Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tre trúc là nhóm thực vật thuộc phân họ Tre (Bambusoideae), họ Hòa thảo (Poaceae), giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp lâm sản ngoài gỗ, bảo vệ môi trường, chống xói mòn và phục vụ đời sống dân sinh cũng như công nghiệp chế biến. Theo thống kê của Tổ chức Lương nông Thế giới (FAO, 2005), diện tích rừng tre trúc toàn cầu đạt 36,77 triệu ha, trong đó châu Á chiếm 23,6 triệu ha. Tại Việt Nam, tổng diện tích rừng tre nứa đạt gần 1,5 triệu ha, gồm hơn 1,4 triệu ha rừng tự nhiên và khoảng 74 ngàn ha rừng trồng (Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn, 2007). Hàng năm, cả nước tiêu thụ từ 400 đến 500 triệu cây tre trúc; kim ngạch xuất khẩu mây tre năm 2013 đạt 230 triệu USD. Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 11/2011/QĐ-TTg ngày 18 tháng 02 năm 2011 nhằm thúc đẩy phát triển vùng nguyên liệu tre trúc phục vụ sản xuất và đời sống.

Loài Bương lông điện biên (Dendrocalamus giganteus Munro) là một trong những loài tre mọc cụm có kích thước thân lớn, thành vách thân dày, cơ tính cứng và bền, ít cành nhánh ở phần gốc và thân dưới. Cây có khả năng cung ứng khối lượng vật liệu lớn cho xây dựng, đan lát thủ công mỹ nghệ, sản xuất bột giấy, chế biến gỗ ép công nghiệp thay thế gỗ tự nhiên, đồng thời cung cấp măng làm thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Trên thực tế, Bương lông điện biên chủ yếu được trồng phân tán trong các vườn hộ gia đình tại một số xã thuộc huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên và được lưu giữ tại vườn thực vật ở xã Chân Mộng, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

Tuy nhiên, thực trạng sản xuất và kinh doanh loài cây này hoàn toàn mang tính quảng canh, dựa vào kinh nghiệm truyền thống của người dân địa phương. Việc phát triển và mở rộng diện tích gặp nhiều trở ngại lớn:

  • Tập quán nhân giống chỉ sử dụng hom thân ngầm (giống gốc) đào từ bụi mẹ, dẫn đến hệ số nhân giống rất thấp, gây tổn hại bụi cây mẹ và không thể cung cấp đủ số lượng cây con cho nhu cầu trồng rừng quy mô lớn.
  • Người dân chưa làm chủ được kỹ thuật nhân giống sinh dưỡng bằng phương pháp chiết cành hoặc giâm hom cành, hom thân.
  • Thiếu các hướng dẫn kỹ thuật lâm sinh đồng bộ về lựa chọn đất trồng, mật độ trồng, kỹ thuật bón phân thâm canh và biện pháp nuôi dưỡng rừng trồng.
  • Trước thời điểm thực hiện luận án, các nghiên cứu trong nước về loài Bương lông điện biên còn rất ít, chưa có công trình nào đánh giá một cách toàn diện và có hệ thống về đặc điểm hình thái, sinh thái học, khả năng tái sinh măng, kỹ thuật nhân giống vô tính và kỹ thuật gây trồng thâm canh.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định hệ thống mục tiêu như sau:

