ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm phổi (VP) là bệnh lý thường gặp ở trẻ em, đặc biệt là trẻ nhỏ. Bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong hàng đầu cho trẻ em ở Việt Nam cũng như trên toàn thế giới. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Quỹ nhi đồng Liên hợp Quốc (UNICEF), năm 2019 có 740.180 trẻ tử vong do VP, chiếm 14% số trẻ tử vong trên toàn thế giới, tức là cứ 39 giây lại có 1 trẻ tử vong do VP [65]. Trên toàn cầu, có hơn 1.400 trường hợp VP trên 100.000 trẻ em, hoặc 1/71 trẻ em/năm, với tỷ lệ mắc cao nhất xảy ra ở Nam Á (2.000 trẻ em/năm), Tây và Trung Phi (1.
Ở Việt Nam, theo thống kê của UNICEF năm 2012, tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm đáng kể, từ 51 trẻ trên 1000 ca đẻ sống năm 1990, xuống còn 23 trên 1000 ca đẻ sống năm 2010 [53]. Tuy nhiên, viêm phổi vẫn là nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em, chiếm 12% tổng số tử vong chung dưới 5 tuổi và chiếm 75% tử vong do các bệnh lý về hô hấp [60]. Căn nguyên gây viêm phổi ở trẻ em rất đa dạng: virus, vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng. Các nghiên cứu gần đây cho thấy ở các nước phát triển, căn nguyên gây bệnh viêm phổi chủ yếu là do virus (virus cúm, á cúm,hợp bào hô hấp, Rhinovirus, denovirus.
Ngược lại, tại các nước đang phát triển, vi khuẩn vẫn là nguyên nhân quan trọng gây viêm phổi ở trẻ em (75%) [47]. Vi khuẩn Haemophilus influenzae là một trong những nguyên nhân gây viêm phổi phổ biến ở trẻ em, đặc biệt là trẻ nhỏ [20],[54],[60]. Việc chẩn đoán và điều trị viêm phổi do vi khuẩn H. influenzae ở trẻ em còn gặp nhiều khó khăn.
Các nghiên cứu trước đây cho thấy vi khuẩn H. influenzae còn nhạy cảm với nhiều loại kháng sinh [21] [32]. Tuy nhiên, thực tế lâm sàng gần đây cho 2 thấy nhiều loại kháng sinh không còn hiệu quả trong việc điều trị viêm phổi do H. Mô hình vi khuẩn kháng kháng sinh thay đổi theo chính sách của từng quốc gia, từng bệnh viện và thói quen sử dụng kháng sinh của mỗi bác sỹ.
Do vậy các bệnh viện khác nhau sẽ có mô hình vi khuẩn kháng kháng sinh khác nhau [17],[23],[33]. Hiện nay, việc sử dụng kháng sinh rộng rãi và không hợp lý đã tạo ra các dòng vi khuẩn kháng thuốc gây khó khăn trong điều trị [5]. Những biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng nào cho phép gợi ý chẩn đoán viêm phổi do H. influenzae và mức độ kháng kháng sinh của vi khuẩn H.
influenzae gây viêm phổi ở trẻ em trong giai đoạn hiện nay như thế nào vẫn là câu hỏi cần tìm lời giải đáp của chúng ta. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tính kháng kháng sinh của viêm phổi do vi khuẩn Haemophilus influenzae ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương” với 2 mục tiêu: 1. Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của viêm phổi do vi khuẩn Haemophilus influenzae ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung Ương năm 2020-2021. Phân tích tính kháng kháng sinh của vi khuẩn Haemophilus influenzae gây viêm phổi ở trẻ em năm 2020 -2021.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về viêm phổi Dịch tễ học Trên thế giới Theo thống kê của WHO, VP đã giết chết 740.180 trẻ em dưới 5 tuổi vào năm 2019, chiếm 14% tổng số ca tử vong của trẻ dưới 5 tuổi. VP gây ảnh hưởng đến trẻ em ở khắp mọi nơi trên thế giới, nhưng phổ biến nhất ở Nam Á và Châu Phi [65]. Trong tất cả các trường hợp VP cộng đồng trẻ em, có 7 -13% là VP nặng đe dọa tính mạng và phải nhập viện [53].
