MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Cây lúa (Oryza savita L) là cây lương thực quan trọng của nhiều quốc gia, nhân tố quyết định đảm bảo an ninh lương thực, lúa gạo là nguồn lương thực nuôi sống hơn một nửa dân số trên thế giới nhất là các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ La Tinh. 6 nước sản xuất lúa gạo chính đ là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Việt Nam và Thái Lan (Trethewie, 2012). Sản lượng lúa hàng năm cần phải tăng 1% để đáp ứng nhu cầu về lương thực thiết yếu khi dân số bùng nổ và phát triển nhanh về kinh tế (Rosegrant et al.
Ở Việt Nam, lúa gạo c ng là nguồn lương thực chính và ngành sản xuất lúa gạo còn tạo việc làm cho hàng triệu người dân (Trần Văn Đạt, 2005). Hiện nay trên địa bàn t nh Nam Định c ng như huyện Ý Yên cơ cấu giống lúa chủ yếu vẫn là BC15, Khang dân và một số giống lúa lai, việc sản xuất những giống lúa chất lượng không cao đã dẫn đến tình trạng người nông dân không bán được lúa hoặc bán với giá thấp. Để nâng cao giá trị thu nhập cho người trồng lúa, đồng thời nâng cao giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích đất canh tác, thì vấn đề cấp thiết của huyện c ng như của t nh là đưa những giống lúa c chất lượng cao vào sản xuất để đáp ứng được nhu cầu của thị trường và xuất khẩu. Măt khác sự lạm dụng phân hóa học để thâm canh cây lúa đã gây ảnh hưởng xấu đến đất, không khí, nguồn nước và hệ vi sinh vật, đồng thời còn ảnh hưởng đến phẩm chất, chất lượng nông sản, đe dọa đến sức khỏe của con người (Công Phiên, 2014).
Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO), hằng năm c 40.000 người chết trong tổng hai triệu người bị ngộ độc thực phẩm. Ở nước ta có 700 người năm ngộ độc phải nhập viện do nông sản mất an toàn. Để có sản phẩm lúa gạo an toàn, một trong những hướng đi mới đang được quan tâm hiện nay là sản xuất theo hướng hữu cơ. Nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống sản xuất bền vững với sức khỏe của đất, hệ sinh thái và con người.
Đây là hình thức canh tác không sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học hay các chất điều tiết sinh trưởng (IFOAM, 2007). Theo FiLB và IFOAM (2012), năm 2010 Việt Nam có 19.272 ha đất sản xuất nông nghiệp hữu cơ được chứng nhận tương đương 0,19% tổng diện tích canh tác). 1 Hàm lượng hữu cơ là ch tiêu đánh giá độ phì nhiêu của đất, quyết định kết cấu của đất, độ tơi xốp thoáng khí của đất, quyết định độ thấm nước và giữ nước của đất, quyết định hệ đệm của đất, quyết định tới số lượng và khả năng hoạt động của vi sinh vật trong đất, nâng cao hiệu lực của phân hóa học. Tuy có vai trò quan trọng như vậy nhưng sự hiểu biết và sử dụng của nông dân về phân hữu cơ lại rất khác nhau, trong đ nông dân trồng lúa gần như không biết, không dùng đến phân hữu cơ.
Trong quá trình sản xuất lúa tại Ý Yên người nông dân quá lạm dụng phân bón hoá học để tăng năng suất lúa đặc biệt là phân đạm. Điều này dẫn đến tăng chi phí trong sản xuất lúa. Ngoài ra, việc lạm dụng phân bón này không những không làm tăng năng suất lúa mà còn làm giảm khả năng chống chịu sâu bệnh, gây đổ ngã dẫn đến giảm năng suất, ảnh hưởng đến các tính chất lý hoá của đất, gây ô nhiễm môi trường… Việc đốt rơm, rạ và thải phân hữu cơ ra môi trường không những lãng phí nguồn nhiên nguyên liệu, gây ô nhiễm môi trường mà còn ảnh hưởng tới sức kho con người. Chính vì vậy việc xử lý rơm rạ, rác hữu cơ, bùn của khu chăn nuôi bằng chế phẩm sinh học thành phân bón hữu cơ là vấn đề hết sức c ý nghĩa, vừa góp phần hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường, tránh lãng phí tài nguyên, vừa tạo nguồn phân bón hữu cơ chất lượng cao để bón cho cây trồng.
Chính vì thế để góp phần xây dựng kỹ thuật canh tác bền vững và nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại huyện Ý Yên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đặc điểm sinh trƣởng phát triển, năng suất của một số giống lúa thuần và ảnh hƣởng của phân hữu cơ xử lý bằng Sagi Bio đến giống lúa BC15 tại Nam Định”. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 1. Mục đích: - Xác định giống thích hợp cho năng suất, chất lượng cao cho sản xuất tại địa phương. - Xác định các nguồn phân hữu cơ ảnh hưởng tốt để khuyến cáo cho sản xuất.
Yêu cầu: - Đánh giá một số đặc điểm sinh trưởng, phát triển; đặc điểm sinh lý, khả năng chống chịu sâu bệnh và một số yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống nghiên cứu. 2 - Đánh giá ảnh hưởng của phân hữu cơ đến một số ch tiêu sinh trưởng, phát triển, ch tiêu sinh lý và một số yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống BC15. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Ý nghĩa khoa học - Xác định có cơ sở khoa học các giống lúa sinh trưởng, phát triển, chống chịu sâu bệnh tốt, cho năng suất cao và làm sáng tỏ vai trò của phân hữu cơ xử lý bằng chế phẩm Sagi Bio đối với cây lúa trồng tại Nam Định.