  • Mục tiêu tổng quát: Bổ sung một số thông tin mới về đặc điểm sinh học, sinh thái và kỹ thuật gây trồng làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho công tác phát triển loài Bương lông điện biên làm nguyên liệu công nghiệp và thực phẩm ở một số tỉnh vùng núi phía Bắc.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xác định được một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài Bương lông điện biên tại khu vực nghiên cứu.
    2. Xác định được kỹ thuật nhân giống vô tính bằng phương pháp chiết gốc cành, giâm hom thân và kỹ thuật trồng loài Bương lông điện biên làm cơ sở đề xuất một số giải pháp phát triển loài cây này tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Loài Bương lông điện biên (Dendrocalamus giganteus Munro).
  • Phạm vi không gian:
    • Tỉnh Điện Biên: Khảo sát tại các xã Nà Tấu, Nà Nhạn và Mường Phăng thuộc huyện Điện Biên (nơi có quần thể Bương lông điện biên trồng phân tán lâu năm trong vườn hộ).
    • Tỉnh Phú Thọ: Bố trí thí nghiệm nhân giống và xây dựng mô hình thí nghiệm gây trồng tại xã Chân Mộng, huyện Đoan Hùng (thuộc Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp vùng trung tâm Bắc Bộ).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài thu thập số liệu, thực hiện các nội dung nghiên cứu thực địa và thí nghiệm trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2016, kế thừa số liệu từ đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ cấp nhà nước giai đoạn 2012 - 2017 của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu về phân loại và phân bố tre trúc trên thế giới được khởi xướng từ thế kỷ XIX bởi Munro (1868) và Gamble (1896) khi mô tả 151 loài tre trúc tại Ấn Độ, Myanmar, Malaysia, Indonesia. Rao and Rao (1995, 1999) đã hệ thống hóa tre trúc toàn cầu gồm 1.250 loài thuộc 75 chi, trong đó châu Á tập trung đa dạng nhất (Trung Quốc có khoảng 500 loài thuộc 50 chi, Nhật Bản có 230 loài thuộc 13 chi, Ấn Độ có 125 loài thuộc 23 chi). Dransfield and Widjaja (1995) công bố khu vực Đông Nam Á có khoảng 200 loài thuộc 20 chi, trong đó chi Bambusa có 37 loài, chi Schizostachyum có 30 loài và chi Dendrocalamus có 29 loài.

Về mặt sinh thái học, Liu Jiming (2009) nghiên cứu loài Depanostachyum luodianense tại Trung Quốc, xác định sự biến đổi cấu trúc cành, đốt theo tiểu sinh cảnh và chứng minh khả năng cải thiện lý hóa tính đất của tre. Fu Maoyi và Xiao Jianghua (1996) chỉ ra các yếu tố chủ đạo chi phối sinh măng và sinh trưởng thân khí sinh gồm độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu trúc rừng và biện pháp kỹ thuật lâm sinh.

Về kỹ thuật nhân giống tre trúc:

  • Chiết cành: Banik (1985) thử nghiệm chiết cành cho các loài tre vách dày tại Bangladesh đạt tỷ lệ ra rễ 45 - 56%. Dransfield and Widjaja (1995) cho biết tỷ lệ ra rễ khi chiết cành D. giganteus chỉ đạt khoảng 10%, trong khi D. asper đạt 50%. Rao and Ramanatha Rao (2000) chứng minh việc sử dụng chất điều hòa sinh trưởng IBA nồng độ 2.000 ppm nâng tỷ lệ ra rễ cành chiết loài Bambusa longissima từ 25% lên 54%.
  • Giâm hom cành và hom thân: Fu Maoyi và cs. đề xuất chọn cành 1 - 2 tuổi, dài 40 - 50 cm; Victor Cusack (1997) và Rao and Ramanatha Rao (2000) nghiên cứu hom thân 1 đốt và 2 đốt cho các loài tre kích thước lớn, xử lý chất kích thích sinh trưởng (IBA, NAA). Nautiyal và cs. đạt tỷ lệ ra rễ 80% khi giâm hom thân có xử lý auxin.
  • Nuôi cấy mô và giống hạt: Rao và cs. (Ấn Độ), Pranon (1991), Rungnagar Pattanavibool (1998) tại Thái Lan, Swarup and Gambhir (2008) tại Ấn Độ đã vi nhân giống thành công hàng triệu cây con các loài thuộc chi Dendrocalamus. Banik (1994) và Trung tâm Nghiên cứu Tre Trung Quốc (2008) công bố các quy trình bảo quản hạt tre ở nhiệt độ thấp.

Về kỹ thuật gây trồng và phân bón: Suwannapinunt and Thaiutsa (1988) tại Thái Lan chứng minh bón 100 - 200 kg NPK (15-15-15)/ha làm tăng rõ rệt năng suất thân và măng. Dai Qihui (1998) tính toán nhu cầu dinh dưỡng để sản xuất 15.000 kg măng tươi/ha/năm của chi Dendrocalamus cần bổ sung 75 - 100 kg N, 15 - 22,5 kg P và 37,5 kg K. Shanmughavel and Francis (1997) khẳng định chu trình dinh dưỡng trong rừng tre đòi hỏi phải bón phân bù đắp lượng khoáng lấy đi qua khai thác.

