CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Tên gọi và phân loại Theo một số tài liệu nghiên cứu trên thế giới thì loài Dẻ anh có các tên khoa học sau: Castanopsis piriformis Hickel & A. Camus dẫn theo 24, 51.
Castanopsis piriformis (Seem. Camus dẫn theo 24. Lithocarpus piriformis (Seem.) Rehd dẫn theo 24. Lithocarpus pyriformis (Von Seemen) Rehder 49; 52.
Như vậy, các tên gọi Dẻ anh đều có một số nét giống nhau là đều nằm trong cùng họ Dẻ nhưng khác nhau ở tên chi (Castanopsis hoặc Lithocarpus), cùng tên loài, nhưng khác nhau ở tên tác giả, điều này cho thấy Dẻ anh là loài được nhiều nhà phân loại thực vật quan tâm và được phát hiện ở nhiều nơi. Ngoài danh pháp quốc tế, ở mỗi nước lại có những tên gọi khác nhau, trong tiếng Anh hạt dẻ có tên chung là Chestnut, ở Lào có tên là Co 24,48. Họ Dẻ là một họ thực vật lớn và được nhiều nhà khoa học quan tâm, vì vậy trên thế giới cũng có khá nhiều quan điểm khác nhau khi nghiên cứu về phân loại họ Dẻ, tuy nhiên hệ thống phân loại của Takhtajan A. (1996) là đầy đủ và hợp lý hơn cả.
Theo hệ thống phân loại này, họ Dẻ được chia thành 4 phân họ với 7 chi: Castanea, Castanopsis, Fagus, Lithocarpus, Chrysolepis, Trigonobalanus và Quercus. Theo hệ thống phân loại mới, Dẻ anh có tên khoa học là Castanopsis piriformis Hickel & A. Camus thuộc chi Castanopsis họ Fagaceae, bộ Fagales, lớp Magnoliopsida, ngành Magnoliophyta 46; 49. Về hình thái Trên thế giới cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu, mô tả hình thái Dẻ anh, trong đó có nhiều công trình nghiên cứu mô tả khá kỹ về đặc điểm thân, cành, lá, rễ và các cơ quan sinh sản.
Theo Lecomte (1910 - 1928) thì lá Dẻ anh dài 13 - 16 cm, rộng 3 - 5,5 cm, gân lá có 7 - 8 cặp, cuống hoa đực dài 10 - 12 cm, hoa cái dài 15 cm, quả có kích thước 2 - 2,5 cm 50. Theo mô tả của Khamleck (2004) 24 Dẻ anh là cây gỗ lớn, cao 20 - 25 m, đường kính 40 - 60 cm, lá hình thon, dài 12 - 14 cm, rộng 4 - 4,7 cm, mép lá nguyên, gân phụ 12 - 14 đôi, mặt trên không có lông, mặt dưới có lông ngắn dày, cuống lá dài 1 cm, gié quả dài 12 - 15 cm, đấu quả có vảy thưa bao kín hạch. Đặc điểm phân bố và sinh thái Lecomte M. Theo Khamleck (2004) 24 họ dẻ có phân bố khá rộng, với khoảng 900 loài được tìm thấy ở vùng ôn đới Bắc bán cầu, cận nhiệt đới và nhiệt đới.
Tuy nhiên, chưa có tài liệu nào công bố chúng có ở vùng nhiệt đới Châu Phi. Hầu hết các loài phân bố tập trung ở Châu Á, đặc biệt ở Việt Nam có tới 216 loài và ít nhất là Châu Phi và vùng Địa Trung Hải chỉ có 2 loài. Số liệu tổng hợp phân bố họ Dẻ được tổng hợp bảng 1. Phân bố họ Dẻ trên thế giới Phân bố Số loài Campuchia Colombia Trung Qu Malaysia Thái Lan America Canađa Europe Burma Ấn Độ Chi Lào Nh Vi Quercus 22 49 28 26 4 32 21 27 15 6 33 14 Trigonobalanus 1 1 1 1 3 Lithocarpus 40 109 50 52 20 13 43 2 2 1 Castanopsis 26 54 27 27 10 12 14 20 1 2 Castanea 2 1 3 1 1 2 2 Fagus 1 2 1 5 1 1 Chrysolepis 2 Tổng 88 216 106 105 35 45 48 32 81 15 40 20 3 Theo Lecomte M.
