần, các hệ số giãn nở nhiệt thành phần, tỉ lệ thể tích của thành phần sợi và hạt.
TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU COMPOSTE CỐT SỢI ĐỒNG PHƢƠNG 1. Mô hình vật liệu composite cốt sợi đồng phƣơng Composite cốt sợi đồng phương được cấu tạo từ các sợi song song theo một phương cơ bản nằm trong vật liệu nền. Sợi được sử dụng trong vật liệu có thể làm dưới dạng liên tục như sợi dài, hoặc có thể dưới dạng gián đoạn như sợi ngắn, vụn,…Khi chế tạo vật liệu, chúng ta hoàn toàn có thể điều chỉnh được sự phân bố, phương của sợi để tạo ra vật liệu dị hướng theo mong muốn hay tạo ra vật liệu có cơ - lý tính khác nhau. Khi đó, ta cần chú ý đến bản chất của vật liệu thành phần, tỉ lệ của các vật liệu tham gia và phương của sợi.
Bây giờ, ta đưa ra một mặt cắt ngang mô tả vật liệu có cấu trúc tuần hoàn được minh họa trong hình vẽ 1.1: Mô hình vật liệu composite cốt sợi đồng phương. Ta xét một phần tử đại diện trong trường hợp tổng quát là một hình bình hành có chiều dài 2 cạnh a, b. Ta gọi nó là hình bình hành mắt xích chu kì tuần hoàn. Trong mỗi mắt xích này các sợi đồng phương được bố trí sao cho các đỉnh của hình bình hành trùng với tâm của mỗi sợi (các sợi có tiết diện tròn với bán kính R).
Khi đó, toạ độ các điểm cắt trục của những sợi đồng phương trên mặt x1 , x 2 (còn phương cơ bản theo phương x 3 ) sẽ là: 6 z x ma với m, n = 0, 1, 2,. 1 x nb 2 Xét các trường hợp riêng: +) a=b=1, / 2. Khi đó, hình bình hành trở thành hình vuông và cấu trúc được gọi là cấu trúc hình vuông.2: Cấu trúc hình vuông. Trong mô hình composite có cấu trúc hình vuông này, chúng ta thấy bán kính R đạt giá trị tối đa là 1/2 và có sự phân bố thể tích sợi trong composite ( a R ) 2 phụ thuộc vào R: 1 0 R ; 0 a 0.785 2 4 Như vậy, đối với trường hợp này, phân bố thể tích sợi trong composite đạt mức tối đa là 78.3: Mô tả mặt cắt của phần tử đại diện có cấu trúc hình vuông.
Khi đó, cấu trúc có dạng tam giác đều. 7 z Từ trước đến nay, nhiều bài toán về composite khi xem xét các phần tử đại diện đều được giả thiết là có cấu trúc tuần hoàn với mỗi mắt xích tuần hoàn là một phần tử đại diện. Cách tiếp cận mà các bài toán đó hướng tới dựa trên quan điểm vi mô. Trong khuôn khổ luận văn này, ta xem vật liệu nền và sợi đều là những vật liệu đàn hồi đồng nhất, đẳng hướng.
Hơn nữa, các sợi là dài liên tục và có dạng hình trụ tròn. Miền vật liệu nền sẽ ký hiệu là S, miền cốt sợi có tâm đi qua điểm (m,n) trong mặt phẳng x 1 , x 2 là Amn. Biên của nền và sợi Amn là mn. Mắt xích chu kỳ tuần hoàn trên mặt có chiều dài cạnh bằng đơn vị (xem hình vẽ 1.
Khi đó, tenxơ hằng số đàn hồi của composite đang xét là hàm tuần hoàn của x 1 , x 2 và không phụ thuộc vào x 3 : Cijkl ( x1 , x 2 ) ( x1 , x 2 ) ij kl ( x1 , x 2 )( ik jl il jk ) (1.1) trong đó: khi x S ( x1 , x 2 ) 1 2 khi x Amn khi xS ( x1 , x 2 ) 1 2 khi x Amn Theo một số tác giả [3], thực nghiệm chỉ ra vật liệu composite cốt sợi đồng phương là đẳng hướng ngang, do đó nó có 5 hằng số đàn hồi độc lập. Đối với trường hợp này, bài toán xác định các module đàn hồi thực chất là đi tìm các biểu thức của 5 module đàn hồi khi ta đã biết các đặc trưng cơ học và hình học của các vật liệu thành phần, ví dụ như module đàn hồi của các sợi, vật liệu nền, độ dài sợi, tỉ lệ khối lượng, tỉ lệ thể tích.Cơ tính của sợi và nền trong vật liệu được đặc trưng bởi các module đàn hồi. Để tiện cho việc sử dụng, từ nay về sau ta sẽ kí hiệu: + Đặc trưng cho cốt sợi là E1 ,1. + Đặc trưng cho vật liệu nền là E 2 , 2.
+ Tỉ lệ thể tích của pha sợi trong nền là . Hơn nữa, ta bổ sung thêm các giả thiết sau: + Các sợi có cùng các đặc trưng về kích thước như mặt cắt tròn, chiều dài. 8 z + Sự phân bố các sợi trong nền là đều, có cấu trúc tuần hoàn.4: Hình dạng các cốt sợi trong vật liệu nền. Với những đặc tính vuợt trội, vật liệu composite thực sự đã trở thành loại vật liệu then chốt trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là ngành công nghiệp nặng, hàng không vũ trụ.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ hiện đại đã đưa đến nhu cầu to lớn về vật liệu, đặc biệt là vật liệu composite với những đặc tính hơn hẳn các vật liệu thông thường khác. Composite với các sợi độn đồng phương cũng là một trong các dạng phân loại theo cơ học của vật liệu composite, đem lại những ứng dụng hữu ích cho khoa học kĩ thuật và thực tế đời sống. Trong composite cốt sợi đồng phương, các sợi độn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các vật liệu composite có tính năng nổi trội. Bằng cách dựa vào đặc tính và mật độ của các sợi trong thành phần nền, chúng ta có thể tạo nên những vật liệu có đặc điểm phù hợp với nhu cầu và mục đích sử dụng như đặc tính cơ lí, tính dễ gia công, chi phí gia công vật liệu… Khi chế tạo vật liệu, ta có thể điều chỉnh được sự phân bố, phương của sợi để tạo ra vật liệu dị hướng theo mong muốn hay tạo ra vật liệu có cơ lí tính khác nhau.
Để giúp cho việc chế tạo kết cấu chi tiết composite, luận văn muốn giới thiệu sơ lược về công nghệ pulltrusion [1]. Công nghệ này là quá trình công nghệ chế tạo các kết cấu composite bằng cách kéo liên tục các sợi cốt, được tẩm qua nhựa nền thông qua những khuôn tạo dáng nóng (hình 1. Một trong những ví dụ về sản phẩm của phương pháp này là các dầm, cốt của bê tông trong xây dựng, có hình dáng hệt như thép nhưng lại được chế tạo từ composite (những dầm như vậy có cấu trúc cốt sợi 9 z đồng phương).