ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một nước có điều kiện địa lý đặc biệt, nằm trong khu vực nhiệt đới, trải dài từ bắc vào nam đến trên 1500 km với trên 15 độ vỹ (từ 23 o 33’ – 8o35′ B), được biết đến như một trung tâm Đa dạng động vật (ĐDSH) của thế giới với các hệ sinh thái tự nhiên phong phú và đa dạng. Các hệ sinh thái rừng, đất ngập nước, biển, núi đá vôi… với những nét đặc trưng của vùng nhiệt đới. là nơi sinh sống, phát triển của nhiều loài động vật hoang dã đặc hữu, có giá trị. Nhiều loài không thể tìm thấy ở nơi nào khác trên thế giới, trong đó, có các loài di cư như vịt trời, ngỗng trời, sếu đầu đỏ.
Dưới tác động ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu, nước biển dâng ngày càng trầm trọng đang gây ra nhiều áp lực đối với sự ĐDSH, các hệ sinh thái tự nhiên trên cạn cũng như dưới nước. Sự ĐDSH ở nước ta đang bị suy thoái với tốc độ nhanh, diện tích một số hệ sinh thái tự nhiên quan trọng bị thu hẹp, ảnh hưởng đến việc cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái. Số loài và số lượng cá thể của các loài hoang dã bị suy giảm mạnh, nhiều loài bị đe dọa tuyệt chủng. Các nguồn gen hoang dã cũng đang trên đà suy thoái nhanh và thất thoát nhiều.
Số lượng các loài thủy sinh vật, đặc biệt các loài thủy sản có giá trị kinh tế trong tự nhiên bị giảm rất nhanh chóng. Suy thoái ĐDSH dẫn đến mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của con người, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước. Năm 2015, Liên hợp quốc đã chọn chủ đề Ngày quốc tế ĐDSH là “ĐDSH vì sự phát triển bền vững” đã phản ánh tầm quan trọng của những nỗ lực thực hiện ở tất cả các cấp độ để xây dựng hệ thống các mục tiêu phát triển bền vững. Mặt khác, trong nhiều thập kỷ gần đây, sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế đem lại nhiều lợi ích nhưng đồng thời cũng gây ra nhiều áp lực đối với đa dạng sinh học (ĐDSH).
Dân số tăng từ dưới 73 triệu người năm 1995 lên trên 93,7 triệu người trong năm 2017 (www.vn), đưa Việt Nam trở thành nước đông dân số thứ 13 trên thế giới, đã tạo ra một nhu cầu rất lớn về tiêu thụ tài nguyên, nhu cầu về thực phẩm chất lượng cao, nhất là thực phẩm đặc sản cũng ngày càng phát triển. Để đáp ứng một phần về nhu cầu đó, nhiều loài động vật hoang dã đã được gây nuôi thành công và đã trở thành một phần quan trọng của ngành chăn nuôi nước ta như chăn nuôi hươu nai, nhím 1 rừng, lợn rừng, gà rừng, chim trĩ, chim yến. trong ®ã ph¶i kÓ ®Õn vÞt trêi ®· ®-îc thuÇn hãa tõ Trung Quèc vµ g©y nu«i ë ViÖt Nam víi quy m« nhá, võa vµ lín gièng nh- vÞt nhµ ë nhiÒu tØnh thµnh trong c¶ n-íc. ChÝnh v× vËy, còng ®-îc c¸c c¬ quan nhµ n-íc, c¸c nhµ khoa häc quan t©m vµ còng chÝnh thøc ®-îc ®-a vµo qu¶n lý bëi LuËt Ch¨n nu«i, sÏ ®-îc th«ng qua t¹i kú häp thø 6 nµy.
