Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Sự lưu hành của vi khuẩn Salmonella Salmonella thuộc họ Enterobacteriaceae (vi khuẩn đường ruột) là một giống vi khuẩn hình que, trực khuẩn gram âm, kị khí tùy nghi không tạo bào tử, di động bằng tiên mao, sinh sống trong đường ruột, có đường kính khoảng 0,7 µm đến 1,5 µm, dài từ 2 µm đến 5 µm và có vành lông rung hình roi. Hầu hết các loài Salmonella có thể sinh hydro sulfua.
Salmonella không lên men lactose (trừ S. arizona) và sucrose nhưng lên men được dulcitol, mannitol và glucose. Chúng kém chịu nhiệt nhưng chịu được một số hóa chất: brilliant green, sodium lauryl sulfate, selenite. Có hai loài vi khuẩn Salmonella: S.
enterica được chia thành sáu phân loài và hơn 2500 serovar (huyết thanh hình). Salmonella được tìm thấy trên toàn thế giới trong cả động vật máu lạnh và động vật máu nóng, và trong môi trường. Các chủng vi khuẩn Salmonella gây ra các bệnh như thương hàn (do S. typhimurium), phó thương hàn, nhiễm trùng máu (do S.
choleraesuis) và ngộ độc thực phẩm. Các triệu chứng do Salmonella gây ra chủ yếu là tiêu chảy, ói mửa, buồn nôn xuất hiện sau 12 - 36 giờ sau khi tiêu thụ thực phẩm nhiễm Salmonella. Các triệu chứng thường kéo dài từ 2 - 7 ngày. Nghiên cứu thực hiện ở học viện Metnhicốp (1956 - 1958) đã cho thấy trong 156 mẫu Salmonella phân lập được từ gia cầm (trong đó có vịt) có 96/156 (52,9%) là do S.
Cũng theo tác giả ở Long An, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, cho thấy: 8,8% vịt đẻ; 24,7% vịt con; 31,7% phôi trứng bị chết và 64,8% cứt xu đã bị nhiễm Salmonella. Theo Trần Ngọc Bích (2012) [5] cho biết: kết quả khảo sát 289 mẫu của thuỷ cầm (vịt, vịt xiêm và ngỗng) trên địa bàn 4 huyện của tỉnh Hậu Giang cho thấy tỷ lệ nhiễm vi khuẩn Salmonella trên đàn thuỷ cầm là 19,13%; trong đó, tỷ lệ nhiểm trên ngỗng cao nhất (25,00%) kế đến là vịt xiêm (23,44%) và thấp nhất là vịt (17,43%); tỷ lệ nhiễm Salmonella spp. của mẫu thân thịt là cao nhất (32,76%), tiếp đến là mẫu phân (21, 01%), kế đến là vỏ trứng (13,73%) và thấp nhất là trên mẫu lòng đỏ trứng (0,13%). n 4 Ở Indonesia, trong 2 năm 1992 - 1993, đã xác định 26 mẫu huyết thanh vịt, trong đó S.
virchov là 7,5% và S. Kết quả phân lập trong 48 chủng Salmonella trên vịt, heo rừng và cây hương được 4 nhóm khác nhau (nhóm B, nhóm C, nhóm D và nhóm khác). Trong đó, các chủng Salmonella thuộc nhóm B xuất hiện nhiều nhất (25/48 chủng) và xuất hiện trong hầu hết các trang trại, chiếm tỷ lệ 52,08%, cao hơn so với Salmonella nhóm khác (13/48 chủng) chiếm 27,08%, kế đến là Salmonella nhóm D (8/48 chủng) chiếm 16,67%. Loài Salmonella nhóm C hiện diện ít nhất, chỉ chiếm 2/48 chủng phân lập được (Nguyễn Văn Minh Hoàng và cs, 2015) [20].
Nguyễn Mạnh Phương và cs (2012) [25] đã xác định: serotype của 31 chủng vi khuẩn Salmonella phân lập từ lợn con sau cai sữa bị tiêu chảy cho thấy có 16 chủng vi khuẩn Salmonella được xác định là S. typhimurium (chiếm 51,67%), 6 chủng là S. anatum (chiếm 19,35%), 5 chủng là S. agona (chiếm 16,14%), 2 chủng là S.
meleagridis (chiếm 6,45%), 2 chủng là S. Nguyễn Ngọc Hân và cs (2008) [17] tìm thấy: các serovar Salmonella trên các mẫu xét nghiệm cho thấy, tần suất phân lập S. typhimurium là cao nhất (36,36%), giảm dần theo thứ tự S.spp) không xác định serovar chính xác được. Tsai HJ và cs (2001) [58] tìm thấy 10 chủng Salmonella trên vịt là: S.
