Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm sinh học dinh dưỡng và sự tích tụ vi nhựa trong ống tiêu hóa của một số loài cá bống phân bố tại đầm thị nại tỉnh bình định

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm sinh học, dinh dưỡng và tích tụ vi nhựa trong ống tiêu hóa của cá bống tại đầm Thị Nại, Bình Định.

Trường đại học

Đại học Quy Nhơn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

84
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Nghiên cứu đặc điểm sinh học dinh dưỡng của cá bống tại đầm Thị Nại

Nghiên cứu tập trung vào đặc điểm sinh học dinh dưỡng của ba loài cá bống: cá bống thệ, cá bống chấm mắt và cá bống tro. Các loài này có tập tính ăn đa dạng, chủ yếu dựa vào thức ăn tự nhiên như động vật phù du, giáp xác nhỏ và mảnh vụn hữu cơ. Kết quả cho thấy sự khác biệt về chỉ số RLG (Relative Length of Gut) giữa các loài, phản ánh sự thích nghi với nguồn thức ăn khác nhau. Cá bống thệ có chỉ số RLG cao nhất, phù hợp với chế độ ăn chứa nhiều chất xơ, trong khi cá bống tro có chỉ số RLG thấp hơn, phù hợp với chế độ ăn giàu protein.

1.1. Tập tính dinh dưỡng của cá bống

Cá bống thệ, cá bống chấm mắt và cá bống tro có tập tính ăn khác nhau. Cá bống thệ chủ yếu ăn động vật phù du và mảnh vụn hữu cơ, trong khi cá bống chấm mắt ưa thích giáp xác nhỏ. Cá bống tro có xu hướng ăn tạp, bao gồm cả động vật phù du và giáp xác. Sự khác biệt này phản ánh sự thích nghi với môi trường sống và nguồn thức ăn sẵn có tại đầm Thị Nại.

1.2. Cấu trúc cơ quan tiêu hóa

Cấu trúc cơ quan tiêu hóa của cá bống phản ánh rõ ràng chế độ ăn của chúng. Cá bống thệ có ruột dài hơn, phù hợp với việc tiêu hóa thức ăn giàu chất xơ. Cá bống chấm mắt và cá bống tro có ruột ngắn hơn, phù hợp với chế độ ăn giàu protein. Sự khác biệt này cũng liên quan đến mức độ tích tụ vi nhựa trong ống tiêu hóa của các loài cá này.

II. Tích tụ vi nhựa trong cá bống tại đầm Thị Nại

Nghiên cứu đã phát hiện sự tích tụ vi nhựa trong ống tiêu hóa của cá bống tại đầm Thị Nại. Mật độ vi nhựa dao động từ 3,26 đến 30,33 hạt/cá thể, với sự khác biệt đáng kể giữa các loài và mùa. Cá bống thệ có mật độ vi nhựa cao nhất, có thể do tập tính ăn đáy và tiếp xúc nhiều với trầm tích bị ô nhiễm. Các loại vi nhựa phổ biến bao gồm sợi, mảnh và hạt, với kích thước từ 500 đến 2000 µm.

2.1. Mối liên hệ giữa tập tính dinh dưỡng và tích tụ vi nhựa

Có mối liên hệ rõ ràng giữa tập tính dinh dưỡng và mức độ tích tụ vi nhựa. Cá bống thệ, với tập tính ăn đáy, có mật độ vi nhựa cao nhất do tiếp xúc nhiều với trầm tích bị ô nhiễm. Cá bống chấm mắt và cá bống tro, với tập tính ăn tạp, có mật độ vi nhựa thấp hơn. Điều này cho thấy tập tính ăn đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mức độ nhiễm vi nhựa ở cá.

