Luận án tiến sĩ nông nghiệp đặc điểm sinh học sinh thái và biện pháp phòng chống rệp sáp giả paracoccus marginatus williams and granara de willink homoptera pseudococidae hại cây đu đủ tại hà nội

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng chống rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại cây đu đủ tại Hà Nội.

Chuyên ngành

Bảo vệ thực vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

168
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Nghiên cứu về rệp sáp giả Paracoccus marginatus trên thế giới

Paracoccus marginatus là một loài rệp sáp giả gây hại nghiêm trọng trên nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây đu đủ. Nghiên cứu về loài này đã được thực hiện rộng rãi trên thế giới, tập trung vào các khía cạnh như phân loại, phân bố, và tác hại của chúng. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1992 bởi Williams và Granara de Willink, dựa trên mẫu vật thu thập từ vùng tân nhiệt đới. Paracoccus marginatus đã được ghi nhận là loài gây hại chính trên cây đu đủ tại nhiều quốc gia, bao gồm Mexico, Trung Mỹ, và Nam Mỹ. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng loài này có khả năng thích nghi cao với các điều kiện môi trường khác nhau, làm tăng nguy cơ lây lan và gây hại trên diện rộng.

1.1. Phân loại rệp sáp giả hại cây đu đủ

Paracoccus marginatus thuộc họ Pseudococcidae, bộ Homoptera. Mẫu vật đầu tiên của loài này được thu thập vào năm 1955 tại Mexico trên cây sắn. Tuy nhiên, mãi đến năm 1992, loài này mới được mô tả chính thức bởi Williams và Granara de Willink. Các nghiên cứu sau này đã xác nhận Paracoccus marginatus là một trong những loài rệp sáp giả gây hại nghiêm trọng nhất trên cây đu đủ. Việc phân loại chính xác loài này là cơ sở quan trọng để xây dựng các biện pháp phòng chống hiệu quả.

II. Đặc điểm sinh học và sinh thái của Paracoccus marginatus

Paracoccus marginatus có vòng đời ngắn và khả năng sinh sản cao, làm tăng nguy cơ bùng phát dịch hại. Nghiên cứu về đặc điểm sinh học của loài này cho thấy chúng trải qua các giai đoạn phát triển từ trứng, ấu trùng, đến trưởng thành. Đặc điểm sinh thái của Paracoccus marginatus cũng được nghiên cứu kỹ lưỡng, bao gồm ảnh hưởng của các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ ẩm, và thức ăn đến sự phát triển của chúng. Các nghiên cứu này là cơ sở để đề xuất các biện pháp quản lý dịch hại hiệu quả.

2.1. Tập tính sống và vòng đời

Paracoccus marginatus có vòng đời ngắn, thường kéo dài từ 20 đến 30 ngày tùy thuộc vào điều kiện môi trường. Loài này có khả năng sinh sản cao, với mỗi con cái có thể đẻ từ 100 đến 200 trứng. Tập tính sống của Paracoccus marginatus bao gồm việc ẩn náu trong các kẽ lá và thân cây, làm cho việc phát hiện và kiểm soát chúng trở nên khó khăn. Nghiên cứu về vòng đời và tập tính sống của loài này là cơ sở để xây dựng các biện pháp phòng chống hiệu quả.

III. Biện pháp phòng chống Paracoccus marginatus

Các biện pháp phòng chống Paracoccus marginatus bao gồm cả biện pháp canh tác, sinh học, và hóa học. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng các giống đu đủ kháng rệp, kết hợp với các biện pháp trồng xenluân canh, có thể giảm thiểu đáng kể mật độ Paracoccus marginatus. Ngoài ra, các biện pháp sinh học như sử dụng thiên địch và chế phẩm thảo mộc cũng được đánh giá cao về hiệu quả và tính thân thiện với môi trường.