Về loài Bương lông điện biên (Dendrocalamus giganteus Munro): Munro công bố mô tả loài năm 1868. Cây phân bố tự nhiên tại cao nguyên nhiệt đới ẩm Myanmar, Tây Bắc Thái Lan ở độ cao trên 1.200 m, thân cao 25 - 30 m, đường kính 18 - 30 cm, vách thân dày tới 2,5 cm, lóng dài 25 - 55 cm, chu kỳ ra hoa biến động 29, 40 hoặc 43 năm (Osmaston, 1918; Dransfield and Widjaja, 1995).

Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam

Các công trình phân loại và phân bố của Thái Văn Trừng (1978), Nguyễn Tử Ưởng (2001), Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn (2007) xác định Việt Nam là trung tâm phân bố tre nứa. Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005) ghi nhận 216 loài/phân loài tre nứa thuộc 25 chi; sau đó Nguyễn Hoàng Nghĩa và Trần Văn Tiến (2007) nâng lên 194 loài thuộc 26 chi, riêng chi Luồng (Dendrocalamus) có 21 loài.

Về nhân giống sinh dưỡng tre trúc:

  • Lê Quang Liên (2001, 2004) chiết cành chét thân ngầm một tuổi trên cây Luồng bọc bùn rơm đạt tỷ lệ ra rễ 97,5%.
  • Hoàng Vĩnh Tường (1977) nhân giống Luồng bằng hom cành có rễ khí sinh xử lý chất kích thích đạt tỷ lệ sống 90%.
  • Ngô Quang Đê và Lê Xuân Trường (2011), Nguyễn Huy Sơn và cs. (2013) nghiên cứu giâm hom cành, hom thân gốc cho các loài Luồng, Bương mốc, Mai xanh bằng cách xử lý IBA nồng độ 1.500 - 2.000 ppm.
  • Dương Mộng Hùng (2004) giâm hom thân ngầm Trúc sào tại Cao Bằng bằng chất điều hòa sinh trưởng Atonik đạt tỷ lệ sống 57,2%. Vũ Ngọc Phượng và cs., Lê Văn Hòa và cs. nuôi cấy mô in vitro tạo phôi soma cho Tre rồng (D. giganteus).

Về kỹ thuật gây trồng: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành quy phạm kỹ thuật trồng Luồng (04 TCN 21-2000), Tre Điềm trúc (04 TCN 69-2004) và Trúc sào (04 TCN 146:2006). Các nghiên cứu của Lê Nguyên Kế (1963), Đỗ Văn Bản (2005), Phạm Văn Điển và cs. khẳng định đất trồng tre mọc cụm cần có tầng dày, thoát nước tốt, mật độ kinh doanh tối ưu từ 400 đến 625 bụi/ha, cần kết hợp bón phân hữu cơ và vô cơ để duy trì năng suất.

Đối với loài Bương lông điện biên: Ban đầu Lê Viết Lâm và cs., Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005) định danh loài này là Dendrocalamus sinicus Chia et Sun. Nguyễn Văn Thọ (2012) phân tích các sai khác về hình thái mo thân và lưỡi mo. Trong luận án, trên cơ sở đối chiếu tiêu bản và hình thái học của đề tài KHCN cấp nhà nước, tác giả xác định tên khoa học chính thức của loài là Dendrocalamus giganteus Munro.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Luận án tập trung giải quyết khoảng trống học thuật và thực tiễn:

  1. Thiếu dữ liệu định lượng về đặc điểm hình thái thân khí sinh, kích thước lóng, độ dày vách thân, giải phẫu mắt ngủ thân ngầm và quy luật phát sinh măng theo mùa vụ của loài Bương lông điện biên tại Việt Nam.
  2. Chưa có quy trình nhân giống vô tính bằng phương pháp chiết gốc cành và giâm hom thân; chưa xác định được loại hóa chất kích thích ra rễ (IBA, NAA), nồng độ xử lý và mùa vụ chiết tối ưu.
  3. Thiếu cơ sở thực nghiệm về kỹ thuật gây trồng thâm canh: chưa xác định được mật độ trồng rừng non thích hợp và công thức phân bón (NPK phối hợp phân chuồng) ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của loài tại vùng trung tâm Bắc Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Đặc tính sinh học tre mọc cụm (Sympodial): Chi Dendrocalamus có thân ngầm hợp trục rất ngắn, các đốt mang chồi ngủ ngầm dưới đất; chồi phát triển thành măng rồi phát triển chiều cao hình thành thân khí sinh mới. Cành chét phát sinh từ các đốt trên thân khí sinh mang gốc phình to (dạng đùi gà) chứa mô phân sinh có khả năng cảm ứng ra rễ bất định khi được xử lý chất kích thích sinh trưởng.
  • Sinh lý kích thích ra rễ: Sử dụng các auxin ngoại sinh bao gồm Indol butyric axit (IBA) và Naphthalen axetic axit (NAA) nhằm kích hoạt sự hình thành mô sẹo, phân hóa tế bào mô phân sinh rễ tại phần gốc cành chiết và các mắt ngủ trên hom thân.
  • Lập địa lâm nghiệp: Phân tích sự phân bố và sinh trưởng của loài thông qua mối quan hệ tương hỗ với các nhân tố vô sinh (khí hậu, nhiệt độ, lượng mưa, độ dốc, tầng dày đất, thành phần cơ giới và độ phì đất) và nhân tố hữu sinh (thành phần cây gỗ, tầng cây bụi và thảm tươi).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp điều tra xã hội học lâm nghiệp: Sử dụng công cụ đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA), phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình trồng Bương lông điện biên tại các xã Nà Tấu, Nà Nhạn, Mường Phăng (huyện Điện Biên) bằng phiếu điều tra cấu trúc để thu thập dữ liệu về tập quán nhân giống, kỹ thuật trồng, mùa vụ sinh măng, tình hình khai thác và sử dụng.
  • Phương pháp điều tra lâm học:
    • Lập các ô tiêu chuẩn (OTC) diện tích $1.000\text{ m}^2$ ($N_k$ bụi/ha, $N_c$ cây/ha) tại các trạng thái rừng trồng vườn hộ ở Điện Biên và khu vườn sưu tập Đoan Hùng (Phú Thọ) để đo đếm các chỉ tiêu: đường kính gốc ($D_{00}$), đường kính đo tại lóng thứ 5 ($D_{05}$), đường kính ngang ngực tại vị trí $1,3\text{ m}$ ($D_{1.3}$), chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), chiều dài lóng ($L$), độ dày vách thân.
    • Theo dõi động thái sinh trưởng măng trên các cấp tuổi cây mẹ (tuổi 1, 2, 3) để xác định hệ số sinh măng (HSSM).
    • Lập các ô dạng bản (ODB) diện tích $4\text{ m}^2$ và $25\text{ m}^2$ trong OTC để điều tra thành phần cây bụi, thảm tươi và cây gỗ tái sinh đi kèm.
    • Đào phẫu diện đất, lấy mẫu đất ở các tầng phát sinh để phân tích các chỉ tiêu lý hóa học: thành phần cơ giới (tỷ lệ hạt cát, limon, sét), độ chua hóa học ($pH_{H2O}, pH_{KCl}$), hàm lượng mùn tổng số (%), đạm tổng số ($N%$), lân dễ tiêu ($P_2O_5$), kali dễ tiêu ($K_2O$).
  • Phương pháp bố trí thí nghiệm nhân giống:
    • Thí nghiệm chiết gốc cành: Chọn cành chét bánh tẻ trên thân cây mẹ 1 tuổi và 2 tuổi. Thí nghiệm bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với 2 loại chất kích thích sinh trưởng (IBA, NAA) ở 4 mức nồng độ (0,5%; 1,0%; 1,5%; 2,0%) cùng công thức đối chứng (Đ/C, không xử lý hóa chất). Thí nghiệm tiến hành trong 2 thời vụ: vụ Xuân (tháng 3/2015) và vụ Thu (tháng 8/2015). Đánh giá tỷ lệ ra rễ (%), số lượng rễ trung bình/cành, chiều dài rễ lớn nhất ($cm$), tỷ lệ sống của cành sau 6 tháng nuôi dưỡng tại vườn ươm. Thử nghiệm sản xuất cây giống quy mô lớn vào tháng 3/2016 bằng chất IBA 1,5%.
    • Thí nghiệm giâm hom thân: Bố trí thí nghiệm giâm đoạn thân 1 đốt và đoạn thân 2 đốt lấy từ cây mẹ 1 - 2 năm tuổi tại vườn ươm Chân Mộng, Đoan Hùng năm 2014.
  • Phương pháp bố trí thí nghiệm kỹ thuật gây trồng tại Đoan Hùng (Phú Thọ):
    • Thí nghiệm mật độ trồng: Bố trí theo khối ngẫu nhiên với các công thức mật độ khác nhau (diện tích ô thí nghiệm tương ứng), theo dõi tỷ lệ sống (%), phẩm chất cây và các chỉ tiêu sinh trưởng đường kính, chiều cao, số cây/bụi sau 21 tháng trồng.
    • Thí nghiệm bón phân: Bố trí các công thức thí nghiệm kết hợp phân chuồng hoai mục và phân khoáng NPK với liều lượng khác nhau cùng công thức đối chứng không bón phân, theo dõi tỷ lệ sống, số măng sinh ra và sinh trưởng sau 2 năm.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thực nghiệm được xử lý bằng toán xác suất thống kê sinh học trong lâm nghiệp, tính toán các đại lượng đặc trưng (trung bình, phương sai, hệ số biến động $S%$). Sử dụng phân tích phương sai (ANOVA/PTPS) để kiểm tra ý nghĩa sai khác giữa các công thức thí nghiệm chiết cành, mật độ, phân bón. Thiết lập các phương trình tương quan giữa chiều cao vút ngọn và đường kính ngang ngực ($H_{vn} - D_{1.3}$).