Phạm Thị Ngọc và cs (2013) [23] đã xác định: trong tổng 82 chủng Salmonella phân lập được từ các mẫu trang trại và lò giết mổ có 3 serotype phổ biến là S. rissen lần lượt chiếm tỷ lệ là 25,6%; 23,3% và 13,4% các serotype khác giao động từ 2,4% - 6,1%. Các chủng chưa xác định được chiếm 12,2%. Qua kiểm tra đặc tính sinh hoá của 31 chủng Salmonella đều lên men sinh hơi các đường glucose, mantol, sorbitol, dextrose, galactose, manitol, arabinose,.
nhưng chúng không lên men đường lactose, sucrose. Tất cả các chủng Salmonella phân lập đều không sinh Indol, phản ứng oxidaza âm tính, catalaze dương tính, n 5 100% số chủng có khả năng di động, 74,09% các chủng sinh H2S (Nguyễn Mạnh Phương và cs, 2012 [25]). Theo Lê văn Tạo và cs (1994) [29] cho biết: Salmonella ở lợn chủ yếu là S. Phân lập từ 75 mẫu phân ở một số vùng thuộc Ba Vì (Hà Tây cũ).
Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Hân và cs (2008) [17] cho thấy: tỷ lệ (%) nhiễm Salmonella cao nhất là trứng sát lò ấp, giảm dần ở vịt con, phân vịt con, phân vịt đẻ, phân vịt hậu bị tương ứng là 16,19; 12,19; 10,05; 4,65; 3,54. Tác giả cũng cho biết tỷ lệ nhiễm Salmonella ảnh hưởng theo mùa trong năm. Mùa mưa tỷ lệ nhiễm Salmonella ở vịt là 12,96% cao hơn so với mùa khô (3,95%). Nguyễn Mạnh Phương và cs (2012) [25] kiểm tra mức độ kháng kháng sinh của các chủng Salmonella cho kết quả: tất cả các chủng vi khuẩn Salmonella phân lập được kháng với streptomycin, đa số các chủng kháng tetracylin, amoxicillin và ampicillin là 96,77% và sulfatrimethoprime là 93,55%.
Số chủng mẫn cảm với apramycin chiếm tỷ lệ cao nhất (58,06%), tiếp theo là với norfloxacin (51,61%) và colistin (48,39%). Các phân lập Salmonella từ vịt và môi trường nuôi vịt tại Cần Thơ đề kháng với rất nhiều loại kháng sinh khảo sát, ngoại trừ marbofloxacine, oxytetracycline, fosfomycine, amikacine và hỗn hợp doxycycline + neomycine (Nguyễn Đức Hiền và cs, 2012) [16]. Vi khuẩn Salmonella 1. Đặc điểm hình thái Theo Nguyễn Như Thanh (2001) [31] cho biết: Salmonella là một loại vi khuẩn hình gậy ngắn, hai đầu tròn, kích thước 0,4 - 0,6 x 1 - 3 µ, không hình thành giáp mô và nha bào, có 7 - 12 lông (trừ S.
Pullorum- gallinarum không có lông). Vi khuẩn dễ nhuộm với thuốc nhuộm, bắt màu Gram âm đều toàn thân hoặc hơi đậm ở hai đầu. Tính chất nuôi cấy Salmonella là những vi khuẩn sống hiếu khí và yếm khí tùy tiện, phát triển trên các môi trường thông thường. Có rất nhiều loại môi trường dinh dưỡng chọn lọc được dùng trong phân lập Salmonella, hiện nay thường dùng các loại như môi n 6 trường bồi dưỡng (tăng sinh) Buffered Pepton Water (BPW), môi trường tăng sinh chọn lọc đặc hiệu là Tetrathionate hay còn gọi là môi trường Mueller- Kauffmann và Rappaport Vassiliadis (RV).
Các loại môi trường thạch dùng để nhận dạng các khuẩn lạc Salmonella cũng như kiểm tra một số đặc tính sinh hoá bao gồm Brilliant Green Agar (BGA), Bismuth Sulfite Agar (BSA), Triple Sugar Ion (TSI), Xylose Lysine Deroxycholate (XLD), Xylose Lysine Tetrathionate 4 (XLT4), Modified Semisolid Rappaport Vassiliadis (MSRV), Rambach, Kligler. Trên môi trường BSA: sau 48 giờ nuôi cấy ở 37oC, vi khuẩn Salmonella mọc lên những khuẩn lạc đặc trưng, xung quanh khuẩn lạc màu nâu thẫm, giữa khuẩn lạc màu nâu chuyển dần sang màu đen, khuẩn lạc có màu ánh kim. Trên môi trường MacConkey agar vi khuẩn mọc thành những khuẩn lạc tròn, không màu. Trên môi trường BSA Salmonella mọc những khuẩn lạc đặc trưng xung quanh màu nâu sẫm, giữa màu vàng đậm, gần đen, khuẩn lạc có màu ánh kim (Timoney và cs, 1988) [55 ].