3.1. Biện pháp canh tác và sinh học

Các biện pháp canh tác như trồng xenluân canh đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc giảm mật độ Paracoccus marginatus. Việc sử dụng các giống đu đủ kháng rệp cũng là một biện pháp quan trọng. Bên cạnh đó, các biện pháp sinh học như sử dụng thiên địch (ví dụ: ong ký sinh) và chế phẩm thảo mộc đã được áp dụng rộng rãi, mang lại hiệu quả cao và ít ảnh hưởng đến môi trường.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nông nghiệp đặc điểm sinh học sinh thái và biện pháp phòng chống rệp sáp giả paracoccus marginatus williams and granara de willink homoptera pseudococidae hại cây đu đủ tại hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về rệp sáp giả Paracoccus marginatus trên thế giới 1. Nghiên cứu về phân loại, phân bố và tác hại của rệp sáp giả Paracoccus marginatus 1. Phân loại rệp sáp giả hại cây đu đủ Mẫu vật rệp sáp giả hại cây đu đủ được thu thập lần đầu tiên trên cây sắn vào năm 1955 ở Mexico, sau đó đã nhiều lần được thu thập lại trong thời gian từ 1975-1985 tại Mexico và Trung Mỹ khi thực hiện nghiên cứu về rệp sáp bột hồng hại sắn Phenacoccus manihoti và thiên địch của rệp sáp bột hồng hại sắn (Al-Helal, 2012; Mani et al., 2012; Mastoi et al., 2014; Miller et al., 1999; Muniappan, 2014; Tanwar et al., 2010; Walker et al., 2003; Wu et al.

Cũng có ý kiến cho rằng những mẫu đầu tiên được thu vào năm 1967 tại Acapulco thuộc Mexico (Miller et al. Tuy nhiên, cho tới khi xem xét hàng ngàn mẫu vật thuộc họ Pseudococcidae để xây dựng cuốn sách rệp sáp giả ở vùng Trung và Nam Mỹ thì loài rệp sáp giả P. marginatus mới được Williams and Granara de Willink mô tả lần đầu tiên vào năm 1992 dựa trên mẫu vật thu từ vùng tân nhiệt đới (neotropical region) bao gồm các nước Nam Mỹ ở Belize, Costa Rica, Guatemala và nhiệt đới Châu Mỹ (Al-Helal, 2012; Amarasekare et al., 2008b; Krishnan et al., 2016; Mani et al., 2012; ManiChellappan et al., 2013a; Meyerdirk et al., 2004; Miller et al., 1999; Muniappan, 2014; Muniappan et al., 2006; Selvaraju and Sakthivel, 2011; Tairas et al., 2014; Tanwar et al., 2010; Walker et al., 2003; Williams and Willink, 1992; Wu et al. Sau đó các mẫu này được Miller và Miller mô tả lại vào năm 2002, Angeles Martinez và De Los Suris cũng mô tả lại năm 2005 (Amarasekare et al., 2008b; Mani et al., 2012; ManiChellappan et al., 2013a; Meyerdirk et al., 2004; Miller and Miller, 2002; Muniappan et al.

5 Theo Williams và Willink (1992), rệp sáp giả P. marginatus có vị trí phân loại như sau: Giới động vật Kingdom Animalia Ngành chân đốt Phylum Arthropoda Lớp côn trùng Class Insecta Phân lớp côn trùng có cánh Subclass Pterygota Bộ cánh đều Order Homoptera Phân bộ vòi ở ngực Suborder Sternorrhyncha Tổng họ rệp sáp Superfamily Coccoidea Họ rệp sáp giả Family Pseudococcidae Giống Genus Paracoccus Loài Species P. Nguồn gốc, phân bố và sự xâm lấn của rệp sáp giả Paracoccus marginatus Rệp sáp giả P.marginatus có nguồn gốc từ Mexico, Trung Mỹ và phân bố ở vùng nhiệt đới Châu Mỹ (neotropical) bao gồm Mexico, Belize, Costa Rica, Guatemala (Al-Helal, 2012; Amarasekare et al., 2008b, 2009; Chen et al., 2011; Heu et al., 2007; Krishnan et al., 2016; Mahalingam et al., 2010; Mani et al., 2012; ManiChellappan et al., 2013a; Meyerdirk et al., 2004; Miller et al., 1999; Muniappan, 2014; Muniappan et al., 2008, 2008, 2006; Saengyot and Burikam, 2011; Selvaraju and Sakthivel, 2011; Sharma et al., 2013; Tairas et al., 2014; Tanwar et al., 2010; Walker et al., 2003; Williams and Willink, 1992; Wu et al. Loài rệp sáp giả P.

