Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Triệu Sinh Lý (2015) chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, tập trung vào đối tượng loài Re hương (Cinnamomum parthenoxylon (Jack) Meisn.) tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Về bối cảnh thực tiễn, tác giả nêu rõ Re hương là loài cây gỗ lớn quý hiếm có giá trị cao về sinh học, sinh thái và kinh tế. Rừng của tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện Võ Nhai nói riêng, đặc biệt là Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, đang đối mặt với tình trạng khai thác trái phép nghiêm trọng. Các loài cây gỗ có giá trị kinh tế và bảo tồn cao như Re hương, Nghiến, Trai lý, Đinh dần bị mất đi. Theo điều tra lịch sử khai thác từ người dân địa phương, trước những năm 1980, Re hương chỉ được thu hái lá làm thuốc tắm. Giai đoạn từ 1980 đến 1995, loài cây này bị khai thác ồ ạt; người dân đào cả gốc và rễ để chưng cất tinh dầu bán sang Trung Quốc, thân cành hầu như bị bỏ lại hoặc dùng làm nhà. Từ năm 1995 trở lại đây, số lượng cá thể suy giảm kiệt quệ; các cây còn sót lại tiếp tục bị khai thác để làm đồ mỹ nghệ và nội thất cao cấp (lục bình, bàn ghế, sập, tủ) do gỗ có vân đẹp, mùi thơm và không bị mối mọt. Tình trạng khai thác cạn kiệt cùng khả năng tái sinh tự nhiên kém khiến loài đứng trước nguy cơ biến mất hoàn toàn ngoài tự nhiên.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định thành 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Đánh giá được sự hiểu biết của người dân địa phương về cây Re hương có trong khu vực nghiên cứu.
- Xác định được đặc điểm hình thái của cây Re hương tại huyện Võ Nhai.
- Xác định được một số đặc điểm sinh thái học của cây Re hương, từ đó đề xuất một số giải pháp để bảo tồn và phát triển loài.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Loài cây Re hương (Cinnamomum parthenoxylon (Jack) Meisn.), thuộc họ Long não (Lauraceae).
- Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên; khảo sát tập trung tại khu vực phía Bắc gồm 6 xã (Cúc Đường, Thần Sa, Thượng Nung, Sảng Mộc, Nghinh Tường, Vũ Chấn), khu vực phía Nam gồm 5 xã (Liên Minh, Tràng Xá, Phương Giao, Dân Tiến, Bình Long) và dải cảnh quan dọc Quốc lộ 1B gồm 3 xã (La Hiên, Lâu Thượng, Phú Thượng) cùng Thị trấn Đình Cả.
- Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành thu thập số liệu thực địa từ tháng 7/2014 đến tháng 12/2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của khóa luận dựa trên hai phương thức bảo tồn đa dạng sinh học chính tại Việt Nam: bảo tồn nội vi (in-situ) thông qua hệ thống rừng đặc dụng và bảo tồn ngoại vi (ex-situ) qua các vườn thực vật, ngân hàng gen và vườn ươm giống. Về vị trí phân loại và tình trạng pháp lý, loài được đối chiếu theo:
- Sách đỏ Việt Nam (2007): Phân hạng Cực kỳ nguy cấp (CR A1a,c,d).
- Sách đỏ thế giới (IUCN 2011): Phân hạng Thiếu dữ liệu (DD ver 2.3).
- Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ: Thuộc Nhóm IIA (thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại).
Tác giả kế thừa các công trình nghiên cứu phân loại họ Long não (Lauraceae) của Loureiro (1793), Pierre (1880), Gagnepain (1907), Lecomte (1913), Merrill (1935), tài liệu cây thuốc của Đỗ Tất Lợi (1991), cùng các nghiên cứu lâm sinh chuyên sâu về Re hương của Lê Thị Diên và cộng sự (2010) tại Vườn quốc gia Bạch Mã, tài liệu kỹ thuật của Công ty Nông Lâm Nghiệp Đồng Tiến (2004) và nghiên cứu tái sinh của Phạm Thị Vân (2013) tại Khu bảo tồn Nam Xuân Lạc (Bắc Kạn).
Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý dữ liệu bao gồm:
- Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng phiếu điều tra phỏng vấn trực tiếp 50 người dân địa phương (người từng khai thác, người am hiểu rừng, cán bộ kiểm lâm và tuần tra) để xác định lịch sử khai thác, phân bố và giá trị sử dụng.
