Đặt vấn đề Tre trúc là tập hợp các loài thực vật thuộc họ Hoà thảo (Poaceae, hoặc còn gọi là Gramineae). Các loài tre trúc rất phong phú, đa dạng, phân bố rộng khắp trên thế giới, đặc biệt là ở Châu Á. Tre trúc dễ trồng, sinh trưởng nhanh, sớm cho khai thác, dễ chế biến nên được sử dụng cho rất nhiều mục đích khác nhau. Tre trúc có giá trị rất lớn đối với nền kinh tế quốc dân và đời sống nhân dân, đặc biệt là nông dân nông thôn và miền núi.
Tre trúc thường có thân cứng như gỗ, song có đặc trưng là thân thường rỗng trong ruột, có hệ thân ngầm (rhizome) và phân cành khá phức tạp và có hệ thống mo thân hoàn hảo, được sử dụng hiệu quả trong quá trình phân loại. Thân ngầm của tre trúc thường phát triển trong đất thành mạng lưới hay chỉ phát triển thành một số đốt ngắn ở gốc cây. Các đốt thân ngầm thường có nhiều rễ và chồi ngủ. Chồi sẽ mọc lên thành cây tre, trúc (thân khí sinh) trên mặt đất hay phát triển thành thân ngầm mới.
Tre trúc có 3 loài thân ngầm chính là thân ngầm mọc cụm, thân ngầm mọc rải và thân ngầm kiểu hỗn hợp. Thân ngầm mọc cụm thường gặp ở các chi Bambusa, Sinocalamus, Dendrocalamus…. ; Thân ngầm mọc rải thường gặp ở các chi như Indosassa, Phyllostachys, Chimonobambus…; và thân ngầm hỗn hợp của hai dạng cụm và tản, thường gặp ở các loài trong chi vầu (Indosassa). Ngoài việc sử dụng tre trúc cho xây dựng, một số loài tre trúc còn cho măng ăn ngon như mang mai, măng luồng, măng tre, măng mạy lay, măng nứa, có khi là măng đắng như măng vầu.
Đây là nguồn thực phẩm tốt, và cũng là nguồn thu nhập quan trọng của người dân miền núi. Trong thời gian gần đây, việc trồng tre lấy măng (kể cả tre trúc bản địa và nhập nội) đang phát triển mạnh mẽ, góp phần xoá đói giảm nghèo và tăng đáng kể giá trị lợi ích n 2 của đất trồng rừng và tăng việc làm cho người dân (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005. Tre trúc Việt Nam. NXB Nông nghiệp.
Loài Bương lông điện biên, còn có các tên gọi khác như Mạy púa mơi, Bương lớn, Bương lớn điện biên. Là một trong những loài tre có kích thước lớn nhất ở Việt Nam, chiều cao 18 - 24m, đường kính gốc 12 - 18cm, có vách dày, chiều dài đốt từ 25 - 30 cm, ít cành nhánh, khả năng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến sản phẩm rất cao. Mặt khác, hiện nay việc kinh doanh cây Bương lông điện biên vẫn theo hướng quảng canh, dựa vào kinh nghiệm của người dân địa phương và điều kiện tự nhiên sẵn có là chính nên năng suất không cao như vốn có của nó. Hơn nữa những nghiên cứu về loài Bương lông còn ít, rời rạc và chưa mang tính hệ thống.
Nên triển khai nghiên cứu về điều tra phân bố và sinh trưởng để đưa ra những cơ sở có các giải pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp với đặc tính sinh vật học và sinh trưởng của loài cũng như phù hợp với trình độ quản lý, kinh doanh của người dân địa phương còn là khoảng trống cần bổ sung. Xuất phát từ những lý do nêu trên, đề tài “Nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh trƣởng của cây Bƣơng lông(Dendrocalamus giganteus) tại xã Nà Tấu huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên” được đặt ra là rất cần thiết. Mục tiêu nghiên cứu 1. Về lý luận Xác định được đặc điểm phân bố và sinh trưởng cây Bương lông tại xã Nà Tấu huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên.