marginatus lần đầu tiên được ghi nhận hại trên đu đủ ở Antigua, đảo St. Martin thuộc Caribê và các đảo Virgin thuộc Vương quốc Anh năm 1996, xâm lấn Florida (Hoa Kỳ), Haiti, St. Kitts, Nevis, St. Barthelemy, Guatemala, Guadaloupe năm 1998; xâm lấn Guyana thuộc Pháp, Guiana, Cuba, Puerto Rico năm 1999; xâm lấn Barbados, Belize, các 6 đảo của Cayman, Costa Rica, Cayman, Montserrat năm 2000 (Amarasekare et al., 2008b; Chen et al., 2011; Heu et al., 2007; Miller et al., 1999; Muniappan, 2014; Muniappan et al.

Đến năm 1994, loài côn trùng hại này đã được ghi nhận ở 14 nước vùng Caribê (Amarasekare et al., 2009; Mani et al., 2012; Tairas et al., 2014; Tanwar et al., 2010; Walker et al., 2003; Wu et al. Chúng bắt đầu xâm lấn ra khỏi khu phân bố tự nhiên từ năm 1992 và nhanh chóng trở thành loài ngoại lai xâm lấn ở nhiều đảo thuộc vùng Caribê, Trung Mỹ, Nam Mỹ. Đến năm 2000, ngoài 14 nước trong vùng Caribê, rệp sáp giả P. marginatus đã xâm lấn thêm Florida (Hoa Kỳ) và vùng Trung Mỹ, Nam Mỹ (mỗi vùng 3 nước).

Kể từ khi xâm lấn vào vùng Caribê, Hoa Kỳ và các đảo ở Thái Bình Dương, rệp sáp giả P. marginatus đã thiết lập được quần thể ở hầu hết các đảo vùng Caribê, Florida, Guam, Cộng hòa Palau, Hawaii. Chúng tiếp tục xâm lấn sang các nước láng giềng ở vùng Hawaii trên Thái Bình Dương (Amarasekare et al., 2008b; Tanwar et al., 2010; Wu et al., 2014); xâm lấn Netherlands, Antilles, Bahamas, Guam năm 2002- 2003; xâm lấn Hawaii (Maui, Oahu) năm 2004; Northern Marianas năm 2005 (Al-Helal et al., 2012; Mani et al., 2012; Mastoi et al., 2014; Meyerdirk et al., 2004; Muniappan, 2014; Muniappan et al. Đối với Hoa Kỳ, rệp sáp giả P.

marginatus được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1998 ở Palm Beach, Manatee, Broward, Bradenton thuộc bang Florida trên cây dâm bụt. Năm 2001, loài này xâm lấn sang bang Illinois và đến tháng 1 năm 2002 xâm lấn trên 18 loài thực vật ở 30 địa điểm khác nhau của Hoa Kỳ (Amarasekare et al., 2008b, 2009; Krishnan et al., 2016; Miller et al., 1999; Saengyot and Burikam, 2011; Tairas et al., 2014; Tanwar et al., 2010; Walker et al., 2003; Wu et al. Chúng thiết lập được quần thể và gây hại nặng trên cây đu đủ ở đảo Guam từ tháng 4 năm 2002 (Amarasekare et al., 2008b, 2009; Krishnan et al., 2016; Heu et al., 2007; Mastoi et al., 2014; Meyerdirk et al., 2004; Muniappan, 2014; Saengyot and 7 Burikam, 2011; Tanwar et al., 2010; Walker et al., 2003; Wu et al. Tại Hawaii, đến đầu tháng 5 năm 2004 đã ghi nhận được loài này trên các cây đu đủ, Plumeria, dâm bụt và Jatropha spp.

