Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nguồn gốc, phân loại và sự phân bố cây chè 1. Nguồn gốc cây chè Nghiên cứu về nguồn gốc của cây chè là một vấn đề phức tạp, cho đến nay còn rất nhiều quan điểm chưa được thống nhất. Trong số đó, một số quan điểm đáng tin cậy và được nhiều người công nhận nhất là: * Cây chè có nguồn gốc từ Trung Quốc Theo Dalaselia (Gruzia) và các nhà khoa học Trung Quốc như Suchenpen, Jaodinh.
cho rằng cây chè có nguồn gốc từ tỉnh Vân Nam - Trung Quốc. Sự phân bố cây chè tại các vùng biên giới Việt Nam, Lào, Campuchia là do các con sông lớn chảy qua các địa phận trên đều được bắt nguồn từ cao nguyên Vân Nam - Trung Quốc, do vậy các cây chè dại mọc ở Vân Nam, hạt được vận chuyển đến các vùng nói trên và lan dần đến các khu vực khác. Cũng theo Daraselia dựa trên cơ sở học thuyết “Trung tâm khởi nguyên cây trồng” của Vavilop thì cây chè có nguồn gốc ở Trung Quốc men theo các khu vực: Phía Đông, Nam và Đông Nam cao nguyên Tây Tạng. * Chè có nguồn gốc ở vùng Assam (Ấn Độ) Năm 1923, nhà khoa học người Anh là Robert Bruce phát hiện thấy ở cao nguyên Assam Ấn Độ có những cây chè dại lá to hoàn toàn khác với cây chè Trung Quốc.
Suốt dọc biên giới Trung Quốc - Ấn Độ, những cây chè như vậy được tìm thấy rất nhiều. Từ đó tác giả đi đến kết luận: Ấn Độ là nơi nguyên sản của chè. * Chè có nguồn gốc ở Việt Nam Năm 1970 nhà sinh hóa người Nga Djemukhatze, qua công trình nghiên cứu sự tiến hóa về sinh hóa của cây chè, tác giả thấy rằng các Catechin đơn giản (thành phần của Tanin) ở cây chè Suối Giàng chiếm 90%, trong khi đó cây ở chè Tứ Xuyên, Quý Châu - Trung Quốc chỉ chiếm 18 - 20%. Từ đó tác giả cho rằng nguồn gốc của cây chè chính là ở Việt Nam.
Những quan điểm nêu trên đều có những cơ sở khoa học riêng của nó, điều này đi đến những kết luận khác nhau nhưng tóm lại chúng ta có thể đưa ra một nhận 4 định chung nhất về nguồn gốc của cây chè: Nguyên sản của cây chè là ở châu Á, nơi có điều kiện khí hậu nóng ẩm. Phân loại cây chè Khi nghiên cứu về cây chè, năm 1753 nhà thực vật học nổi tiếng Line đã đặt tên cho cây chè là: Thea Sinensis, sau lại đặt là Camellia Sinensis. Vấn đề này cũng được nhiều nhà nghiên cứu tranh luận và cũng có rất nhiều cách đặt tên. Theo Nguyễn Ngọc Kính thì cách phân loại của Cohen Stuart (1919) được các nhà thực vật học thống nhất đến nay: Cây chè thuộc: Ngành hạt kín: Angiospermae Lớp 2 lá mầm: Dicotilelonae Bộ chè: Theales Họ chè: Theacea Chi chè: Camellia Dựa vào các đặc điểm thực vật học, đặc điểm sinh hóa, nguồn gốc phát sinh cây chè Cohen Stuart chia Camellia Sinensis ra làm bốn thứ: - C.
Sự phân bố của cây chè Điều kiện tự nhiên là yếu tố quan trọng quyết định sự phân bố của cây chè. Tất cả các công trình nghiên cứu trước đây đã kết luận: Vùng khí hậu Nhiệt Đới và Á Nhiệt Đới đều thích hợp cho sự phát triển của cây chè. Hiện nay cây chè phân bố chủ yếu ở các nước Châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanka, Indonesia và Việt Nam. Đây là những nơi có điều kiện khí hậu nóng ẩm.