- Phương pháp nghiên cứu hình thái: Quan sát mô tả chi tiết thân, rễ, lá, hoa, quả kết hợp đối chiếu tài liệu thực vật học của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997, 2000, 2008); thu mẫu tiêu bản bảo quản bằng cồn để giám định taxon.
- Phương pháp điều tra theo tuyến: Lập 12 tuyến điều tra với tổng chiều dài 60 km cắt qua các trạng thái rừng IIA, IIB, IIIA1, IIIA2 để ghi nhận sự xuất hiện của loài trong tự nhiên.
- Phương pháp điều tra cây cá thể phân tán: Tiếp cận các cây còn sót lại trong vườn nhà, nương rẫy hộ gia đình thông qua chỉ dẫn của chính quyền xã và kiểm lâm địa bàn.
- Phương pháp lập ô tiêu chuẩn (OTC): Do không gặp cá thể ngoài tuyến rừng tự nhiên, tác giả lập 7 OTC điển hình (diện tích 1.000 m², kích thước 20 m x 50 m) tại các khu rừng hộ dân có trạng thái IIA, IIB, IIIA1 nơi có Re hương phân bố. Đo đường kính thân tại vị trí $D_{1.3} \ge 6\text{ cm}$, chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), chiều cao dưới cành ($H_{dc}$), đường kính tán ($D_t$) theo phương pháp điều tra lâm học của Hoàng Kim Ngũ và Phùng Ngọc Lan (2005).
- Phương pháp điều tra tái sinh: Trong mỗi OTC 1.000 m², lập 5 ô dạng bản (ODB) diện tích 25 m² (5 m x 5 m; 4 ô ở bốn góc và 1 ô ở trung tâm; tổng diện tích 125 m²/OTC) theo phương pháp của Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001) và Phạm Ngọc Thường (2001). Đo đếm tên loài, cấp chiều cao, nguồn gốc (hạt hoặc chồi) và phân cấp chất lượng (tốt, trung bình, xấu).
- Phương pháp điều tra cây bụi và thảm tươi: Dùng thước dây đo đếm chiều dài đoạn tán che phủ trên 2 đường chéo của ODB để tính độ che phủ trung bình.
- Phương pháp phân tích đất: Đào phẫu diện đất tại các OTC, mô tả lý tính (độ dày tầng đất, màu sắc, độ ẩm, độ xốp, tỷ lệ đá lẫn, thành phần cơ giới) và lấy mẫu ở các tầng phát sinh ($A_0, A_1, B$) chuyển về Viện Khoa học Sự sống – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên phân tích pH, hàm lượng mùn và các chất đa lượng N, P, K.
- Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel tính toán chỉ số mức độ quan trọng ($IV%$), hệ số tổ thành tầng cây cao ($Ki$), công thức tổ thành cây tái sinh ($n% \ge 5%$) và mật độ tái sinh ($N/\text{ha}$).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự suy giảm đa dạng sinh học toàn cầu và tại Việt Nam. Văn bản nhấn mạnh vai trò của hệ sinh thái rừng vùng núi đá vôi huyện Võ Nhai và Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng. Tác giả xác định rõ mục tiêu, ý nghĩa học tập và ý nghĩa thực tiễn của công trình trong việc phục vụ công tác quy hoạch, bảo tồn nguồn gen lâm nghiệp quý hiếm.