Ý nghĩa thực tiễn - Bổ sung thêm những giống lúa cho năng suất cao, chất lượng tốt vào cơ cấu cây trồng, phát triển nông nghiệp tại t nh Nam Định c ng như sử dụng phân hữu cơ xử lý bằng Sagi Bio thích hợp góp phần vào việc hoàn thiện quy trình thâm canh tăng năng suất, theo hướng bền vững, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người sản xuất. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ LÚA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ trên thế giới Cây lúa được trồng và phân bố rộng khắp trên thế giới.
Theo thống kê thì hiện nay trên thế giới c khoảng trên 100 quốc gia trồng và sản xuất lúa gạo, trong đ tập trung nhiều ở các nước Châu Á. 85 % sản lượng lúa trên thế giới phụ thuộc vào 8 nước Châu Á: Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Banglades, Myanma và Nhật Bản, tiếp theo là Châu Phi, Bắc Mỹ đến Nam Mỹ. Năm 2011, lượng gạo xuất khẩu của Thái Lan đạt 8,5 triệu tấn, chiếm 22% tổng lượng gạo xuất khẩu. Lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đạt 7,3 triệu tấn, Ấn Độ 4,7 triệu tấn.
Trong giai đoạn 2010-2013, theo thống kê của F O cho thấy diện tích canh tác lúa những năm đầu của thế kỷ 21 vẫn c xu hướng tăng nhưng tăng chậm từ 161,68-164,53 triệu ha. Nhưng từ năm 2013 đến nay diện tích canh tác lúa trên thế giới lại c xu hướng giảm dần từ 164,53 xuống 159,81 triệu ha. Tuy nhiên năng suất bình quân tăng ổn định qua các năm từ 43,37 tạ ha năm 2010 và đạt 46,37 tạ ha năm 2016. Tình hình sản xuất lúa gạo những năm qua trên Thế giới Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2010 161,68 43,37 701,11 2011 162,72 44,64 726,38 2012 162,19 45,40 736,26 2013 164,53 45,10 741,99 2014 162,91 45,57 742,43 2015 160,76 46,04 740,08 2016 159,81 46,37 740,96 Nguồn: FAOSTAT, (2017) C thể n i tình hình sản xuất lúa trên thế giới c xu hướng tăng dần nhưng tăng chậm, sản lượng 2010 là 701,11 triệu tấn đến năm 2016 là 740,96 triệu tấn.
Với tốc độ tăng dân số như hiện nay cần phải nâng cao hơn nữa năng suất, sản 4 lượng c ng như chất lượng lúa gạo mới đảm bảo được vấn đề an ninh lương thực thế giới. Sản lượng lúa gạo tại châu Á chiếm tới 90,4% toàn thế giới, tức là 677,7 triệu tấn. Tỷ lệ này vẫn đang liên tục tăng vì vấn đề dân số gia tăng ở khu vực này. Theo thống kê, sản lượng lúa gạo cao chủ yếu nhờ sản lượng tăng mạnh tại Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Pakistan và Việt Nam.
Trong đ , sản lượng lúa gạo của Việt Nam năm 2015 đạt tới 44,7 triệu tấn. Tại vùng trung Mỹ và Caribe sản lượng lúa gạo duy trì ở mức ổn định 3 triệu tấn. Vùng nam Mỹ sản lượng lúa gạo đạt 25,4 triệu tấn năm 2015 tăng 2,7% so với cùng kỳ năm 2014. Sản lượng lúa gạo tại châu Âu giữ ở mức ổn định đạt 4,1 triệu tấn năm 2015.
Nhiều quốc gia xuất khẩu gạo lớn sẽ giảm lượng gạo xất khẩu, trong khi nhu cầu nhập khẩu gạo tăng, nguồn cung thị trường gạo sẽ thiếu hụt so với nhu cầu, giá gạo trên thị trường thế giới giữ ở mức khá cao. Dự báo cung cầu lúa gạo thế giới và các yếu tố tác động: Theo Ông Duncan Macintosh, Giám đốc Viện Nghiên cứu Lúa gạo quốc tế, phải đến năm 2018, năng suất lúa thế giới c khả năng sẽ tăng gấp đôi so với hiện nay, điều mà kh c thể thực hiện trong tương lai gần (Raja M, 2018). Tình hình sản xuất và tiêu thụ tại Việt Nam Việt Nam nằm gần vùng Đông Nam Châu Á, khí hậu nhiệt đới gi mùa, đặc biệt là lượng bức xạ mặt trời rất cao, rất thích hợp với sự phát triển của cây lúa. Với nhiều đồng bằng châu thổ rộng lớn c lượng phù sa bồi đắp, tương đối bằng phẳng và màu mỡ từ Bắc tới Nam Đồng bằng Sông hồng, Đồng bằng sông Cửu Long… cùng một loạt châu thổ hẹp ở ven sông, ven biển miền Trung.
C ng giống như các đồng bằng của các nước Đông Nam Á khác, đồng bằng Châu thổ Việt Nam đã được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp mà chủ yếu là trồng lúa. Chính vì thế mà Việt Nam là cái nôi hình thành cây lúa nước, từ lâu n đã trở thành cây lương thực chủ yếu và c ý nghĩa to lớn trong nền kinh tế nước ta. Hiện nay lúa vẫn là cây lương thực quan trọng nhất ở nước ta, cây lúa cung cấp 85 - 87% tổng sản lượng lương thực trong nước. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng trong những năm gần đây đã và đang làm giảm đáng kể diện tích đất nông nghiệp n i chung và đất trồng lúa n i riêng.
Vì thế mặc dù việc thâm canh tăng vụ rất được chú trọng, xong tổng diện tích lúa thu hoạch hàng năm từ năm 2001 - 2007 đang giảm dần.