Đặt vấn đề Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam nói riêng và các nước trên thế giới nói chung thì sự mất mát về các nguồn tài nguyên khác cũng đã diễn ra cụ thể là đa dạng sinh học ngày càng suy giảm nhanh chóng. Đặc biệt là các loài động thực vật quý hiếm có giá trị như cây Re hương cũng đang đứng trước nguy cơ đó. Trong quá trình phát triển tiếp theo đòi hỏi chúng ta có nhận thức và hành động có trách nhiệm và đầy đủ hơn đối với hệ sinh thái để đạt được sự bền vững, trong đó có sự nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài cây Re hương quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng và có nhiều giá trị không chỉ về sinh học, sinh thái môi trường mà còn cho đời sống xã hội, trong đó có loài Re hương. Rừng là yếu tố quan trọng đối với môi trường luôn giữ vai trò quan trọng không gì thay thế được đối với việc phòng hộ, duy trì cân bằng sinh thái, bảo vệ tính đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn gen, cung cấp nhiều loại lâm sản quý phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của hàng triệu đồng bào miền núi.
đáp ứng những nhu cầu cơ bản ngày càng cao của con người. Tuy nhiên, khi xã hội ngày càng phát triển, sự gia tăng dân số càng không thể thay thế được trong việc duy trì cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường, rừng ngày càng bị thu hẹp về diện tích, giảm sút về chất lượng. Nguyên nhân chủ yếu của mất rừng là sự can thiệp thiếu hiểu biết của con người. Với đời sống khó khăn, nghèo đói thì con người đã tác động vào rừng một cách quá khả năng phục hồi của nó.
Ngoài ra, cũng có những nguyên nhân liên quan tới tính không hợp lý của các biện pháp kỹ thuật lâm sinh, hoặc những biện pháp về kinh tế xã hội thiếu khoa học đã làm gia tăng những tác động tiêu cực đến rừng. Rừng của tỉnh Thái Nguyên nói chung và của huyện Võ Nhai nói riêng không thể tránh tình trạng nói trên. Tình trạng xâm hại trái phép nguồn tài nguyên rừng diễn ra ngày càng phức tạp như lâm tặc lén vào vườn săn bắn và e 2 khai thác bừa bãi dẫn đến nhiều loài cây gỗ có giá trị kinh tế cao hoặc quý hiếm, đặc hữu dần mất đi như: Re hương, ghiến, trai lý, đinh… và thay vào đó là các loài cây ít giá trị. Đây là mối nguy hại lớn nhất mà Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Phượng Hoàng của huyện võ đã và đang đối mặt với mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và bảo tồn loài Re hương nói riêng ở đây.
Nằm ở khu vực Đông Nam Châu Á, với tổng diện tích tự nhiên khoảng 330.541 km2, Việt Nam là một trong 16 nước có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới. Với vị trí địa lý và đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa của Bắc bán cầu, đã góp phần tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái và các loài sinh vật. Về mặt địa lý, Việt Nam là nơi giao thoa của hệ động thực vật vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc và Inđô- Malaixia, đã giúp hệ động thực vật của nước ta rất phong phú. Theo các nhà khoa học, ở Việt Nam có khoảng trên 12.680 loài thực vật đã được đặt tên, 276 loài thú, 828 loài chim, 258 loài bò sát, 5000 loài côn trùng, 82 loài ếch nhái, 3.109 loài cá, … Nhưng hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguyên ĐDSH đã và đang suy giảm.
Để tìm hiểu một số loài động thực vật đó tôi tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài cây re hương (Cinnamomum parthenoxylon (Jack.) làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài tại huyện võ nhai tỉnh thái nguyên”. Mục tiêu - Đánh giá được sự hiểu biết của người dân địa phương về cây Re hương có trong khu vực nghiên cứu. - Xác định được đặc điểm hình thái của cây Re hương tại huyện Võ Nhai. - Xác định được một số đặc điểm sinh thái học của cây Re hương, từ đó đề xuất một số giải pháp để bảo tồn và phát triển loài.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập Thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm củng cố phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên, giúp sinh viên vận dụng kiến thức đã được học trong trường vào công tác nghiên cứu khoa học và bảo tồn loài. Ý nghĩa trong thực tiễn Việc nghiên cứu và đánh giá đặc điểm sinh thái, tình trạng phân bố cây Re hương nhằm đề xuất một số giải pháp bảo tồn. e 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài Để ngăn ngừa sự suy thoái đa dạng sinh học, Việt Nam đã tiến hành công tác bảo tồn đa dạng sinh học khá sớm. Hai hình thức bảo tồn ĐDSH phổ biến được áp dụng ở Việt Nam là: Bảo tồn nội vi hay nguyên vị (Insitu conservation) và bảo tồn ngoại vi hay chuyển vị (Exsitu conservation). Bảo tồn nội vi in- situ Bảo tồn nội vi bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các hệ sinh thái trong điều kiện tự nhiên. Tuỳ theo đối tượng bảo tồn để áp dụng các hình thức quản lý thích hợp.