2.2. Tác động của vi nhựa đến hệ sinh thái

Vi nhựa không chỉ ảnh hưởng đến cá bống mà còn gây ra tác động tiêu cực đến toàn bộ hệ sinh thái nước ngọt tại đầm Thị Nại. Sự tích tụ vi nhựa trong cá bống có thể dẫn đến sự lan truyền ô nhiễm trong chuỗi thức ăn, ảnh hưởng đến các loài động vật thủy sinh khác và cuối cùng là con người. Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá và quản lý ô nhiễm vi nhựa tại đầm Thị Nại.

III. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản và quản lý ô nhiễm môi trường tại đầm Thị Nại. Kết quả nghiên cứu cung cấp dữ liệu khoa học về đặc điểm dinh dưỡng của cá bống, giúp xây dựng các biện pháp bảo tồn và phát triển nguồn lợi cá. Đồng thời, nghiên cứu cũng làm rõ thực trạng ô nhiễm vi nhựa, góp phần nâng cao nhận thức và đề xuất các chính sách giảm thiểu rác thải nhựa.

3.1. Ứng dụng trong bảo tồn nguồn lợi cá

Nghiên cứu cung cấp thông tin chi tiết về đặc điểm dinh dưỡng của cá bống, giúp xác định các biện pháp bảo tồn hiệu quả. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh nguồn lợi cá tại đầm Thị Nại đang bị suy giảm do khai thác quá mức và ô nhiễm môi trường.

3.2. Đề xuất giảm thiểu ô nhiễm vi nhựa

Kết quả nghiên cứu về tích tụ vi nhựa trong cá bống là cơ sở để đề xuất các chính sách giảm thiểu rác thải nhựa. Các biện pháp như quản lý rác thải, nâng cao nhận thức cộng đồng và thúc đẩy sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường cần được triển khai để bảo vệ hệ sinh thái tại đầm Thị Nại.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm sinh học dinh dưỡng và sự tích tụ vi nhựa trong ống tiêu hóa của một số loài cá bống phân bố tại đầm thị nại tỉnh bình định

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong các đầm phá ở Việt Nam, đầm Thị Nại ở Bình Định là đầm lớn thứ 2 sau đầm phá Tam Giang – Cầu Hai ở Thừa Thiên Huế. Đầm Thị Nại được bao bọc bởi thành phố Quy Nhơn và huyện Tuy Phước. Đầm này thuộc loại đầm kín, được che chắn bởi bán đảo Phương Mai dọc theo phía Đông với diện tích đầm khoảng 5.060 ha, dài khoảng 16km, rộng từ 500m đến 5km.

Mạng lưới sông suối đổ vào đầm khá dày đặc, trong đó, lớn nhất có sông Côn và Hà Thanh. Cả hai sông này đều bắt nguồn từ các vùng núi cao, nghiêng từ Tây sang Đông. Vào mùa khô, nước biển có khả năng thâm nhập sâu vào đầm. Còn vào mùa mưa, khi dòng nước ngọt của các con sông Côn, sông Hà Thanh và nhiều sông nhỏ khác đổ vào đầm thì độ mặn của nước giảm đi đáng kể.

Diện tích mặt nước ở Đầm Thị Nại tương đối lớn. Với đặc điểm đa dạng về các hệ sinh thái như rừng ngập mặn, thảm cỏ biển … đầm Thị Nại là nơi cư trú, kiếm ăn, sinh sản và ương giống của rất nhiều loài sinh vật, trong đó có cá. Nguồn lợi thủy sản ở đây đã mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho cộng đồng dân cư của các địa phương ven đầm. Các loài cá trong đầm khá đa dạng, với 119 loài (theo Nguyễn Đình Mão,1996) [22].

