Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Dẫn nhập Tục ngữ là kho tri thức giàu có và vô cùng quan trọng của nhân loại, nó phản ánh thế giới con người thông qua nhận thức, mọi phản ánh bằng lời nói, chứ không phải là lời kể, lời hát như các thể loại khác của sáng tác truyền miệng dân gian. Tục ngữ có chức năng cơ bản như các thể loại văn học khác song chức năng chính và nổi bật của tục ngữ là truyền bá kinh nghiệm đời sống (đó là chức năng nhận thức trong những chức năng cơ bản của văn học). Lượng kiến thức về kinh nghiệm được thể hiện trong tục ngữ không hạn hẹp.
So với các thể loại khác, tục ngữ thể hiện kinh nghiệm đời sống toàn diện và đa dạng hơn. Đề tài trong tục ngữ rất rộng, bao quát hầu như tất cả các lĩnh vực của thực tại trong thế giới khách quan. Chính vì thế, có thể xem tục ngữ là một hiện tượng văn hóa đa diện. Xét về mặt ngôn ngữ, mỗi câu tục ngữ là sự sắp xếp một tổ chức từ ngữ trong một hình thức văn bản ngắn gọn nhưng hoàn chỉnh, thể hiện một nội dung hoàn chỉnh, diễn đạt tư tưởng rất lâu đời, phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc.
Cách sắp xếp ngôn từ trong tục ngữ có những đặc trưng riêng về vần, nhịp, hài thanh, đối xứng. cách sắp xếp này khiến cho câu tục ngữ là những văn bản đảm bảo vừa có tính nghệ thuật vừa có tính thiết dụng trong sử dụng ngôn ngữ hàng ngày. Đây là điểm đặc biệt của tục ngữ so với các thể loại văn bản nghệ thuật ngôn từ khác. Có thể nói, tục ngữ là một thể loại, một văn bản nhỏ nhất, nhưng không kém phần phức tạp.
Nó khiến chính nó trở thành một đối tượng lôi cuốn sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học. Xét về mặt nghệ thuật, tục ngữ còn được coi là tác phẩm nghệ thuật, với kết cấu đặc trưng riêng biệt. Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian, thể hiện vẻ đẹp tư duy trong sáng tạo và trong nhận thức của con người. Nó đảm bảo được hầu hết các yêu cầu của một tác phẩm nghệ thuật.
Bên cạnh đó, bản thân tục ngữ còn bộc lộ nhiều giá trị quan trọng. Qua tục ngữ chúng ta có thể khám phá những tri thức về phong tục tập quán, những ứng xử đạo đức tinh thần, những dấu ấn của từng thời đại được lưu lại trong mỗi sáng tác tục ngữ. thậm chí trong tục ngữ còn có cả kiến thức thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên (địa lý, thiên văn, khí tượng…). 11 n Như vậy, có thể xem tục ngữ là tài sản vô giá của văn hóa dân gian.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu về vẻ đẹp tục ngữ lại không hề đơn giản, quá trình nghiên cứu tục ngữ phải thực sự có ý nghĩa như một hành động bảo tồn tài sản vô giá của dân tộc 1. Khái quát về tục ngữ 1. Khái niệm tục ngữ Tục ngữ là sáng tác dân gian thu hút giới nghiên cứu khoa học thuộc nhiều lĩnh vực. Chính vì vậy mà từ trước đến nay, ở Việt Nam có rất nhiều định nghĩa về tục ngữ.
Trong “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” (1965), tác giả Vũ Ngọc Phan đã định nghĩa: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một lý luận, một công lý, có khi là một sự phê phán” [57, tr. Hoàng Tiến Tựu (1998) trong “Văn học dân gian Việt Nam” định nghĩa: “Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức, nêu lên những nhận xét, phán đoán, lời khuyên răn của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, giản dị, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền” [77, tr. Đinh Gia Khánh (1998) (chủ biên) trong “Văn học dân gian Việt Nam” có định nghĩa: “Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa hàm súc, do nhân dân lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ” [39, tr. Tác giả Nguyễn Lân (1989) trong công trình “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” quan niệm rằng: “Tục ngữ là những câu hoàn chỉnh, có ý nghĩa trọn vẹn, nói lên một nhận xét về tâm lý, một lời phê phán khen hay chê, hoặc một câu khuyên nhủ, hoặc một kinh nghiệm về nhận thức tự nhiên hay xã hội” [40, tr.
Cù Đình Tú (1973) trong bài viết “Góp ý kiến về phân biệt tục ngữ với thành ngữ” đã cho rằng: “Tục ngữ cũng giống như các sáng tạo khác của dân gian. đều là các thông báo. Nó thông báo một nhận định, một kết luận về một phương diện nào đó của thế giới khách quan. Do vậy mỗi tục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng” [74, tr.
Nguyễn Văn Mệnh (1978), trong bài viết “Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ” có viết: tục ngữ là “một nhận định cụ thể, một kết luận chắc chắn, một kinh nghiệm sâu sắc, một lời khuyên răn, một bài học về tư tưởng đạo đức”, đồng thời tác giả kết luận “mỗi câu tục ngữ tối thiểu là một 12 n câu” [44, tr. Nguyễn Đức Dân (1987) cho rằng: “Tục ngữ là những câu nói ổn định về cấu trúc, phản ánh những tri thức, kinh nghiệm và quan niệm (dân gian) của một dân tộc về thế giới khách quan, tự nhiên cũng như xã hội” [18, tr. Như vậy, đến nay đã có rất nhiều khái niệm về tục ngữ dựa trên quan điểm của các lĩnh vực khác nhau như văn hoá học, xã hội học, hay ngôn ngữ học. Tục ngữ là đối tượng được tiếp cận nghiên cứu dưới góc độ đa ngành.