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Dữ liệu sử dụng trong luận án bao gồm: số liệu quan trắc khí hậu nhiều năm tại trạm khí tượng thủy văn Điện Biên (2011 - 2014) và trạm Phú Hộ (2010 - 2014); Niên giám thống kê tỉnh Điện Biên và tỉnh Phú Thọ năm 2014; Báo cáo phân vùng sinh thái lâm nghiệp của Vũ Tấn Phương (2011); số liệu điều tra trực tiếp ngoại nghiệp và số liệu từ các thí nghiệm thực nghiệm lâm sinh của tác giả thực hiện từ 2013 đến 2016.

TT Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội Tỉnh Điện Biên Tỉnh Phú Thọ
1 Khí hậu
- Nhiệt độ trung bình năm ($^\circ\text{C}$) 22,2 - 24,3 23,3 - 23,7
- Lượng mưa trung bình năm ($mm$) 1.344 - 2.385 1.321 - 1.888
- Số giờ nắng trung bình/năm ($giờ$) 1.430 - 2.022 1.106 - 1.373
- Độ ẩm không khí trung bình (%) 79 - 85 81 - 86
2 Địa mạo và độ cao
- Kiểu địa hình đặc trưng Núi dạng tuyến hướng TB - ĐN, thung lũng hẹp, chia cắt mạnh Gò đồi xen kẽ thoải, thung lũng trũng rộng, đồi vòm lượn sóng
- Độ cao phân bố phổ biến ($m$) 400 - 1.800 100 - 500
3 Đặc tính đất đai
- Nhóm đất chính Đất xám feralit, feralit đỏ vàng trên đá trầm tích, macma axit Đất feralit đỏ vàng trên đá phiến mica, phiến sét, nai và phù sa cổ
- Tầng dày đất Tầng dày trung bình, độ phì và hàm lượng mùn còn khá Trung bình đến mỏng, bị xói mòn mạnh ở nơi mất tán rừng
4 Thảm thực vật rừng Rừng kín hỗn loài lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, rừng tre nứa Rừng kín hỗn loài cây lá rộng thường xanh vùng thấp < 700 m, rừng thứ sinh
5 Tài nguyên đất (ha) Tổng diện tích tự nhiên: 956.330,47 Tổng diện tích tự nhiên: 353.456,10
- Đất nông nghiệp 143.370,37 268.423,00
- Đất lâm nghiệp 637.723,50 170.835,20
- Đất chưa sử dụng 148.563,04 14.197,90
6 Dân số và dân tộc
- Dân số (người) 538.228 1.351.048
- Mật độ dân số (người/$km^2$) 56,3 385
- Số lượng dân tộc chính 21 dân tộc 12 dân tộc
7 Kinh tế
- Tổng sản phẩm bình quân/năm (nghìn đồng/người) 19.003,0 27.600,0
- Lương thực có hạt bình quân (kg/người/năm) 458,8 399,5