Tuy nhiên, trong những năm gần đây do ảnh hưởng của việc khai thác và các hoạt động khác diễn ra trong đầm và các vùng lân cận đã làm cho nguồn lợi cá suy giảm đáng kể [22]. Theo khảo sát của Võ Văn Chí và Nguyễn Thị Phương Hiền (2020) thành phần loài cá ở đầm Thị Nại chỉ có 95 loài, trong đó có 7 loài cá bống [4]. Cá bống là nhóm cá có thành phần loài lớn với khoảng 270 giống và 2000 loài đã được thế giới ghi nhận [41][84]. Theo Mai Đình Yên và cộng sự (1992), 2 ở Việt Nam có 5 họ cá bống (Eleotridae, Gobiidae, Periophthalmidae, Apocrypteidae và Gobioididae), trong đó họ Gobiidae có số lượng nhiều nhất (32 giống và 60 loài), họ Eleotridae có số lượng ít hơn (3 giống và 7 loài) [39].

Các loài cá bống ở đầm Thị Nại gần như xuất hiện quanh năm và là nguồn thực phẩm quan trọng của người dân địa phương, vì vậy được nhiều người dân khai thác. Do đó, nguồn lợi tự nhiên các loài này nói riêng và nguồn lợi cá trong đầm nói chung đang bị suy giảm. Do vậy, nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài cá này để góp phần bảo vệ nguồn lợi cá trong đầm là hết sức cần thiết. Bên cạnh đó, đầm Thị Nại cũng là nơi đón nhận hầu hết rác thải từ hai sông lớn (sông Hà Thanh và sông Côn) đổ về, đồng thời cũng hứng chịu lượng rác thải trực tiếp của người dân quanh đầm.

Đáng chú ý là trong các loại rác thải hiện nay, rác thải nhựa chiếm tỷ lệ đáng kể. Hầu hết các loại nhựa đều phân hủy chậm và lưu trữ lâu dài từ hàng trăm đến hàng ngàn năm trong môi trường tự nhiên, gây ra các tác động tiêu cực đến các hệ sinh thái biển và đại dương. Dưới tác động của sóng, nhiệt độ, tia UV, và các yếu tố môi trường khác thì các mảnh nhựa lớn dần bị vỡ vụn ra theo thời gian và trôi nổi trong đại dương [73]. Những hạt nhựa có kích thước < 5 mm được gọi là các hạt vi nhựa (microplastics) [82].

Hiện tại, vấn đề ô nhiễm rác thải nhựa ở các hệ sinh thái thủy sinh rất đáng báo động, trong đó có đầm Thị Nại. Võ Thị Ngọc Quyên (2021) đã cho thấy rằng, nước bề mặt và trầm tích đáy ở đầm Thị Nại đã bị nhiễm vi nhựa với mật độ lần lượt là 5,23-10,33 vi nhựa/m3 nước và 4133,33-9233,33 vi nhựa/kg trầm tích khô [24]. Ngoài ra, cũng theo tác giả này, hai loài sò huyết và sò lông trên đầm cũng bị nhiễm vi nhựa với mật độ 3,26-30,33 vi nhựa/cá thể [24]. Những kết quả này đã cho ta dự đoán rằng, các sinh vật khác trong đầm cũng có nguy cơ bị nhiễm vi nhựa.

Các loài cá bống như cá bống tro, cá bống chấm mắt, cá bống thệ,… thường có tập 3 tính sống đáy, với mật độ vi nhựa cao trong trầm tích đáy đã được đề cập nên khả năng các loài cá này bị nhiễm vi nhựa là rất cao. Với thực trạng như vậy, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh học dinh dưỡng và sự tích tụ vi nhựa trong ống tiêu hóa của một số loài cá bống phân bố tại đầm Thị Nại tỉnh Bình Định” để nắm bắt được đặc điểm dinh dưỡng của cá nhằm góp phần vào việc bảo vệ nguồn lợi cá, đồng thời còn thấy được sự liên kết giữa tập tính dinh dưỡng và khả năng bị nhiễm vi nhựa ở cá. Từ đó có những đánh giá chính xác hơn về khả năng nhiễm vi nhựa vào ống tiêu hóa của các loài cá, đặc biệt là những loài cá có kích thước nhỏ và thường được người dân địa phương tiêu thụ “nguyên con” mà không loại bỏ các cơ quan tiêu hóa trước khi chế biến thức ăn. Trên cơ sở đó giúp các nhà quản lý hiểu rõ hơn về thực trạng ô nhiễm rác thải vi nhựa ở đầm, từ đó có thể đưa ra các chính sách hợp lý nhằm giảm thiểu rác thải nhựa.