Trên môi trường thạch thường vi khuẩn mọc thành khuẩn lạc dạng S (Smooth) tròn, trong sáng hoặc xám, nhẵn bóng, rìa gọn, hơi lồi ở giữa, đường kính khoảng từ 1-1,5 mm, thỉnh thoảng có thể thấy khuẩn lạc dạng R (rough), nhám, mặt trong mờ. Môi trường thạch máu, vi khuẩn mọc thành khuẩn lạc tròn, màu xám, trơn bóng, ở giữa hơi lồi lên (Nguyễn Như Thanh, 2001) [31]. Vi khuẩn Salmonella thể hiện tính kiềm hình thành khuẩn lạc màu đỏ trên môi trường BGA. Trong môi trường TSI hình thành khuẩn lạc nhạt màu, mặt nghiêng môi trường có màu đỏ, màu hồng ở đáy cùng sản sinh H2S làm cho môi trường chuyển màu đen (Quinn và cs, 1994) [51].
Trên môi trường XLD, vi khuẩn hình thành khuẩn lạc có kích thước trung bình màu đen. Trên môi trường Rambach, vi khuẩn hình thành những khuẩn lạc trung bình, màu đỏ tím, bóng. Trên môi trường XLT4, vi khuẩn hình thành khuẩn lạc trung bình, màu đen, bóng, hơi lồi giống như khuẩn lạc mọc trên môi trường XLD, tuy nhiên khả năng ức chế tạp khuẩn của XLT4 tốt hơn XLD. n 7 Nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển của vi khuẩn là 37oC.
Tuy nhiên, Salmonella cũng mọc tốt ở nhiệt độ 42oC. Đặc tính này ứng dụng trong phân lập Salmonella nhằm ức chế vi khuẩn khác trong bệnh phẩm bị ô nhiễm. Môi trường có pH 6,5 - 7,5 là thích hợp nhất cho sự phát triển của vi khuẩn. Tuy vậy, Salmonella có thể phát triển được ở pH từ 4,5 - 9,0.
Nồng độ muối NaCl 3 - 4% trong môi trường có thể ức chế sự phát triển của Salmonella (Nguyễn Như Thanh, 2001) [31]. Đặc tính sinh hóa Mỗi loài Salmonella có khả năng lên men một số đường nhất định và không đổi. Phần lớn các loài Salmonella lên men có sinh hơi đường glucoza, mannit, mantoza, galactoza, levuloza, arabinoza. Một số loài như S.
enteritidis cũng lên men các đường nhưng không sinh hơi. pullorum không lên men mantoza, S. choleraesuis không lên men arabinoza. Tất cả các vi khuẩn Salmonella đều không lên men lactoza, saccaroza.
Trên môi trường có kalixyanua, tất cả các Samonella đều không mọc. Khoảng 96% Salmonella tiết ra enzym khử cacboxyn đối với lyzin, ocnitin và arginin. Đa số Salmonella khômg làm tan chảy gelatin, không phân giải urê, không sản sinh Indol. Phản ứng MR, catalaza dương tính (trừ S.
gallinarum - pullorum có MR âm tính). Phản ứng H2 S dương tính (trừ S. Sức đề kháng của vi khuẩn Salmonella: S. typhimurium có thể tồn tại hơn 7 tháng trong đất, nước, phân súc vật và trên đồng cỏ (Nguyễn Như Thanh, 2001) [31].
Vi khuẩn Salmonella bị tiêu diệt ở nhiệt độ 600C trong một giờ, ở 750C trong 5 phút. Ánh sáng mặt trời chiếu thẳng diệt vi khuẩn trong nước sau 5 giờ, trong nước đục 9 giờ. Salmonella tồn tại trong xác chết 100 ngày, trong thịt ướp muối ở 60C - 120C từ 4 đến 8 tháng. Salmonella có khả năng tồn tại nhiều tháng trong phân, đất, nước và trong chuồng nuôi động vật.
Vi khuẩn có sức đề kháng cao đối với các loại hóa chất, phải dùng NaOH nóng 3 - 4%, Formalin 2 - 5% thì mới tiêu diệt được chúng (Shivaprasad, 2013) [53]. Đặc điểm dịch tễ của Salmonella Phạm Hồng Sơn (2002) [27] cho biết: Salmonella phân tán, lây lan nhanh, rộng rãi hơn ta tưởng. Chỉ cần 1 con trong đàn bị ỉa chảy do Salmonella gây ra thì 24 giờ sau đó cả đàn đã bị lây nhiễm mầm bệnh. Trong quá trình nổ ra dịch bệnh, vi khuẩn Salmonella cũng được tìm thấy ở khắp mọi nơi như chuồng trại, rác rưởi, thức ăn, nước uống.