Tuy nhiên, do sự phát triển khoa học kỹ thuật hiện nay cây chè có thể được trồng ở hầu khắp các châu lục trên thế giới, từ 420 vĩ Bắc (XoChi - Liên Xô cũ) Đến 270 vĩ Nam (Coriente - Achentina). Đặc điểm hình thái 1. Dạng thân và cành Cây chè sinh trưởng trong điều kiện tự nhiên đơn trục, tức là chỉ có một thân chính, trên đó phân ra các cấp cành. Do đặc điểm sinh trưởng và do hình dạng thân khác nhau, nên chè được chia ra làm ba loại: thân gỗ, thân bán gỗ.
Thân gỗ: là loại hình cây cao, to, có thân chính rõ rệt, vị trí phân cành cao. Thân bán gỗ: là loại hình trung gian, có thân chính tương đối rõ rệt, vị trí phân cành cao thường khoảng 20 - 30 cm tính từ phía trên cổ rễ. Cành chè do mầm dinh dưỡng phát triển thành, trên cành chia làm nhiều đốt. Chiều dài của đốt thay đổi rất khác nhau từ 1 - 10 cm do đặc điểm giống và điều kiện sinh trưởng.
Đốt chè dài là một trong những biểu hiện giống chè có năng suất cao. Thân và cành tạo nên khung tán của cây chè. Các tác giả Nguyễn Văn Niệm, Đỗ Văn Ngọc, Trần Thanh (1984) [15] cho rằng đặc điểm phân cành của cây chè là chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng tới khả năng cho năng suất của giống. Những giống chè có độ cao phân cành thấp, số cành cấp 1 nhiều, cành lớn sẽ có bộ khung tán to, khoẻ, có khả năng cho năng suất cao.
Kết quả nghiên cứu sinh trưởng của một số giống chè nhập nội trồng tại Thái Nguyên tác giả Lê Tất Khương [6] cho biết các giống chè có hai dạng hình là thân bụi và thân gỗ nhỡ. Các giống có dạng thân gỗ nhỡ thường có chiều cao lớn hơn các giống chè thân bụi. Hai giống có chiều cao thấp nhất là giống Keo Am Tích và Thiết Bảo Trà. Trong khi đó về thế lá có 5 giống chè thế lá nằm ngang (Trung du, PT95, Phúc Vân Tiên, Hùng Đỉnh Bạch Thiết Bảo Trà), có 5 giống thế lá xiên (Phú Thọ 10, Hoa Nhật Kim, Long Vân 2000, Kiara 8, TRI 2024) và 2 giống có thế lá rủ (Keo Am Tích, Nhật Bản 2).
Nhưng khi đánh giá về bề mặt lá tác giả khẳng định trong các giống thí nghiệm có 2 dạng: mặt nhẵn và mặt gồ ghề. Diện tích lá của các giống chè thí nghiệm dao động từ 10,05 cm2 - 36,86 cm2. Với hệ số diện tích lá của các giống tác giả cho biết dao động từ 0,25 - 0,86 m2lá/m2đất. Vũ Công Quỳ [16] khi nghiên cứu tương quan hình thái, năng suất ở một số biến chủng chè kết luận: Đặc điểm hình thái của những giống chè năng suất cao là lá có khối lượng lớn, mỏng, nhiều búp góc độ phân cành cấp 1 lớn, mô dậu kém phát triển, tán rộng.