Mục tiêu nghiên cứu - Nghiên cứu đặc điểm sinh học dinh dưỡng của một số loài cá bống phân bố tại đầm Thị Nại tỉnh Bình Định. - Đánh giá mức độ tích tụ vi nhựa trong ống tiêu hóa của một số loài cá bống phân bố tại đầm Thị Nại tỉnh Bình Định và nhận định mối liên kết giữa tập tính dinh dưỡng và khả năng bị nhiễm vi nhựa ở các loài cá này. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn - Ý nghĩa khoa học: + Đưa ra số liệu về một số đặc điểm sinh học dinh dưỡng của một số loài cá bống phân bố ở Đầm Thị Nại để làm cơ sở cho việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi cá. + Cung cấp những chứng cứ khoa học về thực trạng nhiễm vi nhựa trong ống tiêu hóa của một số loài cá bống phân bố ở Đầm Thị Nại.

4 + Cung cấp những cơ sở để nhận định nguyên nhân, nguồn gây ô nhiễm rác thải vi nhựa ở đầm Thị Nại. - Ý nghĩa thực tiễn: + Kết quả nghiên cứu sẽ bổ sung những dẫn liệu khoa học quan trọng về đặc điểm đặc điểm dinh dưỡng của cá bống ở đầm Thị Nại, làm cơ sở khoa học cho những nghiên cứu tiếp theo về chế độ chăm sóc để nuôi thương phẩm, nhằm giảm áp lực khai thác nguồn lợi loài cá này trong tương lai. + Kết quả nghiên cứu giúp đánh giá thực trạng ô nhiễm vi nhựa ở đầm Thị Nại,tỉnh Bình Định, trên cơ sở đó giúp các nhà quản lý hiểu rõ hơn về thực trạng ô nhiễm vi nhựa ở đầm, từ đó có thể đưa ra các chính sách hợp lý nhằm giảm thiểu rác thải nhựa. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Điều kiện tự nhiên đầm Thị Nại 1. Vị trí địa lý - Vị trí: Đầm Thị Nại được bao bọc bởi thành phố Quy Nhơn và huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định. Một phần nhỏ của đầm Thị Nại được sử dụng làm cảng biển (Cảng Quy Nhơn). Đầm Thị Nại tương đối kín, nằm theo hướng Bắc Nam.

Cửa đầm thông với vịnh Quy Nhơn và hướng ra biển, phía Đông và Bắc đầm được ngăn cách với biển bằng dãy núi Phương Mai, phía Nam giáp thành phố Quy Nhơn, phía Tây giáp với các xã Phước Thắng, Phước Hòa, Phước Sơn, Phước Thuận thuộc huyện Tuy Phước. Vị trí địa lý đầm Thị Nại tỉnh Bình Định 6 - Diện tích: đầm Thị Nại là đầm nước mặn lớn nhất Tỉnh Bình Định, diện tích tự nhiên mặt đầm là 5.060ha, có chiều dài 16km, chiều rộng từ 500m đến 5.000m, độ sâu trung bình khoảng 1,2m. Cửa đầm thông với Vịnh Quy Nhơn hướng ra biển rất hẹp với độ rộng 400-500m, làm cho khả năng trao đổi nước với biển rất hạn chế. Địa hình, khí hậu, thủy văn Địa hình vùng đầm chủ yếu là trầm tích biển.