Nh-ng cho ®Õn nay ë ViÖt Nam ch-a cã tµi liÖu nµo viÕt ®Çy ®ñ vÒ vÞt trêi. Nªn viÖc nghiªn cøu “§Æc ®iÓm ngo¹i h×nh, kh¶ n¨ng sinh tr-ëng vµ sinh s¶n cña đàn vÞt trêi nu«i t¹i C«ng ty Lucavi – ThuËn Thµnh – B¾c Ninh” lµ cÇn thiÕt ®Ó cã tµi liÖu c¬ b¶n vÒ vÞt trêi gióp cho c«ng t¸c nghiªn cøu, gi¶ng d¹y vµ qu¶n lý nhµ n-íc sau này. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Mục tiêu tổng quát Mô tả được các đặc điểm ngoại hình cơ bản đặc trưng của vịt trời. Đánh giá khả năng sản xuất của vịt trời nuôi ở điều kiện bán chăn thả Mục tiêu cụ thể Xác định được các đặc điểm ngoại hình cơ bản của vịt trời: màu lông, màu mỏ, màu chân, tốc độ mọc cánh.
Đánh giá được khả năng sinh sản của vịt trời bố mẹ qua các tuần tuổi, các chỉ tiêu về ấp nở. Đánh giá được khả năng sản xuất thịt của vịt trời nuôi thương phẩm qua các tuần tuổi và chất lượng thịt của vịt trời. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả thu được cung cấp cho các nhà khoa học các thông tin cơ bản về đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh sản, chất lượng trứng, các chỉ tiêu ấp nở của vịt trời phục vụ cho công tác NCKH và giảng dạy.
Ý nghĩa thực tiễn Nghiên cứu này đã cung cấp một số thông tin kỹ thuật, kinh tế về chăn nuôi vịt trời trong điều kiện bán chăn thả. giúp người chăn nuôi có thể lựa chọn đối tượng, biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp; giúp các nhà quản lý trong định hướng nhằm chọn lọc, nhân giống, bảo tồn vịt trời. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 2.
Một số thành tựu trong công tác gây nuôi động vật hoang dã ở nước ta a. Một vài nét về đa dạng động vật ở Việt Nam Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới Đông Nam Á, có sự đa dạng sinh học rất cao, là “ngôi nhà” của hơn 10% giống loài thú và chim trên trái đất. Do có sự khác biệt lớn về khí hậu từ vùng gần xích đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên sự đa dạng về thực vật và đó là cơ sở để có đa dạng sinh học. Hệ động vật Việt Nam không những giàu về thành phần loài mà còn có nhiều nét độc đáo, đặc hữu.
Cơ quan tài nguyên và môi trường Việt Nam ghi nhận được. Việt Nam có 275 loài thú, 850 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài ếch nhái, 472 loài cá nước ngọt, khoảng 2.000 loài cá biển và có hàng chục ngàn loài động vật không xương sống ở cạn, ở biển và nước ngọt. Các động vật thuộc lớp chim ở Việt Nam được biết đến nhiều nhất, chúng dễ được quan sát và nhận biết hơn lớp thú vì hầu hết đều xuất hiện vào ban ngày, có tiếng hót và tiếng kêu đặc trưng cho từng loài. Cho đến nay, hầu hết 850 loài chim đã được ghi nhận tại Việt Nam.
Các vùng đồng cỏ ướt và rừng ngập nước của châu thổ sông Hồng, sông Mê Kông là nơi cư trú của các loài thủy cầm như cò và hạc (họ Ciconiidae), quắm (họ Threskiornithidae), diệc (họ Ardeidae) và cốc (họ Phalacrocoracidae) cũng như các chim ăn thịt như đại bàng đầu xám (Ichthyophaga ichthyaetus). Các bãi bồi và các dải cát dọc theo cửa sông và các đảo ở vùng ven biển phía Bắc là bến đỗ và nơi trú đông quan trọng cho rất nhiều loài chim nước, trong đó có vịt (họ Anatidae), mòng bể (họ Laridae), choi choi (họ Charadriidae) và cò thìa (Platalea minor, thuộc loại nguy cấp).Gây nuôi động vật hoang dã Gây nuôi động vật hoang dã đã có lịch sử lâu đời trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Các vật nuôi hiện nay đều có nguồn gốc từ tự nhiên, trải qua hàng nghìn năm thuần hóa. Con người thuần hóa, nuôi dưỡng động vật hoang dã với nhiều mục đích khác nhau.