6 Khi nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của tập đoàn giống chè tại Phú Hộ thời kỳ kiến thiết cơ bản tác giả Nguyễn Hữu La [9] đã khẳng định; chiều cao cây có tương quan thuận rất chặt với chiều rộng tán chè (r = 0,72 ± 0,09) và số cành cấp 1 (r = 0,75 ± 0,090), tương quan chặt với diện tích lá (r = 0,58 ± 0,11), nhưng không có mối tương quan thuận với chiều dài đốt cành, trọng lượng búp và mật độ búp. Tóm lại mỗi giống chè có những đặc điểm phát triển thân cành khác nhau, có những giống thân bụi, có những giống thân gỗ nhỡ. Vì vậy trong sản xuất phải căn cứ vào đặc điểm phân cành của từng giống mà bố trí mật độ và khoảng cách trồng thích hợp tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng phát triển tốt. Căn cứ vào mối tương quan giữa khả năng phân cành với năng suất và chất lượng các giống chè sẽ giúp cho những nhà chọn tạo giống có những nhận xét bước đầu về khả năng cho năng suất của các con lai.
Với các biện pháp kỹ thuật như đốn hàng năm sẽ làm tăng khả năng phân cành của cây chè và vì thế sẽ thúc đẩy việc tăng năng suất nương chè một cách đáng kể. Với những đặc điểm sinh trưởng cành cũng như sinh trưởng của bộ rễ mà chúng ta quyết định thời kỳ để bón phân có hiệu quả. Búp chè Búp chè là đoạn búp non của một cành chè. Búp được hình thành từ các mầm đỉnh dinh dưỡng, gồm có tôm (phần lá non ở trên đỉnh của cành chưa xoè rộng ra), và hai hoặc ba lá non.
Kích thước của búp thay đổi tuỳ theo giống, dòng và liều lượng phân bón, kỹ thuật canh tác như việc đốn, hái và điều kiện địa lý nơi trồng trọt. Búp chè là nguyên liệu để chế biến các loại chè, vì vậy nó quan hệ trực tiếp đến năng suất và phẩm chất của chè. Những giống có thời gian sinh trưởng dài, tốc độ sinh trưởng búp nhanh thường là những giống có khả năng cho năng suất cao. Trong thực tế sản xuất người ta thường chú ý xây dựng bộ giống hợp lý cho vùng sản xuất trong đó có những giống có thời gian sinh trưởng búp dài, có những giống có thời gian sinh trưởng búp ngắn.
Có những giống có thời gian cho búp sớm, có những giống có thời gian cho búp muộn. Có như vậy chúng ta mới có vùng nguyên liệu có thời gian thu hoạch và chế biến sản phẩm dài, khắc phục được tính thời vụ của sản xuất chè, khai thác và đáp ứng hết công suất của các nhà máy chế biến. 7 Mỗi giai đoạn cây chè sinh trưởng khác nhau vì vậy sự hình thành và phát triển của búp chè cũng như các lứa búp chè cũng khác nhau nhưng yếu tố nhiệt độ có vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành các lứa chè. Búp chè gồm hai loại: búp bình thường và búp mù.
Búp bình thường gồm có tôm và hai, ba lá non, trọng lượng tươi bình quân 1 búp từ 1-1,2g. Búp mù là búp phát triển không bình thường, có trọng lượng bình quân bằng một nửa trọng lượng búp bình thường. Nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của các giống chè nhập nội trồng tại Thái Nguyên tác giả Lê tất Khương [7] cho biết: Trong điều kiện không đốn hái, 7 giống có số đợt sinh trưởng cao hơn đối chứng từ 0,1- 0,4 đợt (cao nhất là giống PT95 - 4,2 đợt), 2 giống có số đợt sinh trưởng thấp hơn đối chứng (giống chè Trung du), thấp nhất là giống Hoa Nhật Kim: 3,6 đợt. Nghiên cứu số đợt sinh trưởng của các giống chè PH1, 1A, TH3 Trung Du, TRI777 trong điều kiện có đốn hái và trong điều kiện tự nhiên tác giả Lê Tất Khương [6], cho thấy: Tuỳ điều kiện tự nhiên giữa các giống ít có sự sai khác về số đợt sinh trưởng, số đợt sinh trưởng tự nhiên của các giống biến động từ 3,4 - 3,6 đợt/năm.
Tuy nhiên, trong điều kiện có đốn, có hái giữa các giống có sự sai khác đáng kể về số đợt sinh trưởng giữa các giống chè, biến động từ 5,5 - 6,2 đợt/năm.