Mặc dù cho tới thời điểm hiện tại, người ta vẫn chưa đi đến đồng nhất quan điểm xác định thế nào là tục ngữ, song rõ ràng càng nhiều ý kiến về khái niệm tục ngữ thì cái nhìn về thể loại dân gian này càng đầy đủ và trọn vẹn. Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm khác nhau về tục ngữ của các nhà nghiên cứu, chúng tôi tạm kết luận như sau: Tục ngữ được xem là một đơn vị ngôn ngữ, có khả năng tạo câu một cách độc lập dưới dạng lời nói, hình thức cấu trúc của chúng tương đối ổn định, có ý nghĩa khái quát cao, do nhân dân lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ, đúng như nhận định của Nguyễn Thái Hòa: "Tục ngữ là đơn vị trung gian nằm ở giao điểm giữa ngôn ngữ và lời nói, giữa đơn vị ngữ cú và câu, giữa câu và văn bản và có thể nói là giữa phong cách ngôn ngữ khoa học và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật" [32, tr. Tục ngữ về ứng xử là một câu diễn đạt một ý tưởng trọn vẹn, có chức năng thông báo, đúc rút những kinh nghiệm từ thực tiễn cuộc sống của con người. Trong đời sống ngôn ngữ, tục ngữ làm đẹp thêm cho lời nói.
Hơn nữa, tục ngữ phản chiếu nhận thức con người về các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Chính vì vậy mà mỗi câu tục ngữ luôn thể hiện được vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ của nhân dân ta. Tuy nhiên nghiên cứu tục ngữ không phải là chuyện dễ dàng, sự giàu có phong phú của tục ngữ Việt Nam là kết quả của nhiều công trình khai thác. Vẻ đẹp của tục ngữ không bộc lộ một cách dễ thấy mà phải qua sự cắt nghĩa, phân tích của nhiều người, nhiều thế hệ mới bộc lộ được nhiều khía cạnh ẩn náu bên trong.
Trong quá trình nghiên cứu, để phục vụ mục tiêu nghiên cứu của mình, chúng tôi không chỉ căn cứ vào các khái niệm mà còn căn cứ vào các đặc điểm về hình thức và nội dung của tục ngữ. Một số đặc trưng có liên quan đến cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa của tục ngữ 1. Tính ngắn gọn Hiểu một cách đơn giản, tục ngữ là những nhận xét, phán đoán, suy luận của con người về các hiện tượng của tự nhiên và xã hội, đúc rút thành những kinh nghiệm lưu truyền từ đời này sang đời khác, từ vùng này qua vùng khác. Con đường lưu truyền chính của tục ngữ là truyền miệng, vì vậy tục ngữ phải đạt yêu cầu đầu tiên là ngắn gọn, dễ nhớ.
Đây là đặc điểm nổi bật của tục ngữ, cũng là điều kiện cho thấy sự sáng tạo độc đáo của dân gian. Hoàng Tiến Tựu đã nói: “Trong tục ngữ có những hệ từ và từ liên kết (thì, là, mà, nhưng, bởi, vì vậy, do đó, song lẽ, tuy thế.) thường bị bỏ đi và nhiều khi cả những thành phần cơ bản của câu (như chủ ngữ, vị ngữ,.) cũng bị tỉnh lược. Các câu tục ngữ ngắn nhất chỉ có 3 tiếng và dài nhất là 24 tiếng. Câu càng gọn chắc với số tiếng càng ít thì nội dung càng hàm súc, ý càng nhiều.
Tuy nhiên dù ngắn gọn nhưng tục ngữ vẫn phải đảm bảo một cấu trúc chặt chẽ và một nội dung hoàn chỉnh. Tính đối xứng Hình thức cú pháp của tục ngữ thường rất phức tạp, đa dạng. Có hai kiểu câu đối xứng trong tục ngữ là câu đối xứng đơn và câu đối xứng kép. - Câu đối xứng đơn: là câu đảm bảo được hai đặc điểm sau: Về mặt logic: nội dung của mỗi câu tục ngữ là một phán đoán.
Về mặt cú pháp: mỗi câu là một câu đơn mà mỗi thành phần câu tương đương với một vế. Thí dụ: trong tục ngữ Việt có "Miếng Trầu là đầu câu chuyện". Tục ngữ Mường có “Khảng khẩu là mẩu con rôổng” (tháng sáu là máu con rồng) - Câu đối xứng kép: là câu đảm bảo đủ hai yêu cầu sau: Về mặt logic: có sự liên kết hai hoặc hơn hai phán đoán. Về mặt cú pháp: mỗi câu là một câu phức mà mỗi thành phần câu tương đương với một câu đơn.
Ví dụ: trong tục ngữ Việt "Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ" hoặc trong tục ngữ Mường có “Ăn má há, clá mế hế” (Ăn hể hả, trả ê hê),. Trong hai loại câu đối xứng trên thì câu đối xứng kép phổ biến hơn, chiếm số lượng nhiều hơn và căn bản đáp ứng, thỏa mãn được những yêu 14 n cầu, đặc điểm của một câu tục ngữ có tính đối xứng. Tính đối xứng được thể hiện ở các bình diện sau: - Đối ý: là đối xứng giữa hai vế của câu tục ngữ với nhau về ý. Ví dụ: "Ăn má há, clá mế hế” (Ăn hể hả, trả ê hê).
Quan hệ đối ý này được thể hiện qua kiểu cấu trúc so sánh trùng điệp có dạng a=b.