Tại các nước phát triển: Tỉ lệ mắc VP hàng năm ước tính là 3,3 ca/1000 trẻ dưới 5 tuổi và 1,45/1000 trẻ từ 0 đến 16 tuổi, khoảng 50% trẻ VP dưới 5 tuổi phải nhập viện [41]. Bắc Mỹ 35 - 40 trường hợp/1000 trẻ dưới 5 tuổi. Châu Âu 36/1000 dưới 5 tuổi, tại Anh có 1,44/1000/năm trẻ > 1 tuổi mắc VP. Tại các nước đang phát triển: Tỷ lệ VP ở những trẻ dưới 5 tuổi ước tính là 231 trên 1000 trẻ, trong đó 50 - 80% trẻ mắc VP nặng phải nhập viện [65].
Theo nghiên cứu của Walker và cộng sự (2011) về gánh nặng toàn của VP, có tới hơn 90% số ca tử vong ở trẻ em liên quan đến VP xảy ra ở các nước thu nhập thấp và trung bình. Châu Phi trải qua gánh nặng bệnh tật cao nhất với khoảng 0,27 đợt VP/trẻ/năm và 540.600 trường hợp tử vong do VP liên quan đến trẻ em dưới 5 tuổi, tiếp theo là Đông Nam Á (0,26 đợt VP/trẻ/năm; 443.800 trường hợp tử vong). Ước tính ở Tây Thái Bình Dương là 0,11 đợt VP/trẻ/năm với 61.900 ca tử vong liên quan đến VP [61].1: Ước tính gánh nặng bệnh viêm phổi trẻ em dưới 5 tuổi theo khu vực của WHO (2011) [61] Tổng số Khu vực của Tổng số trẻ Số đợt mỗi Tổng số đợt người chết WHO <5 tuổi năm (triệu) (nghìn) Châu Phi 133.700 0,08 6,4 23,9 Địa Trung Hải 72.087 0,26 47,4 443,8 Phía tây Thái 116,411,580 0,11 12,2 61,9 Bình Dương Toàn bộ 633.337 0,19 120,4 1256,8 Tại Việt Nam Theo thống kê của WHO (2008), Việt Nam là một trong số 15 quốc gia có gánh nặng bệnh tật của VP trẻ em cao nhất, với khoảng 2,9 triệu ca mắc và 0,35 đợt VP/trẻ dưới 5 tuổi/năm [53]. Mặc dù đạt được nhiều tiến triển tốt trong thời gian gần đây, gánh nặng bệnh tật của VP trẻ em tại Việt Nam vẫn cao gần gấp 10 lần các nước phát triển như Úc, Nhật.
Năm 2015, WHO ước tính nhiễm trùng hô hấp cấp tính chiếm 11% số ca tử vong dưới 5 tuổi tại Việt Nam [64]. Theo các nghiên cứu tiến hành tại bệnh 5 viện Nhi Trung ương năm 2015, số bệnh nhân VP là 14939/76922 tương đương 14,9 %. Tỷ lệ tử vong do VP ở nước ta chiếm 33% trong tổng số các nguyên nhân gây tử vong của trẻ em. Năm 2000, tổng số bệnh nhi nhập vào bệnh viện Nhi đồng II là 43093 trong đó có 19557 bệnh nhi là VP chiếm tỷ lệ 45,3%, đứng đầu tỷ lệ nhập viện [4].
Theo nghiên cứu của Đào Minh Tuấn (2010) tại Bệnh viện Nhi Trung ương cho thấy VP chiếm tới 50,59% số trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp điều trị tại khoa hô hấp [28]. Năm 2018, Phùng Thị Kim Dung tiến hành nghiên cứu trên 400 trẻ dưới 5 tuổi được chẩn đoán nhiễm khuẩn hô hấp cấp nằm điều trị tại khoa Nhi – Bệnh viện Phụ sản Nhi Bình Dương cho thấy VP chiếm tỷ lệ khá cao (32,25% tổng số trẻ) [14]. Nguyên nhân gây viêm phổi Có thể chia thành 4 nhóm sau [4][47]: - Virus: có nhiều loại khác nhau gây viêm phổi ở trẻ em. Trong đó thường gặp nhất là virus cúm, RSV (hợp bào đường hô hấp), Adenovirus,.