Về thực tiễn Đề xuất các biện pháp kỹ thuật phát triển cây Bương Lông nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp nguyên liệu chế biến cho tỉnh Điện Biên và các tỉnh lân cận. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa lý luận - Qua quá trình thực hiện đề tài tạo cơ hội tiếp cận phương pháp nghiên cứu khoa học, giải quyết vấn đề khoa học ngoài thực tiễn. - Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể.
- Học tập và hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu. Ý nghĩa thực tiễn. - Biết cách tiếp cận thực tiễn những vấn đề trong sản xuất, kinh doanh rừng, quản lý nguồn tài nguyên rừng hiện nay, nâng cao tính bền vững của hệ sinh thái rừng. - Giúp nắm rõ hơn về đặc điểm phân bố và sinh trưởng phát triển của loài cây Bương.
- Giúp hiểu rõ hơn về khả năng tái sinh, phục hồi rừng và có cơ sở đề ra những biện pháp lâm sinh như khoanh nuôi phục hồi rừng, làm giàu rừng để có thể tận dụng được những khu rừng sinh trưởng phát triển tự nhiên mang lại hiệu quả hơn cho cuộc sống của người dân cũng như việc cải tạo môi trường, tăng mức độ đa dạng sinh học. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở thực tiễn Thân cây Bương lông to, dài, chắc, bền nên thường được dùng làm cột buồm, làm nhà. Các dân tộc vùng cao dùng Bương lông làm máng dẫn nước, làm nguyên liệu cho công nghiệp giấy, chế biến thay thế cho gỗ có hiệu quả cao.
Măng Bương to, ăn ngon, ăn tươi hoặc phơi khô, cũng có thể đóng hộp. Một bụi cây to có thể cho tới 180kg măng tươi/bụi/năm. Măng tươi của Bương lông được thị trường rất ưa chuộng vì có vị hơi đắng rất đặc biệt, măng đầu vụ có thể bán 3.000đ/kg; trọng lượng măng lúc khai thác có thể đạt tới 15kg/măng. Có bụi một năm thu được 10 - 15 măng.
Một số hộ buôn bán còn mua măng tươi về sau đó luộc và bảo quản trong chum, vại to để 4 - 5 tháng sau mới bán cho được giá. Nghiên cứu về cây tre trúc ở trên thế giới và Việt Nam 2. Nghiên cứu về tre trúc trên thế giới 2. Nghiên cứu chung về tre trúc Các nghiêu cứu về tre trúc trên thế giới đã bắt đầu từ khá lâu và rất đa dạng.
Nghiên cứu về các loài tre trúc Ấn độ (Gamble JS, 1986)[18]. Trong đó tác giả mô tả hình thái của 151 loài tre trúc phân bố ở Ấn độ và một số nước láng giềng như Pakistan, Srilanca, Myanma, Malaysia và Indonesia. Tác giả cũng cho rằng các loài tre trúc là loài chỉ thị rất tốt về các đặc điểm và độ phì của đất. Ở Trung Quốc cũng có rất nhiều các nghiên cứu về phân loại, các kỹ thuật tạo giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác, chế biên và cả về thị trường tre trúc và các sản phẩm sản xuất từ tre trúc (Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn, 2007)[3].
Các loài tre trúc phân bố tự nhiên ở các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới, từ vùng thấp tới độ cao 4000 m (so với mực n 5 nước biển), song tập trung chủ yếu ở vùng thấp tới đai cao trung bình (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005. Tre trúc Việt Nam. NXB Nông nghiệp. Các loài tre trúc có thể mọc hoang dại hoặc được gây trồng và có một đặc điểm nổi bật là có mặt ở rất nhiều các môi trường sống khác nhau (Dranhsfield S, Widjaja EA, 1995)[17].
Theo Rao and Rao,(1995)[20], cả thế giới có khoảng 1250 loài tre trúc của 75 chi, phân bố ở khắp các châu lục, trừ châu Âu. Châu Á đặc biệt phong phú về số lượng và chủng loại tre trúc với khoảng 900 loài của khoảng 65 chi (Rao and Rao 1995; 1999)[20],[21]. Bảng 1 là số liệu năm 1995 về sự đa dạng của các loài tre trúc trên thế giới. Từ đó tới nay có nhiều loài tre trúc mới đã được tìm ra và phân loại trong đó có Việt Nam làm tăng số loài tre trúc đã được xác định.