(Amarasekare et al., 2008b, 2009; Heu et al., 2007; Mastoi et al., 2014; Muniappan, 2014; Saengyot and Burikam, 2011; Wu et al. Ở châu Phi, rệp sáp giả P. marginatus xuất hiện ở Ghana tháng 12 năm 2009 (Cham et al., 2011; Mani et al., 2012; Muniappan, 2014; Pelican News, 2009); xuất hiện ở ở Senegal năm 2013, ở Seycheles năm 2014, ở Nigeria năm 2011, ở Benin và Togo năm 2010 (Muniappan, 2014). Trong thời gian ngắn, rệp sáp giả P.

marginatus đã ghi nhận được ở nhiều nước châu Á gồm Bangladesh, Campuchia, Malaysia, Maldives, Pakistan, Philippinnes, Sri Lanka Đài Loan, Thái Lan (Galanihe et al., 2010; Mastoi et al., 2011; Muniappan et al. Một nhóm các nhà khoa học thuộc chương trình hợp tác hỗ trợ nghiên cứu quản lý sinh vật hại tổng hợp (IPM CRSP) thăm vùng Coimbatore (Ấn Độ) và phát hiện được rệp sáp giả P. marginatus từ tháng 7 năm 2007 tại một vườn ở Đại học nông nghiệp Tamil Nadu (Coimbatore). Sau đó, nó đã lan tới 3 khu vực lân cận với Tamil Nadu (Al-Helal et al., 2012; ManiChellappan et al., 2013a; Mahalingam et al., 2010; Mastoi et al., 2014; Muniappan, 2011, 2014; Muniappan et al., 2008; Tanwar et al., 2010; Wu et al.

Năm 2009, đã ghi nhận rệp sáp giả P. marginatus bùng phát số lượng trên một số cây trồng, cây cảnh và cỏ dại ở Coimbatore và Erode. Nó nhanh chóng xâm lấn tới các khu vực Salem, Namakkal, Karur, Tiruppur, Dharmapuri, Krishnagiri của Tamil Nadu trong mùa hè năm 2010. Sau đó cũng được ghi nhận xuất hiện ở các bang khác của Ấn Độ như Karnataka của Andhra Pradesh, Malappuram và Thrissur của Kerala, Pune của Maharastra (ManiChellappan et al., 2013a; Selvaraju and Sakthivel, 2011; Tanwar et al.

Năm 2013-2014 đã ghi nhận rệp sáp giả P. marginatus 8 gây hại trên giống bông Bt ở vùng Gujarat của Ấn Độ (Dhobi et al. Có ý kiến cho rằng rệp sáp giả P. marginatus được phát hiện lần đầu ở Coimbatore (Tamil Nadu, Ấn Độ) vào tháng 5-7/2008.

Từ đó, nó lan tới các bang Karnataka, Andhra Pradesh, Maharastra, Kerala, Tripura, Assam, Orissa (Al-Helal et al., 2012; Mani et al., 2012; Muniappan et al. Nhóm các nhà khoa học trên cũng tìm thấy rệp sáp giả P.marginatus ở Bangladesh vào tháng 5-2009 (Al-Helal et al., 2012; Mani et al., 2012; Muniappan, 2014; Wu et al., 2014); ở Maldives vào tháng 8-2009 (Mani et al., 2012, 2013; Muniappan, 2011; Muniappan et al., 2008; Wu et al., 2014), năm 2009 ở Malaysia (Wu et al., 2014); ở Vân Nam (Trung Quốc) vào tháng 10-2012 (Wu et al., 2014); ở Đài Loan vào 2010 (Chen et al., 2011; Mani et al., 2012); ở Nam và Đông Nam Á trong thời gian 2008-2009 (Al- Helal et al., 2012; Krishnan et al., 2016; Mani et al., 2012; Tanwar et al., 2010); bùng phát số lượng lần đầu tiên ở Vườn thực vật Bogor (Java, Indonesia) vào tháng 5 và tháng 7 năm 2008; xâm lấn khu vực Colombo, Gampaha ở Sri Lanka vào tháng 7-9 năm 2008. Tại các nước này, rệp sáp giả P. marginatus xâm lấn chủ yếu ở các vùng Gampaha, Colombo, Kurunagela, Kalutera (Galanihe et al., 2010; Mani et al., 2012; Muniappan, 2011, 2014; Wu et al.