Thông thường bảo tồn nguyên vị được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp. Bảo tồn nội vi là hình thức bảo tồn chủ yếu ở Việt Nam trong thời gian vừa qua. Kết quả của phương pháp bảo tồn này thể hiện rõ rệt nhất là đã xây dựng và đưa vào hoạt động một hệ thống rừng đặc dụng. Bảo tồn ngoại vi (Ex- situ) ở Việt Nam - Bảo tồn ngoại vi bao gồm các vườn thực vật (VTV), vườn động vật, các bể nuôi thuỷ hải sản, các bộ sưu tập vi sinh vật, các bảo tàng, các ngân hàng hạt giống, bộ sưu tập các chất mầm, mô cấy.
Các biện pháp gồm di dời các loài cây, con và các vi sinh vật ra khỏi môi trường sống thiên nhiên của chúng. Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trường hợp: - Nơi sinh sống bị suy thoái hay huỷ hoại không thể lưu giữ lâu hơn các loài nói trên. - Dùng để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng. e 5 Tuy công tác bảo tồn ngoại vi còn tương đối mới ở Việt Nam, nhưng trong những năm qua, công tác này đã đạt được một số thành tựu nhất định.
- Bước đầu hình thành mạng lưới các VTV, vườn sưu tập, các lâm phần bảo tồn nguồn gen cây rừng, các vườn động vật trên toàn quốc và dần đi vào hoạt động ổn định hơn. - Bảo tồn ngoại vi đã đóng góp đáng kể cho bảo tồn nội vi đối với các loài động thực vật hoang dã đã và đang bị diệt chủng ngoài tự nhiên. Một số loài động thực vật hoang dã đã bị tiêu diệt trong tự nhiên đã được gây nuôi thành công như Hươu sao, Hươu xạ, Cá sấu hoa cà (động vật), thực vật có Sưa, Lim xanh… - Bước đầu xây dựng được ngân hàng giống bảo tồn nguồn gen của các loài động thực vật, dự trữ lâu dài, hổ trợ cho công nghệ sinh học và phát triển nông lâm nghiệp v. Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 2.
Lịch sử phát triển và tình hình nghiên cứu trên thế giới Re hương (Cinnamomum parthenoxylon) có khoảng 250 loài. Chúng thường là cây gỗ lớn phân bố ở các khu vực hiệt đới và cận nhiệt đới của Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Nam Mỹ, châu Á, châu Đại Dương như Trung Quốc với 50 loài, Malaixia 30 loài, Ấn Độ 30 loài, Đông Dương 12 loài. Chi Bời lời (Litsea Lamk.) có khoảng 400 loài, là cây gỗ hay cây bụi, phân bố chủ yếu ở vùng á nhiệt đới và nhiệt đới Châu Á, Australia, New Zealand, Bắc Mỹ tới cận nhiệt đới Nam Mỹ, chủ yếu tại các khu vực nóng ấm ở miền Nam hay Tây Nam như Trung Quốc với 75 loài, Malaixia 54 loài, Ấn Độ 65 loài, Đông Dương 17 loài. Người đầu tiên nghiên cứu rừng Việt Nam là Loureiro (1793) và công bố trong Thực vật chí Nam Bộ.
Tác giả đã mô tả 4 chi và 8 loài trong họ Long não (Lauraceae). Tiếp đến là Pierre (1880), trong Thực vật rừng Nam Bộ đã giới thiệu các loài cây họ Long não (Lauraceae) có mặt ở Nam Bộ. Gagnepain (1907), trong Thực vật chí Đại cương Đông Dương do H. Lecomte chủ biên đã công bố các loài cây họ Long não e 6 (Lauraceae) có ở Đông Dương.
Năm 1913, Lecomte công bố họ Long não (Lauraceae) ở Đông Dương và Nam Trung Quốc. Liou công bố các loài thuộc họ Long não (Lauraceae) ở Đông Dương và Nam Trung Quốc. Merrill (1935) đã đưa ra bản mô tả chi tiết họ Long não (Lauraceae) ở Đông Dương. Như vậy, các tác giả người Pháp đã phân tích, đánh giá họ Long não (Lauraceae) ở các vùng khác nhau tại Đông Dương, trong đó có Việt Nam.
Nghiên cứu ở Việt Nam Cây Re hương hiện nay chưa được nghiên cứu nhiều. ở việt nam có hai loại cây re hương có màu sắc khác nhau: Gỗ Gù hương đỏ mầu sẫm đỏ vân gỗ rất đẹp. Loại này chỉ tìm thấy ở vùng rừng núi Quảng ninh. Còn đại đa số ở vùng miền còn lại Gù Hương có mầu vàng nhạt sám pha chút sắc xanh.
Re hương thuộc họ long não: Những công trình nghiên cứu về thực vật của họ Long não (Lauraceae Juss.), Long não là họ có thành phần loài đa dạng và có nhiều giá trị sử dụng nên đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm, người đầu tiên nghiên cứu rừng Việt Nam là Loureiro (1793) và công bố trong thực vật chí Nam Bộ, tiếp theo đã có nhiều công trình nghiên cứu và công bố về các loài họ Long não trong các bộ sách Thực vật chí Ấn Độ với 16 chi và 250 loài, Trung Quốc có 18 chi và 500 loài, Malaixia 12 chi và 200 loài, Đông Dương có 12 chi và 50 loài,. Họ Long não bao gồm chủ yếu là các loài cây gỗ, cây bụi thường xanh. Tuy vậy, cũng có chi Sassafras với một số loài rụng lá và chi Cassytha (tơ xanh) có các loài dây leo sống ký sinh. Cành non có màu xanh, vỏ có mùi thơm, có chồi ngủ đông.