Phần 2: Tổng quan nghiên cứu
Chương này tổng kết cơ sở lý luận về bảo tồn nội vi và ngoại vi; khái quát lịch sử nghiên cứu chi Cinnamomum trên thế giới (khoảng 250 loài) và họ Long não (Lauraceae) tại Việt Nam (21 chi, 275 loài). Tác giả tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Võ Nhai: địa hình núi đá vôi chiếm 92%, chia thành 3 tiểu vùng; khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình tháng 6 - 7 đạt 27,9°C, lượng mưa trung bình 1.941,5 mm; mạng lưới sông Nghinh Tường, sông Rong; dân số năm 2010 là 64.241 người gồm 8 dân tộc (Kinh 34,17%, Tày 29,88%, Nùng 14,52%, Dao 12,63%...). Đồng thời, chương 2 điểm cứu các nghiên cứu về nhân giống giâm hom và tái sinh của loài tại Vườn quốc gia Bạch Mã và Khu bảo tồn Nam Xuân Lạc.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết hệ thống chỉ tiêu theo dõi, dụng cụ thực địa (GPS, địa bàn, thước kẹp kính, thước đo cao, túi lấy mẫu) và các công thức toán học lâm sinh phục vụ xử lý số liệu. Quy định rõ cách tính tổ thành tầng cây cao theo chỉ số $IV%$, cách lập công thức tổ thành cây tái sinh (chỉ ghi nhận các loài có tỷ lệ tham gia từ 5% trở lên), tiêu chí phân loại chất lượng cây con triển vọng và phương pháp lấy mẫu đất phẫu diện tại hiện trường.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn bộ các dẫn liệu định lượng thu thập được tại huyện Võ Nhai qua các tiểu mục:
- Hiểu biết và sử dụng của người dân: Tổng hợp thông tin từ 50 phiếu phỏng vấn về các thời kỳ khai thác gốc rễ nấu tinh dầu, làm đồ gỗ gia dụng và hiện trạng sử dụng gỗ mỹ nghệ.
- Phân loại học: Định danh khoa học của loài Re hương (Cinnamomum parthenoxylon (Jack) Meisn.), hệ thống tên đồng nghĩa, vị trí phân loại từ ngành đến chi và cấp bảo tồn theo Sách đỏ 2007, IUCN 2011, Nghị định 32/2006/NĐ-CP.
- Đặc điểm hình thái: Mô tả chi tiết thân (cao tới 30 m, đường kính 70-90 cm, vỏ xám nâu khía rãnh dọc), rễ (vỏ ngoài nứt nâu, lõi nâu đỏ, thơm), lá (dài 9-11 cm, rộng 4-5 cm, lá non màu đỏ, lá già mặt trên xanh nhẵn, mặt dưới xanh bạc, cuống 2-3 cm), cụm hoa chùy nách lá (dài 6-12 cm, bao hoa 6 thùy có lông, 9 nhị hữu thụ chia 3 vòng) và quả (hình cầu đường kính 8-10 mm, non màu xanh, chín màu nâu).
- Đặc điểm phân bố: Trình bày kết quả điều tra 12 tuyến (tần suất 0%) và kết quả thống kê 51 cá thể phân tán trên đất vườn, đất rừng của hộ dân tại 6 xã.
- Cấu trúc tầng cây cao: Phân tích tổ thành loài tại 7 OTC, xác lập công thức tổ thành chung của tầng cây gỗ và vai trò của các loài ưu thế đi kèm (Trám, Dẻ gai, Lim sẹt bắc, Sấu, Xoan ta).
- Ánh sáng và độ tàn che: Đánh giá độ tàn che trung bình tại các OTC có Re hương phân bố, làm rõ đặc tính ưa sáng của loài.
- Đặc điểm tái sinh: Phân tích công thức tổ thành tầng tái sinh, nguồn gốc tái sinh (hạt chiếm 82,3%, chồi chiếm 17,7%), chất lượng tái sinh (tốt 45,7%, trung bình 41%, xấu 13,3%) và mật độ tái sinh trung bình đạt 114 cây/ha.
- Đặc điểm cây bụi, thảm tươi, độ cao và lập địa: Ghi nhận loài phân bố chủ yếu ở đồi núi đất độ cao 100 - 700 m; rất hiếm gặp ở núi đá vôi hoặc nơi có đá lộ đầu; tổng hợp tính chất lý - hóa học của đất phẫu diện.
- Đề xuất biện pháp bảo tồn: Xây dựng giải pháp kỹ thuật lâm sinh, bảo tồn nội vi, ngoại vi và cơ chế quản lý cộng đồng.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Đưa ra kết luận tổng kết về hiện trạng tài nguyên loài, các thông số hình thái - sinh thái điển hình và kiến nghị các giải pháp cấp bách nhằm bảo vệ nguồn gen Re hương tại địa phương.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm nguyên gốc về thực trạng phân bố, cấu trúc sinh thái và đặc điểm tái sinh của loài Re hương tại huyện Võ Nhai.