Những điều tra sau đó cho thấy rệp sáp giả P. marginatus đã lây lan đến đảo các Bali và Sulawesi (Al-Helal et al., 2012; Mani et al., 2012; Mastoi et al., 2014; Muniappan, 2011, 2014; Muniappan et al., 2008, 2009; Tairas et al., 2014; Wu et al. Theo Wu và nnk. (2014), vào tháng 11- 2008 rệp sáp giả P.

marginatus cũng được ghi nhận ở Bắc Thái Lan. Saengyot và Burikam (2011) cũng khẳng định rệp sáp giả P. marginatus được ghi nhận trên cây đu đủ ở Thái Lan vào năm 2008 nhưng Mani và nnk. (2012) và Muniappan (2011, 2014) cho rằng tháng 4 năm 2010 mới phát hiện thấy ở Thái Lan.

Tại Campuchia, rệp sáp giả P. marginatus được phát 9 hiện ở Phnom Penh vào tháng 4 năm 2010 (Mani et al., 2012; Muniappan, 2011, 2014); Philippinnes phát hiện thấy ở Manila năm 2008-2010 (Mani et al., 2012; Muniappan, 2011, 2014); Malaysia ghi nhận lần đầu tiên vào năm 2009 tại Negeri Sembilan và Selangor (Mani et al., 2012; Mastoi et al., 2011; Muniappan et al. Như vậy, đến nay rệp sáp giả P. marginatus đã ghi nhận được ở 5 vùng địa sinh vật là Neotropical, Nearctic, Oceania/Australia, Oriental/Indo-Malai và Afrotropical (Ben-Dov, 2012; Heu et al., 2007; Meyerdirk et al., 2004; Miller et al., 1999; Muniappan et al.

Tác hại của rệp sáp giả Paracoccus marginatus Triệu chứng gây hại Triệu chứng gây hại của rệp sáp giả P. marginatus đã được nhiều tài liệu đề cập và đều cho rằng biểu hiện sự xâm nhiễm của rệp sáp giả P. marginatus là sự xuất hiện của những đám màu trắng như bông với những sợi tơ sáp dài ở các bộ phận trên mặt đất của các cây. marginatus nhanh chóng lây lan và gây hại trên hầu hết các bộ phận trên mặt đất của cây bao gồm cả lá, cành lá, thân và quả.

Cây bị xâm nhiễm nặng có thể hình thành những quần tụ lớn màu trắng như bông ở các bộ phận trên mặt đất, lá bọ úa vàng, biến dạng, các cây còn non bị lùn, còi cọc, héo quắt lại và nghiêm trọng hơn có thể bị chết. Cây bị nhiễm nặng thường bị hiện tượng rụng sớm của lá, hoa và quả (Heu et al., 2007; Galanihe et al., 2010; Indirakumar et al., 2017; Krishnan et al., 2016; Sharma et al.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng chống rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại cây đu đủ tại Hà Nội là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích đặc điểm sinh học, sinh thái của loài rệp sáp giả Paracoccus marginatus, một loài gây hại nghiêm trọng cho cây đu đủ. Nghiên cứu này cung cấp các biện pháp phòng chống hiệu quả, giúp nông dân giảm thiểu thiệt hại và nâng cao năng suất cây trồng. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho những ai quan tâm đến bảo vệ thực vật và phát triển nông nghiệp bền vững.

Để mở rộng kiến thức về các biện pháp kỹ thuật trong nông nghiệp, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ nông nghiệp điều tra nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong canh tác hồ tiêu piper nigrum l theo hướng bền vững tại đăk lăk. Nếu quan tâm đến các giải pháp phòng trị bệnh trong chăn nuôi, Luận văn áp dụng quy trình kĩ thuật trong chăn nuôi và phòng trị 1 số bệnh thường gặp ở lợn thịt tại trại phạm khắc bộ mỹ hào hưng yên là tài liệu đáng đọc. Ngoài ra, để hiểu rõ hơn về tác động của thuốc bảo vệ thực vật, bạn có thể xem Luận văn thạc sĩ chuyên ngành khoa học môi trường đánh giá mức độ tồn lưu thuốc bảo vệ thực vật tại kho thuốc hòn trơ xã diễn yên huyện diễn châu tỉnh nghệ an và đề xuất giải pháp xử lý. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn các chủ đề liên quan.