(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2014 tỉnh Phú Thọ và tỉnh Điện Biên; Báo cáo phân vùng sinh thái Lâm nghiệp của Vũ Tấn Phương, 2011)


Nội dung chính theo từng chương

Mở đầu

Phần mở đầu luận án trình bày bối cảnh chung của ngành lâm nghiệp trong việc nghiên cứu và phát triển nhóm loài lâm sản ngoài gỗ, cụ thể là các loài tre trúc kích thước lớn theo chủ trương của Quyết định số 11/2011/QĐ-TTg. Tác giả luận giải tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ tiềm năng kinh tế - kỹ thuật vượt trội của loài Bương lông điện biên (Dendrocalamus giganteus Munro) đối với việc cung cấp nguyên liệu công nghiệp và thực phẩm vùng cao, đối lập với thực trạng gây trồng phân tán, quảng canh và sự bế tắc trong khâu tạo cây giống số lượng lớn bằng kỹ thuật vô tính. Trên cơ sở đó, luận án xác định mục tiêu tổng quát, 2 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn và khẳng định các đóng góp mới của công trình đối với lĩnh vực lâm sinh học tre trúc tại Việt Nam.

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo 4 nhóm nội dung trọng tâm:

  1. Nghiên cứu về phân bố, sinh thái tre trúc: Tổng hợp quy luật phân bố của tre trúc trên thế giới từ đai xích đạo đến ôn đới (Munro, Gamble, Rao and Rao, Dransfield and Widjaja) và tại Việt Nam (Thái Văn Trừng, Nguyễn Tử Ưởng, Lê Viết Lâm, Nguyễn Ngọc Bình). Điểm lại các kết luận về 2 đai độ cao phân bố tre trúc: đai dưới 700 - 800 m chủ yếu là tre thân ngầm mọc cụm nhiệt đới; đai trên 700 - 800 m là tre thân ngầm mọc tản á nhiệt đới.
  2. Nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống: Đánh giá ưu nhược điểm của 6 phương pháp nhân giống tre trúc: bằng hạt, hom gốc, hom thân ngầm, hom cành, chiết cành và nuôi cấy mô in vitro. Khẳng định đối với các loài tre có kích thước lớn, vách thân dày thuộc chi Dendrocalamus, phương pháp chiết cành chét mang đùi gà và giâm hom cành có triển vọng thực tiễn cao nhất khi kết hợp với chất điều hòa sinh trưởng auxin (IBA, NAA).
  3. Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng và lâm sinh: Phân tích các nghiên cứu về lập địa đất đai (đất feralit tầng dày, giàu mùn, ẩm, thoát nước tốt), mật độ trồng (khoảng 400 - 625 bụi/ha đối với tre lấy măng, 200 - 400 bụi/ha đối với tre thân lớn) và vai trò của phân bón NPK kết hợp phân chuồng hữu cơ trong việc tăng năng suất sinh măng và phục hồi sức sản xuất của bụi tre.
  4. Nghiên cứu về chi Luồng và loài Bương lông điện biên: Điểm lại lịch sử phân loại chi Dendrocalamus trên thế giới (khoảng 60 loài) và tại Việt Nam (21 loài theo Nguyễn Hoàng Nghĩa và Trần Văn Tiến). Phân tích quá trình định danh loài Bương lông điện biên từ Dendrocalamus sinicus sang xác lập Dendrocalamus giganteus Munro; làm rõ điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Điện Biên (tỉnh Điện Biên) và huyện Đoan Hùng (tỉnh Phú Thọ) làm căn cứ lựa chọn địa bàn nghiên cứu thực địa và khảo nghiệm lâm sinh.

Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết đối tượng, địa điểm, nội dung và các công cụ thực nghiệm lâm sinh của luận án:

  • Trình bày giới hạn nghiên cứu tập trung vào đặc điểm hình thái học, đặc điểm tái sinh măng, các yếu tố sinh thái lập địa (khí hậu, địa hình, đất, thực vật đồng hành), điều tra hiện trạng kỹ thuật gây trồng - khai thác - sử dụng của người dân địa phương.
  • Mô tả phương pháp thu thập số liệu ngoại nghiệp: hệ thống ô tiêu chuẩn diện tích $1.000\text{ m}^2$ điều tra thân cây đứng; phương pháp giải phẫu mắt ngủ thân ngầm; quy trình đào phẫu diện và phân tích hóa tính, thành phần cơ giới đất; phương pháp điều tra tầng cây bụi và thảm tươi qua các ô dạng bản.
  • Mô tả chi tiết sơ đồ bố trí thí nghiệm nhân giống vô tính: thí nghiệm chiết gốc cành trên cây mẹ 1 và 2 tuổi với 2 loại chất (IBA, NAA) ở 4 nồng độ (0,5%; 1,0%; 1,5%; 2,0%) và đối chứng trong vụ Xuân và vụ Thu; thí nghiệm giâm hom thân 1 đốt và 2 đốt; kỹ thuật đóng bầu nuôi dưỡng cây con sau chiết tại vườn ươm 6 tháng; thử nghiệm sản xuất giống năm 2016.
  • Trình bày sơ đồ bố trí thí nghiệm lâm sinh gây trồng rừng tại xã Chân Mộng, huyện Đoan Hùng (Phú Thọ): thí nghiệm các công thức mật độ trồng rừng non và thí nghiệm các công thức bón phân (NPK kết hợp phân chuồng).
  • Xác lập các thuật toán thống kê sinh học, quy trình phân tích phương sai (PTPS/ANOVA) và dạng phương trình tương quan đường kính - chiều cao ($H - D$) được sử dụng trong xử lý dữ liệu.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 là phần nội dung trọng tâm của luận án, trình bày toàn bộ số liệu và kết quả thực nghiệm qua 5 tiểu mục lớn tương ứng với các danh mục bảng biểu và hình vẽ của công trình:

3.1. Đặc điểm sinh học cây Bương lông điện biên

  • Đặc điểm hình thái: Cây mọc cụm dày, gốc dính liền. Thân khí sinh thẳng tròn đều, chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) đạt từ 20 đến 25 m, cá biệt có cây đạt gần 30 m; đường kính thân đo ở vị trí ngang ngực ($D_{1.3}$) dao động phổ biến từ 18 đến 25 cm, đường kính gốc ($D_{00}$) và đường kính lóng thứ 5 ($D_{05}$) đạt kích thước lớn. Thành vách thân khí sinh tại vị trí $1,3\text{ m}$ rất dày (đạt từ 2,0 đến 2,5 cm), mô cơ giới phát triển đặc chắc. Thân non màu xanh phủ lớp sáp phấn trắng, về già chuyển sang màu tro xám nhuốm vàng gần các đốt. Chiều dài lóng thay đổi theo vị trí thân, dao động từ 25 đến 55 cm. Cành phân từ vị trí khoảng 1/2 thân cây trở lên, mỗi đốt mang một cành chính to mập (cành đùi gà) và các cành phụ nhỏ hơn hai bên. Mo thân kích thước lớn, mặt ngoài phủ lông dày màu nâu hung, sớm rụng. Hoa tự dạng chùm lớn, ít hoa nhỏ lưỡng tính (được ghi nhận nở vào tháng 3/2015).
  • Đặc điểm tái sinh gốc thân ngầm: Thân ngầm thuộc dạng Sympodial (mọc cụm ngắn). Các mắt ngủ tập trung chủ yếu ở phần gốc thân ngầm của cây mẹ. Số lượng mắt ngủ hữu hiệu có khả năng phát triển thành măng giảm dần theo cấp tuổi cây mẹ: cây 1 tuổi và 2 tuổi có tỷ lệ mắt ngủ sung sức cao nhất, sang tuổi 3 các mắt ngủ bắt đầu teo thoái hóa. Khả năng sinh măng tập trung vào các tháng mùa mưa (từ tháng 6 đến tháng 10 hàng năm). Diễn biến quá trình sinh măng và hình thành thân khí sinh hoàn chỉnh kéo dài từ 3 đến 4 tháng; tốc độ sinh trưởng chiều cao của măng tăng nhanh nhất vào giai đoạn giữa mùa sinh trưởng và có cường độ tăng trưởng ban đêm cao hơn ban ngày.