Số liệu phân bố cá thể Re hương tại các hộ dân
Qua khảo sát 12 tuyến điều tra với tổng chiều dài 60 km trong rừng tự nhiên (lập 60 OTC), tác giả không ghi nhận được bất kỳ cá thể Re hương nào (tần số xuất hiện 0%). Sự tồn tại của loài trên địa bàn huyện chỉ còn được ghi nhận dưới dạng cây phân tán trong vườn nhà và diện tích rừng giao cho hộ dân tại 6 xã, với tổng số 51 cá thể:
| STT |
Địa bàn hành chính (Xã) |
Số lượng cá thể ghi nhận (Cây) |
| 1 |
Xã Cúc Đường |
2 |
| 2 |
Xã Vũ Chấn |
16 |
| 3 |
Xã Nghinh Tường |
14 |
| 4 |
Xã Sảng Mộc |
2 |
| 5 |
Xã Thần Sa |
1 |
| 6 |
Xã Liên Minh |
16 |
| Tổng |
Toàn huyện Võ Nhai |
51 |
Cấu trúc lâm phần và đặc điểm sinh thái nơi có Re hương
Tại 7 OTC điển hình (diện tích 1.000 m²/ô) lập trên đất rừng hộ dân có Re hương sinh sống:
- Thành phần loài cây gỗ tầng cao biến động từ 26 đến 33 loài. Re hương chỉ tham gia vào công thức tổ thành ở 3 ô (OTC 1, OTC 2, OTC 7); ở 4 ô còn lại (OTC 3, OTC 4, OTC 5, OTC 6), loài chỉ xuất hiện rải rác với hệ số dưới 5%.
- Công thức tổ thành tầng cây gỗ chung (tổng hợp 30 loài):
$$\text{CT} = 14,8\text{T} + 5,6\text{Dg} + 5,5\text{Lsb} + 5,4\text{Sa} + 8,3\text{Xt} + 5,2\text{Re} + 55,2\text{Lk}$$
(Trong đó: T: Trám; Dg: Dẻ gai; Lsb: Lim sẹt bắc; Sa: Sấu; Xt: Xoan ta; Re: Re hương; Lk: Các loài khác).
- Re hương chiếm tỷ lệ tổ thành 5,2% ở tầng cây cao.
- Độ tàn che của tán rừng tại các OTC dao động từ 0,38 đến 0,49; độ tàn che trung bình là 0,43. Kết quả này phản ánh Re hương là loài cây ưa sáng, sinh trưởng ở các lâm phần có tán che trung bình - thưa.
- Về độ cao: Cây phân bố chủ yếu ở vùng đồi núi đất có độ cao từ 100 m đến 700 m; rất hiếm khi xuất hiện trên núi đá vôi hoặc các sườn núi có đá lộ đầu.
Đặc điểm lớp cây tái sinh tự nhiên
Điều tra tại 5 ODB (tổng diện tích 125 m²) bên trong mỗi OTC cho thấy:
- Công thức tổ thành cây tái sinh chung (tổng hợp 26 loài):
$$\text{CT} = 13,0\text{T} + 11,5\text{Bd} + 10,2\text{Co} + 7,9\text{Ch} + 6,6\text{Xd} + 5,0\text{Lsb} + 6,0\text{Re} + 39,8\text{Lk}$$
(Trong đó: T: Trám; Bd: Bồ đề; Co: Cọ; Ch: Chẩu; Xd: Xoan đào; Lsb: Lim sẹt bắc; Re: Re hương; Lk: Các loài khác).
- Re hương tái sinh chỉ xuất hiện trong ODB của 3 ô tiêu chuẩn (OTC 2, OTC 3, OTC 6) - nơi tập trung các cá thể mẹ. Ở tầng tái sinh, loài chiếm 6,0% trong công thức tổ thành chung.
- Nguồn gốc tái sinh: Tái sinh từ hạt chiếm ưu thế tuyệt đối với tỷ lệ trung bình 82,3%; tái sinh từ chồi chỉ chiếm 17,7%.
- Chất lượng cây tái sinh: Cây tốt đạt 45,7%; cây trung bình đạt 41,0%; cây chất lượng xấu chiếm 13,3%.
- Mật độ tái sinh của Re hương: OTC 2 đạt 240 cây/ha; OTC 3 đạt 160 cây/ha; OTC 6 đạt 400 cây/ha. Mật độ tái sinh trung bình tính trên toàn bộ 7 OTC là 114 cây/ha.