Nghiên cứu về phân loại, phân bố Tre trúc với khoảng 1250 loài của 75 chi có đại diện ở mọi châu lục trừ châu Âu. Châu á đặc biệt giàu về số lượng và chủng loại Tre trúc, với khoảng 65 chi và 900 loài (Rao and Rao, 1995), trong đó theo Biswas (1995) thì Việt Nam có tới 92 loài và 16 chi (Bảng 1). Thành phần và phân bố các loài tre nứa ở miền Bắc Việt Nam, đã đưa ra danh sách của 45 loài Tre trúc, còn Nguyễn Tử ưởngvà Nguyễn Đình Hưng (1995). Bảo tồn một số loài tre quý hiếm ở Việt nam, thì thông báo rằng có khoảng 150 loài Tre trúc thuộc 20 chi ở Việt Nam.
Phân bố của các loài tre trúc trên thế giới (Biswas 1995) Số Số Diện tích Nƣớc-Vùng Số Số Diện tích Nƣớc chi loài (ha) lãnh thổ chi loài (ha) Trung 26 300 2.000 Singapore 6 23 Quốc Nhật Bản 13 237 825.000 Papua New Ấn Độ 23 125 9.000 26 Guinea Việt Nam 16 92 1.000 Hàn Quốc 10 13 Inđônêxia 10 65 50.000 Phillipnines 8 54 Mađagaxca 11 40 Malaysia 7 44 Châu Mỹ 20 45 Thai Lan 12 41 1.000 Ôxtralia 4 4 (Nguồn : Biswas,1995 và một số tác giả khác) Tre ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Đây là khu vực phân bố tre lớn nhất thế giới, từ 42 độ Nam tới 51 độ Bắc phía Đông kéo dài ra biển Thái Bình Dương, còn phía Tây thì kéo dài ra phía Tây nam của Ấn Độ Dương. Phân bố khoảng 50 chi và 900 loài tre, chiếm khoảng 80% diện tích rừng tre trên toàn thế giới. Phía Đông nam của khu vực này là cái gốc phân bố của tre cũng như ngành sản xuất tre, bao gồm: Trung quốc, Ấn độ, Nhật bản, Myanma, Thái lan, Bangladesh, Campuchia, Việt nam, Lào, Malaysia, Indonesia, Philippines.vn/modules/newscore/news.php?id_entry=109)[22]. Tre khu vực Châu Mĩ Từ 47 độ Nam thuộc miền Nam Argentina tới 40 độ Bắc thuộc Đông nước Mĩ, có khoảng 18 chi và 270 loài.
Mĩ Latinh, Mexico, Guatemala, Costa n 7 Rica, Nicaragua, Honduras, Colombia,Venezuela, Brazil, lưu vực sông Amazon ở Nam Tropic of Cancer là các trung tâm phân bố của tre.vn/modules/newscore/news.php?id_entry=109)[22]. Tre khu vực Châu Phi Khu vực này chiếm một tỉ lệ nhỏ về tre, từ 22 độ Nam thuộc miền Nam nước Mozambique tới 16 độ Bắc thuộc miền Đông nước Sudan. Có khoảng 13 chi và 40 loài. Khu lục địa Châu Phi có một số loài tre bản địa và thực vật trộn lẫn với nhau tạo nên một khu vực rộng lớn trong khi ở Đông Phi chỉ có 11 chi và 40 loài.
Bờ biển của Châu Phi phía Nam Senegal, Guinea, Libby Ê – li, Nam Bờ Biển Ngà, Nam Ghana, Nigeria, Cameroon, Rwanda, Burundi, Gabon, Congo, Zaire, Kenya, Tanzania, Ma Ravi, Mozambique, cho đến khi bờ biển phía Đông của Madagascas là trung tâm của phân bố tre của Châu Phi từ Tây bắc đến Đông nam qua những khu rừng mua nhiệt đới Châu Phi và khu rừng thường xanh và rụng lá.vn/modules/newscore/news.php?id_entry=109)[22].