Ngoài ra còn có một số virus khác thường gây bệnh ở trên trẻ có cơ địa suy dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch như: Parainfluenzae virus (PIVS), Coronavirus, Herpes simplex virus (HSV), Varicella zoster virus (VZU). - Vi khuẩn: Ngoài các tác nhân do virus, còn có rất nhiều các tác nhân gây viêm phổi do vi khuẩn như: H. pyogenes, Escherichia coli, … 6 Bên cạnh đó, chúng ta luôn phải đương đầu với các loại vi khuẩn có khả năng kháng nhiều loại kháng sinh, gây rất nhiều khó khăn cho điều trị như Acinobacter, Klebsiella pneumoniae, P. Các vi khuẩn không điển hình như là: Mycoplasma, Chlamydia, Legionella spp.
Nhóm vi khuẩn này ít được nhắc đến trước đây không phải vì chúng ta ít quan tâm mà do thiếu điều kiện chẩn đoán xác định và các phòng xét nghiệm trong nước chưa có khả năng định danh được vi khuẩn này. Ngày nay, cùng với tiến bộ của khoa học kỹ thuật, chúng ta đã hiểu rõ hơn về cấu tạo, cơ chế gây bệnh cũng như sự phát triển của Mycoplasma pneumoniae. Do vậy, các trường hợp viêm phổi không điển hình sẽ được điều trị đặc hiệu, rút ngắn thời gian điều trị và giảm chi phí nằm viện [19]. - Ký sinh trùng: một số ký sinh trùng cũng có khả năng gây VP cho trẻ em, phổ biến nhất là Pneumocystis carinii (thường gặp ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch).
- Nấm: loại nấm thường gặp nhất là Candida albicans gây tưa miệng và viêm phổi kèm theo. Ngoài ra, cũng có thể gặp viêm phổi do nấm Aspergilus blastomyces. Yếu tố nguy cơ Một số yếu tố nguy cơ gây viêm phổi ở trẻ em: - Trẻ có tiền sử đẻ non, thấp cân: dưới 2500g khi đẻ cũng là một trong những nguy cơ cao đối với viêm phổi ở trẻ em. Ở những trẻ này, sự biệt hóa của phổi chưa cao, trung tâm hô hấp chưa hoàn chỉnh, sức đề kháng kém, nồng độ các kháng thể chưa đáp ứng với yêu cầu của trẻ.
Tất cả những yếu tố đó làm cho trẻ dễ bị viêm phổi [16],[46],[50]. 7 Trong nghiên cứu của Khu Thị Khánh Dung nhận xét trẻ đẻ non và đẻ thấp cân có tỷ lệ mắc viêm phổi cao hơn 1,13 lần so với trẻ sơ sinh bình thường [13]. Theo Trần Quỵ, cân nặng lúc đẻ thấp cũng là một yếu tố nguy cơ viêm phổi nặng ở trẻ dưới 1 tuổi. Tác giả cho biết viêm phổi rất nặng chiếm tỷ lệ 61,3% ở trẻ có cân nặng lúc đẻ dưới 2500g.
Tỷ lệ tử vong ở trẻ cân nặng thấp dưới 2500g sau 1 tuần là 8,5%; và từ tuần thứ tư đến dưới 1 năm tuổi là 26,4%; nguyên nhân chính là do viêm phổi. Trong khi đó ở nhóm trẻ có cân nặng khi đẻ trên 2500g thì lệ đó là 1,7% và 6,8% [25]. và cộng sự nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm virus RSV phải nhập viện điều trị do viêm phổi tại Italia, qua sử dụng phép hồi quy để phát hiện các yếu tố liên quan đến tình trạng nặng. Kết quả, một tỷ lệ lớn các đối tượng nghiên cứu là trẻ có tuổi thai ít (đẻ non) và cân nặng thấp khi đẻ liên quan chặt chẽ với mức độ nhiễm RSV [51].
- Vấn đề dinh dưỡng: như thiếu sữa mẹ, cai sữa sớm, thiếu vitamin A, còi xương, suy dinh dưỡng. Việc nuôi trẻ bằng sữa công thức và bú bình ảnh hưởng đến nồng độ các kháng thể, trẻ có sức đề kháng kém dễ các bệnh nặng hơn so với nhóm được bú mẹ đầy đủ [16]. Trong số trẻ thiếu sữa mẹ, tỷ lệ viêm phổi rất nặng chiếm 62,3%; trong khi nhóm nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn chỉ có 37,5% trẻ bị VP nặng [25]. Tác giả Lưu Thị Thuỳ Dương cho rằng nguy cơ viêm phổi nặng ở trẻ bị suy dinh dưỡng cao gấp 2,5 lần so với trẻ không suy dinh dưỡng [16].