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
Dựa trên kết quả thực địa, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn và phát triển loài:
- Bảo tồn nội vi: Khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt các diện tích rừng còn cá thể mẹ tại các xã Vũ Chấn, Liên Minh, Nghinh Tường; ngăn chặn triệt để hành vi đào gốc rễ nấu tinh dầu và khai thác gỗ làm đồ mỹ nghệ. Áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh như phát dọn dây leo, bụi rậm chèn ép, xới xáo đất xung quanh gốc cây mẹ trước mùa quả chín (tháng 6 - 9) nhằm tạo điều kiện cho hạt tiếp xúc với đất ẩm, nâng cao tỷ lệ nảy mầm tự nhiên.
- Bảo tồn ngoại vi: Thu hái hạt giống đạt tiêu chuẩn và vật liệu cành hom từ các cây mẹ khỏe mạnh để nhân giống nhân tạo. Ứng dụng kỹ thuật giâm hom trong mùa khô kết hợp chất kích thích ra rễ (đã được khẳng định đạt tỷ lệ ra rễ tới 65% từ các nghiên cứu kế thừa). Đưa cây con vào trồng bổ sung tại các khu rừng phục hồi sinh thái của Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng và xây dựng vườn sưu tập nguồn gen.
- Giải pháp quản lý và xã hội: Giao đất, giao rừng gắn liền với cơ chế chi trả và quyền lợi bảo vệ nguồn gen đặc hữu cho các hộ dân sở hữu cây cá thể; tăng cường công tác tuần tra của Hạt Kiểm lâm Võ Nhai; tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng nhằm xóa bỏ tình trạng khai thác rễ cây cạn kiệt.
Đóng góp của đề tài
Công trình là báo cáo điều tra lâm học đầu tiên cung cấp số liệu thực địa chi tiết về tình trạng cạn kiệt của Re hương tại huyện Võ Nhai. Nghiên cứu chỉ ra nghịch lý: mặc dù trong rừng tự nhiên loài đã biến mất trên các tuyến điều tra chuẩn, nhưng nguồn gen quý vẫn còn được lưu giữ rải rác trong nương rẫy, vườn hộ dân. Các chỉ số định lượng về công thức tổ thành, độ tàn che (0,43) và mật độ tái sinh (114 cây/ha) là cơ sở khoa học trực tiếp phục vụ công tác quy hoạch bảo tồn tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, do nguồn kinh phí và thời gian thực hiện đề tài giới hạn trong 6 tháng (tháng 7 đến tháng 12/2014), tác giả chưa thể theo dõi trọn vẹn chu kỳ vật hiện kéo dài cả năm của loài, đặc biệt là giai đoạn ra hoa tự nhiên (diễn ra từ tháng 1 đến tháng 5). Ngoài ra, do Re hương ngoài tự nhiên bị suy giảm quá mức nên tác giả không thể thiết lập ô tiêu chuẩn ngẫu nhiên trên các tuyến rừng nguyên sinh mà bắt buộc phải chọn ô tiêu chuẩn điển hình tại diện tích đất của hộ dân. Mẫu cây tái sinh chỉ bắt gặp tại 3 trong số 7 OTC khảo sát.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được văn bản định hướng là:
- Tiếp tục theo dõi nhịp điệu sinh trưởng, mùa hoa quả qua nhiều năm trên các cây cá thể tại địa phương.
- Thử nghiệm gieo ươm hạt và hoàn thiện kỹ thuật giâm hom Re hương trực tiếp tại các vườn ươm lâm nghiệp trên địa bàn huyện Võ Nhai để phục vụ trồng rừng bảo tồn.
Giá trị tham khảo
Khóa luận tốt nghiệp này là tài liệu tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên, học viên cao học các ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh thái học và Đa dạng sinh học tham khảo về phương pháp tiếp cận điều tra các loài thực vật quý hiếm bị suy kiệt nghiêm trọng (kết hợp phỏng vấn dân sinh, điều tra theo tuyến và điều tra cây phân tán).
- Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng và Hạt Kiểm lâm huyện Võ Nhai sử dụng số liệu định vị 51 cá thể Re hương tại 6 xã để lập phương án bảo vệ nguồn gen tại chỗ.
- Các nghiên cứu sinh lâm nghiệp quan tâm đến cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ và đặc tính tái sinh của nhóm loài cây bản địa thuộc họ Long não (Lauraceae) tại vùng núi Đông Bắc Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Tần suất xuất hiện của cây Re hương ngoài các tuyến rừng tự nhiên tại huyện Võ Nhai được ghi nhận như thế nào?