3.2. Đặc điểm sinh thái cây Bương lông điện biên

  • Khí hậu: Thích nghi tốt trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có lượng mưa hàng năm từ 1.300 đến 2.300 mm, nhiệt độ trung bình năm từ 22 đến 24 °C, độ ẩm không khí bình quân trên 80%.
  • Địa hình: Tại Điện Biên, loài phân bố ở độ cao tuyệt đối từ 400 đến 1.000 m; tại Đoan Hùng (Phú Thọ) sinh trưởng tốt ở đai gò đồi thấp từ 100 đến 500 m. Cây phân bố tập trung ở các vị trí chân đồi, thung lũng, ven suối có độ dốc thấp đến trung bình ($15 - 25^\circ$), nơi tích tụ lớp đất dày và độ ẩm cao.
  • Thổ nhưỡng: Kết quả phân tích lý hóa tính đất dưới tán Bương lông điện biên cho thấy cây ưa đất có tầng dày trung bình đến dày ($> 70\text{ cm}$), thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt trung bình, đất tơi xốp, giữ ẩm tốt nhưng thoát nước nhanh, không chịu úng ngập. Hàm lượng mùn tổng số tầng mặt ở mức khá, đất có phản ứng chua ($pH_{KCl} < 5,0$).
  • Thành phần thực vật đồng hành: Tầng cây gỗ đi kèm gồm các loài cây bản địa nhiệt đới thứ sinh; tầng cây bụi và thảm tươi dưới tán rừng gồm các loài dương xỉ, cỏ lào, lau lách và các loài thuộc họ Hòa thảo chịu bóng thưa.

3.3. Thực trạng kỹ thuật gây trồng, khai thác, sử dụng và sinh trưởng

  • Thực trạng và tập quán địa phương: Điều tra PRA tại huyện Điện Biên cho thấy 100% hộ dân trồng Bương lông điện biên theo phương thức phân tán quanh nhà, chân đồi hoặc ven khe suối; việc nhân giống hoàn toàn bằng cách đào củ thân ngầm cây 1 - 2 tuổi. Rừng trồng không được bón phân hoặc tỉa thưa chăm sóc định kỳ.
  • Tình hình khai thác, sử dụng: Cây 3 - 4 tuổi được khai thác làm cột nhà, xà đỡ, vật liệu xây dựng, ống dẫn nước và đan lát gia dụng; măng tươi thu hoạch một phần phục vụ nhu cầu thực phẩm gia đình và bán tại thị trường địa phương.
  • Kết quả điều tra sinh trưởng và cấu trúc: Đánh giá mật độ bụi/ha ($N_k$), số cây đứng/ha ($N_c$), tỷ lệ phân bố số cây theo cấp tuổi trong bụi. Thiết lập bảng sinh trưởng đường kính và chiều cao theo cấp tuổi tại huyện Điện Biên và huyện Đoan Hùng; xây dựng các dạng phương trình tương quan toán học giữa chiều cao vút ngọn và đường kính ngang ngực ($H_{vn} = f(D_{1.3})$) cho độ tin cậy thống kê cao. Phân loại phẩm chất cây đứng trong quần thể (tỷ lệ cây tốt, trung bình, xấu).

3.4. Kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp chiết gốc cành và giâm hom thân

  • Phương pháp chiết gốc cành chét:
    • Ảnh hưởng của tuổi cành: Cành chét lấy từ cây mẹ 1 tuổ