trong cuốn "Flore générale de L'indo - Chine", Tập V, tác giả đã phát hiện Dẻ anh có phân bố tự nhiên ở các nước Đông Dương như Lào (Attopeu); Campuchia (Kompong-cham) và Việt Nam (Thủ Dầu Một, Bà Rịa Vũng Tàu) (Lecomte M. Đặc biệt, gần đây phải kể đến công trình nghiên cứu của Khamleck ở Lào, tác giả cho rằng các loài dẻ thường phân bố không đều, một số loài thường mọc theo ven suối, thung lũng, sườn dốc, trên đỉnh núi hoặc phân bố rải rác, còn một số loài phân bố thành quần thụ. Tác giả đã phát hiện ở Lào Dẻ anh thường có phân bố ở ven suối, rừng lá rộng thường xanh, trên độ cao 300 - 1000 m so với mặt nước biển, ở vĩ độ từ 14o05’ - 16o (Khamleck, 1998, 2004) 48, 24. Giá trị sử dụng Trong công trình nghiên cứu của Linne (1753), tác giả chỉ ra rằng hầu hết các loài dẻ cho gỗ cứng, nặng, khó bị mối mọt, có thể dùng làm nhà, đóng 6 tàu xe, làm cầu, trụ mỏ, đồ gia dụng, đặc biệt vỏ cây có nhiều tanin dùng để thuộc da (dẫn theo Khamleck, 2004) 24.
Theo Khamleck (2004), gỗ họ dẻ được dùng phổ biến trong dân gian. Vỏ một số loài cho Tanin dùng thuộc da, nhuộm vải có giá trị. Đặc biệt các loài thuộc chi Castanopsis có thể xếp loại cây đa tác dụng vừa cho gỗ, củi, hạt, Tanin, và thân dùng gây trồng nấm dẫn theo 24. Dẻ anh là cây gỗ lớn, gỗ có thể sử dụng trong xây dựng, đồ gia dụng (Lecomte M.
Ngoài giá trị cho gỗ, Dẻ anh là một trong những loài thuộc chi Castanopsis cho hạt làm thực phẩm ăn được (Lecomte M. (2001) hạt dẻ là thực phẩm có giá trị. Hàm lượng tinh bột khá cao tuỳ theo từng loài chiếm 40 - 60%, đường 10 - 22%, protein 5 - 11%, chất béo 2 - 7,4%, đặc biệt hạt dẻ còn chứa nhiều vitamin A, B1, B2, C, nhiều khoáng chất, thơm ngon, bổ, dùng trong chế biến bánh kẹo, bột dinh dưỡng (dẫn theo Trần Lâm Đồng và cs, 2007) 14. Tình hình gây trồng dẻ ăn hạt Một số loài dẻ ăn hạt đã được nghiên cứu khá toàn diện, từ chọn giống, nhân giống sinh dưỡng và các biện pháp kỹ thuật gây trồng, thu hái chế biến hạt cho từng vùng.
Đặc biệt, Dẻ ván (Castanea mollissima Blume) có xuất xứ từ Trung Quốc đã được nghiên cứu, chọn được trên 300 giống và dẫn giống đến gây trồng ở nhiều nước khắp các châu lục như Nhật Bản, Triều Tiên, Mỹ, Pháp, Úc, Mỹ La tinh, Việt Nam,. Theo thống kê của FAO (Bounous G., 2001) trong giai đoạn 1991 - 2000, diện tích trồng dẻ trên thế giới khá ổn định và dao động từ 240.129 ha với năng suất từ 1.106 kg/ha, sản lượng đạt 470. Cũng theo báo cáo này, số liệu tổng kết về diện tích, năng suất và sản lượng hạt dẻ năm 2000 của các quốc gia trên thế giới như sau: 7 Bảng 1. Diện tích, năng suất và sản lượng hạt dẻ các quốc gia trên thế giới Diện tích Năng suất Sản lượng Tỷ lệ Quốc gia (ha) (kg/ha) (tấn) (%) Thế giới 253.443 15,7 Thổ Nhĩ Kỳ 40.207 5,2 Bồ Đào Nha 20.004 2,4 Tây Ban Nha 7.003 2,0 CHND Triều Tiên 5.500 1,7 Qua bảng trên ta thấy Trung Quốc là nước có diện tích trồng dẻ ăn hạt lớn nhất thế giới với 46.000 ha, tiếp đến là Thổ Nhĩ Kỳ với 40.000 ha,… năng suất hạt dẻ ở các nước cũng rất khác nhau, cao nhất là ở Ý với 3.338 kg/ha và thấp nhất là Nhật Bản với 953 kg/ha.