Qua khảo sát 12 tuyến điều tra với tổng chiều dài 60 km và lập 60 ô tiêu chuẩn trên các trạng thái rừng tự nhiên IIA, IIB, IIIA1, IIIA2, tác giả ghi nhận số cây Re hương bắt gặp là 0 cây, tương ứng với tần suất xuất hiện 0%. Điều này phản ánh loài cây này đã bị khai thác kiệt quệ trong tự nhiên từ giai đoạn 1980 - 1995.
2. Tổng số cây Re hương ghi nhận được tại huyện Võ Nhai là bao nhiêu và phân bố tập trung ở đâu?
Tác giả ghi nhận tổng cộng 51 cá thể Re hương phân tán trên đất vườn và đất rừng của các hộ dân tại 6 xã. Trong đó, số lượng cá thể phân bố nhiều nhất tại xã Vũ Chấn (16 cây) và xã Liên Minh (16 cây), tiếp theo là xã Nghinh Tường (14 cây), xã Cúc Đường (2 cây), xã Sảng Mộc (2 cây) và ít nhất là xã Thần Sa (1 cây).
3. Tỷ lệ tham gia của Re hương trong công thức tổ thành tầng cây gỗ và tầng cây tái sinh là bao nhiêu?
Trong công thức tổ thành chung của tầng cây gỗ (gồm 30 loài tại 7 OTC), Re hương tham gia với tỷ lệ 5,2% (công thức: $14,8\text{T} + 5,6\text{Dg} + 5,5\text{Lsb} + 5,4\text{Sa} + 8,3\text{Xt} + 5,2\text{Re} + 55,2\text{Lk}$). Ở tầng cây tái sinh (gồm 26 loài), Re hương chiếm tỷ lệ 6,0% (công thức: $13,0\text{T} + 11,5\text{Bd} + 10,2\text{Co} + 7,9\text{Ch} + 6,6\text{Xd} + 5,0\text{Lsb} + 6,0\text{Re} + 39,8\text{Lk}$).
4. Đặc điểm nguồn gốc, chất lượng và mật độ cây Re hương tái sinh được xác định như thế nào?
Re hương tái sinh chỉ xuất hiện ở 3/7 OTC (OTC 2, 3, 6). Nguồn gốc tái sinh chủ yếu từ hạt (trung bình chiếm 82,3%), tái sinh bằng chồi chiếm 17,7%. Phẩm chất cây con gồm 45,7% cây tốt, 41,0% cây trung bình và 13,3% cây xấu. Mật độ tái sinh dao động từ 160 đến 400 cây/ha tại 3 ô có cây con, và đạt bình quân 114 cây/ha trên toàn bộ 7 ô khảo sát.
5. Độ tàn che trung bình của các lâm phần có Re hương phân bố là bao nhiêu và mang ý nghĩa sinh thái gì?
Độ tàn che trung bình của các OTC có Re hương phân bố là 0,43 (dao động từ 0,38 đến 0,49). Chỉ số này chỉ ra rằng Re hương là loài cây ưa sáng, thích hợp phân bố ở các trạng thái rừng phục hồi có tán che hở vừa phải, không sinh trưởng dưới tán rừng quá rậm rạp.
Kết luận
Khóa luận của Triệu Sinh Lý (2015) đã làm rõ thực trạng suy kiệt nghiêm trọng của loài Re hương (Cinnamomum parthenoxylon) tại huyện Võ Nhai khi loài hoàn toàn vắng bóng trên 12 tuyến điều tra rừng tự nhiên và chỉ còn sót lại 51 cá thể phân tán trong nương rẫy, vườn hộ dân. Bằng phương pháp điều tra lâm học kết hợp xã hội học, tác giả đã định lượng được cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ (Re hương chiếm 5,2%), đặc tính ưa sáng (độ tàn che trung bình 0,43) và mật độ tái sinh tự nhiên từ hạt còn rất thấp (114 cây/ha). Công trình đã đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn nội vi kết hợp bảo tồn ngoại vi và giao khoán quản lý cho cộng đồng, cung cấp cơ sở dữ liệu thực địa phục vụ công tác bảo tồn nguồn gen lâm nghiệp đặc hữu nguy cấp tại tỉnh Thái Nguyên.