Những năm gần đây nhiều loài động vật hoang dã tiếp 3 tục được thuần hóa, nhân giống như hươu, nai, lợn rừng, gà rừng, chim trĩ, chim yến. Còn ít công trình khoa học nghiên cứu về gây nuôi động vật hoang dã. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông cũng đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật nuôi một số động vật hoang dã. Viện chăn nuôi đã thực hiện một số các công trình nghiên cứu về nuôi sinh sản đông vật hoang dã như nhím, lợn rừng, hươu sao.
Tuy vậy, cho đến nay hoạt động nuôi sinh sản động vật hoang dã ở Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm dân gian, theo các “bí quyết gia đình” và còn thiếu liên kết, chia sẻ thông tin và cơ sở pháp lý. Năm 2003 số lượng động vật hoang dã nuôi nhốt tại 23 tỉnh và thành phố khoảng 1. Đến năm 2005, theo số liệu thống kê từ 24 tỉnh, thành phố có 579 cơ sở gây nuôi động vật hoang dã, Hiện nay, theo thống kế của Tổng cục Lâm nghiệp trên cả nước có trên 700 cơ sở gây nuôi các loài động vật hoang dã được đăng ký với hàng triệu cá thể Nguồn lợi Khai thác nguồn lợi từ tài nguyên động vật hoang dã tại Việt Nam cho thương mại có giá trị đáng kể. Đối với các loài động vật, việc khai thác thương mại dao động từ 3.500 tấn, nhiều loài động vật được săn lùng, giết hại cho mục đích y học, làm vật nuôi, thú kiểng, đồ trang trí hoang dã và quan trọng là một nguồn thực phẩm từ thịt rừng, chim hoang dại.
Để đáp ứng cho nhu cầu của 93 triệu dân đã và đang không ngừng tăng, Việt Nam đã và đang phải khai thác một cách ồ ạt các loại tài nguyên thiên nhiên như đất, nước, rừng, biển, động vật, thực vật làm cho các loại tài nguyên bị cạn kiệt một cách nhanh chóng, đặc biệt là động vật hoang dã. Một nghiên cứu của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) đã cảnh báo rằng gần 10% các động vật hoang dã ở Việt Nam đang bị đe dọa tuyệt chủng. Nhu cầu về động vật hoang dã và các sản phẩm làm từ động vật hoang dã tại Việt Nam có chiều hướng gia tăng đã làm suy giảm nghiêm trọng sự đa dạng sinh học. Tỉ trọng các cá thể được khai thác gồm thú rừng 20%, rắn 45%, rùa 30% với hơn 66% sử dụng làm thực phẩm (thịt rừng).
Chính nhu cầu lớn này đã khiến Việt Nam đang nằm trong nước có số loài hoang dã bị đe dọa, top 15 nước về số loài thú bị đe dọa. Số loài động vật nguy cấp quý hiếm tăng từ 365 loài (năm 1992) lên 418 loài (năm 2007), trong đó có 116 loài mức nguy cấp rất cao, 9 loài từ nguy cấp lên mức coi như đã tuyệt chủng. Theo ước tính của Quỹ Bảo vệ động vật hoang dã (WWF), trong vòng 40 năm, 12 loài động vật quý hiếm đã bị biến mất hoàn toàn ở Việt Nam. Đứng 4 trước thực trạng đó, trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có chủ trương gây nuôi động vật hoang dã.
Thực tế thì việc Gây nuôi ĐVHD và bảo tồn Việt Nam chính thức là thành viên 121 của CITES ( Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp) năm 1994. CITES không cấm buôn bán, gây nuôi động, thực vật hoang dã, mà còn đảm bảo các loài được gây nuôi, buôn bán bền vững.