Trung Quốc là nước có sản lượng hạt dẻ lớn nhất thế giới với 117.990 tấn chiếm 23,6% tổng sản lượng hạt dẻ trên thế giới. Tên gọi và phân loại Ở nước ta ngoài tên gọi thông thường, Dẻ anh còn có một số tên gọi khác mang tính chất địa phương như Cà ổi tháp 23; Koih, Long coi (dân tộc Bana),… 8 Về danh pháp quốc tế, Dẻ anh cũng được nhiều nhà khoa học gọi với các tên khác nhau. Theo Nguyễn Tiến Bân (2003) 4 Dẻ anh có các tên khác nhau như Lithocarpus pyriformis (Seem. (1919) hoặc Quercus pyriformis Seem (1987), sau khi đi sâu phân tích tác giả xác định đây chính là một loài có tên là Castanopsis piriformis Hickel & A.
Camus, quan điểm này cũng được nhiều tác giả ủng hộ, sau này Dẻ anh được dùng với tên chính thức là Castanopsis piriformis Hickel & A. Camus 4; 5, 18 thuộc họ dẻ (Fagaceae). Đây cũng chính là tên khoa học của loài Dẻ anh được tác giả sử dụng trong luận văn này. Ở Việt Nam họ dẻ (Fagaceae) là một trong 10 họ có số loài lớn nhất (Nguyễn Tiến Bân, 1997) 3, (Viện Địa lý, 1999) 43.
Chính vì vậy, họ dẻ là đối tượng nghiên cứu khá phức tạp, không những chúng có số loài lớn mà còn có vùng phân bố rộng, chủ yếu là cây gỗ lớn (Nông Văn Tiếp, Lương Văn Dũng, 2007) 33. Hai nhà khoa học người Pháp R. Camus là những người đầu tiên đã có nhiều công trình nghiên cứu về họ dẻ ở Việt Nam và Đông Dương. Theo các tác giả, họ dẻ có 3 chi: Quercus, Lithocarpus và Castanopsis, với tổng số 157 loài (Lecomte M.
Các kết quả nghiên cứu về số loài trong họ dẻ ở nước ta cũng rất khác nhau, tuy nhiên các kết quả đều cho thấy họ dẻ là họ có nhiều loài thuộc dạng bậc nhất nước ta. Theo Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến (1978) trong Phân loại Thực vật học, tác giả cho rằng Fagaceae là họ duy nhất nằm trong bộ Fagales, ở Việt Nam có 5 chi: Castanea, Castanopsis, Fagus, Lithocarpus và Quercus (dẫn theo Nông Văn Tiếp và Lương Văn Dũng, 2007) 33. Năm 1993, Trần Đình Lý và cs khi nghiên cứu họ dẻ ở Việt Nam đã nhận xét Fagaceae có 5 chi gồm 100 loài, trong đó chủ yếu là các loài thuộc các chi Castanopsis, Lithocarpus và Quercus, đây là những loài cung cấp gỗ và cho quả ăn được 28. Năm 1999, Lê Trần Chấn và cs đã chỉ ra họ dẻ là một trong 9 10 họ có số loài lớn nhất Việt Nam với khoảng 213 loài 43.
Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2000) trong cuốn “Thực vật rừng” đã chỉ ra họ Dẻ là một họ lớn gồm 7 chi với trên 600 loài, ở Việt Nam có 5 chi khoảng 120 loài 7. Theo Phạm Hoàng Hộ (2000) thì Việt Nam có 215 loài thuộc họ Dẻ 18. Trần Hợp (2002) trong cuốn Tài nguyên cây gỗ Việt Nam, tác giả cũng xác định họ Dẻ là họ duy nhất thuộc bộ Dẻ, và mô tả khá chi tiết về hình thái, đặc điểm sinh thái và vùng phân bố của 5 chi dẻ với 59 loài 23. Theo Nguyễn Tiến Bân (2003) 4 họ dẻ ở Việt Nam có 6 chi: Castanea, Castanopsis, Fagus, Lithocarpus, Quercus và Trigonobalanus với 216 loài.
Hiện nay chúng ta vẫn sử dụng chủ yếu theo hệ thống phân loại này. Về phân loại, do là một họ có số lượng loài rất lớn nên các nghiên cứu ở nước ta mới chủ yếu tập trung vào phân loại các phân họ và chi, việc phân loại đến loài còn rất ít nghiên cứu. Về hình thái Dẻ anh là cây gỗ lớn, cao 20 - 25 m, đường kính 40 - 60 cm. Vỏ ngoài xám trắng, nứt dọc, thịt vỏ trắng vàng.