Vùng ven đầm được phù sa của các nhánh sông Côn và sông Hà Thanh bù đắp nên đất khá màu mỡ nhưng có độ nhiễm mặn cao. Đặc biệt, vùng các cửa sông có điều kiện đất đai và nguồn nước rất thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản. Đầm Thị Nại mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12. Nhiệt độ không khí trung bình hằng năm từ 26-27,50C.

Độ ẩm trong giới hạn từ 77% – 81%. Lượng mưa trung bình hằng năm tương đối thấp và đều, từ 2020-2060 mm/năm và tập trung 90% lượng mưa vào tháng 9 đến tháng 12. Tháng 10 và tháng 11 có lượng mưa nhiều nhất [16]. Mùa bão cũng trùng với mùa mưa với tần suất 1 đến 2 cơn bão trong năm.

Đầm Thị Nại được hình thành từ các nhánh sông Côn, sông Hà Thanh, Tân An, Cầu Gỗ và các suối nhỏ ở phía Nam núi Bà. Đầm Thị Nại cũng là nơi xảy ra sự tương tác mạnh mẽ của dòng triều từ biển Đông truyền vào, và dòng nước ngọt của sông Côn và sông Hà Thanh, Tân An, Cầu Gỗ chảy ra. Do đó, chế độ dòng chảy ở đây bị chi phối trực tiếp bởi dòng triều từ biển chảy vào và dòng sông chảy ra. Vào mùa khô, nước biển có khả năng thâm nhập sâu nhưng vào mùa mưa thì hầu hết là nước ngọt khi nước sông Côn, sông Hà Thanh và các sông nhỏ khác đổ vào.

Phần thượng lưu của hai con sông này hẹp và dốc nên khả năng tập trung lũ nhanh, khi chảy về đồng bằng 7 không có dòng chính mà chia thành nhiều nhánh nhỏ. Lũ tập trung nhanh nhưng rút cũng nhanh, thời gian ngập lụt thường chỉ kéo dài vài ngày. Lũ lớn thường tập trung vào chủ yếu vào tháng 10 và tháng 11. Tài nguyên sinh vật Cửa sông nhiệt đới là những vùng có năng suất sinh học cao do sự kết hợp của thủy triều thấp và dinh dưỡng phong phú từ các dòng sông.

Ngoài ra thảm thực vật ở cửa sông, đặc biệt là rừng ngập mặn đã góp phần vào năng suất sinh học nơi đây [50]. Môi trường sống ven biển, cửa sông là vùng sinh thái năng động và hiệu quả cho ấu trùng, con non, con trưởng thành của nhiều loài sống ở đây để sinh sản, tìm kiếm thức ăn và trú ẩn [51],[69],[85].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu đặc điểm sinh học dinh dưỡng và tích tụ vi nhựa trong cá bống tại đầm Thị Nại, Bình Định là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc phân tích đặc điểm sinh học, dinh dưỡng và mức độ tích tụ vi nhựa trong cá bống tại khu vực đầm Thị Nại, Bình Định. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về tình trạng ô nhiễm vi nhựa trong môi trường nước mà còn đánh giá tác động của nó đến hệ sinh thái và sức khỏe con người. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà khoa học, nhà quản lý môi trường và những người quan tâm đến bảo vệ môi trường biển.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề môi trường liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn nghiên cứu đánh giá ô nhiễm lưu vực sông Vàm Cỏ Tây và đề xuất biện pháp quản lý hợp lý, hoặc Luận văn thạc sĩ chuyên ngành khoa học môi trường đánh giá mức độ tồn dư Polyclo Biphenyl (PCB) trong đất tại một số khu vực của Hà Nội và đề xuất giải pháp. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ công nghệ môi trường nghiên cứu ứng dụng mô hình xúc tác quang AgTiO2 kết hợp đèn UVC để khử trùng và loại bỏ TOC trong nước mặt ở đồng bằng sông Cửu Long cũng là một tài liệu tham khảo hữu ích về giải pháp công nghệ xử lý ô nhiễm nước.