Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Họ Dầu (Dipterocarpaceae) là một trong những họ thực vật thân gỗ ưu thế đặc trưng của thảm thực vật rừng mưa nhiệt đới khu vực Đông Nam Á, bao gồm khoảng 13 chi và 470 loài. Tại miền Bắc Việt Nam, các loài thuộc họ Dầu như Chò chỉ (Parashorea chinensis), Táu mật (Vatica tonkinensis), Táu muối, Chò nâu chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong cấu trúc tổ thành của kiểu rừng lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới. Cây Chò chỉ (Parashorea chinensis) là loài cây gỗ lớn bản địa quý hiếm, có giá trị sinh thái và kinh tế cao, thân thẳng, sinh trưởng tương đối nhanh, có tiềm năng ứng dụng lớn trong trồng rừng phòng hộ và lâm nghiệp đô thị. Tuy nhiên, theo phân hạng của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN, 1994), loài này được xếp vào cấp độ VU/cd (sắp nguy cấp/phụ thuộc bảo tồn) do áp lực khai thác bừa bãi và suy thoái môi trường sống tự nhiên.

Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu (tỉnh Yên Bái), các dữ liệu về phân bố, cấu trúc quần xã và đặc tính sinh học của loài Chò chỉ còn thiếu hụt và chưa được nghiên cứu hệ thống. Nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học phục vụ công tác quản lý, bảo tồn nguồn gen và phát triển lâm sinh, đề tài "Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Chò chỉ (Parashorea chinensis) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu tỉnh Yên Bái" được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể gồm 3 nội dung:

  1. Xác định được những đặc điểm hình thái và vật hậu của loài Chò chỉ tại khu vực nghiên cứu.
  2. Xác định được một số đặc điểm sinh thái và phân bố của loài Chò chỉ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu.
  3. Bước đầu đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững loài cây Chò chỉ ở Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Loài Chò chỉ (Parashorea chinensis Wang Hsie) thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae).
  • Phạm vi không gian: Các lâm phần rừng tự nhiên thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, nằm trên địa giới hành chính của 4 xã: Nà Hẩu, Đại Sơn, Mỏ Vàng và Phong Dụ Thượng (huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái), giới hạn ở đai độ cao dưới 750 m so với mực nước biển.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thực địa và theo dõi vật hậu được thu thập trong giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2014; tổng hợp và hoàn thành khóa luận vào tháng 5 năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng các lý thuyết kinh điển về sinh thái học rừng, phân loại thảm thực vật và cấu trúc rừng mưa nhiệt đới của Richards P.W., kết hợp phương pháp nghiên cứu cấu trúc phân tầng và phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam của Thái Văn Trừng (1963, 1978), phân chia đai rừng của Trần Ngũ Phương (1963), phương pháp điều tra thực vật học của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) và quy trình điều tra vật hậu học theo giáo trình Cây rừng Việt Nam (Đại học Lâm nghiệp, 1966).

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa điều tra thực địa và xử lý nội nghiệp:

                  [Kế thừa tài liệu & Bản đồ]
                   [Điều tra sơ thám tuyến]
[Điều tra hình thái & vật hậu]               [Lập ô tiêu chuẩn OTC]
- Đo đếm 30 cây mẫu                          - 3 OTC (mỗi ô 1.000 m2)
- Theo dõi 5 cây vật hậu (6-11/2014)         - Thu thập số liệu N, D1.3, Hvn
                   [Xử lý nội nghiệp & Thống kê]
                   - Tính chỉ số IV%, N/ha, Mtg%
                   - Phần mềm: MS Excel, SPSS
  • Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập dữ liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất từ Chi cục Kiểm lâm Yên Bái (2013) và các tài liệu khí tượng từ trạm Văn Chấn, Lục Yên.
  • Phương pháp điều tra sơ thám: Xác định phạm vi phân bố của loài trên bản đồ và mở tuyến điều tra cắt ngang các trạng thái rừng đại diện.
  • Phương pháp điều tra hình thái: Đo đếm và mô tả chi tiết trên 30 cây Chò chỉ trưởng thành tự nhiên tại hiện trường. Thu thập số liệu về thân, vỏ, tán lá, hoa, quả; đo đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$), chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), đường kính tán ($D_t$) bằng thước dây, thước kẹp (palme), máy định vị GPS.
  • Phương pháp điều tra vật hậu: Theo dõi định kỳ trên 5 cây Chò chỉ mẫu tại các vị trí sinh cảnh khác nhau trong thời gian 5 tháng (tháng 6 đến tháng 11 năm 2014), ghi nhận các pha sinh trưởng: lá biến màu, rụng lá, ra lá non, ra nụ, nở hoa, quả non, quả già và quả chín rụng.
  • Phương pháp nghiên cứu cấu trúc quần xã thực vật:
    • Thiết lập 3 ô tiêu chuẩn (OTC) điển hình tạm thời, mỗi ô có diện tích $1.000,\text{m}^2$ ($0,1,\text{ha}$), phân bố ở 3 vị trí địa hình: Chân ($705,\text{m}$), Sườn ($728,\text{m}$) và Đỉnh ($746,\text{m}$) trên cùng tuyến khảo sát thuộc trạng thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp (rừng thứ sinh nhân tác trên đất nguyên trạng - trạng thái $\text{IIIA}_2$).
    • Xác định độ quan trọng sinh thái ($IV%$) theo công thức Daniel Marmillod: $$IV_i% = \frac{N_i% + G_i%}{2}$$ (Trong đó: $N_i%$ là tỷ lệ số cá thể loài $i$; $G_i%$ là tỷ lệ tiết diện ngang loài $i$ trong quần xã. Loài có $IV% \ge 5%$ được xác định là loài có ý nghĩa sinh thái tham gia vào công thức tổ thành).
    • Xác định mật độ lâm phần ($N/\text{ha}$): $N = \frac{n}{S_o} \times 10.000$ (cây/ha).
    • Xác định mức độ thường gặp ($M_{tg}%$): $M_{tg}% = \frac{r}{R} \times 100$ ($M_{tg} > 50%$: rất hay gặp; $25 - 50%$: thường gặp; $< 25%$: ít gặp).
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Sử dụng các phần mềm thống kê chuyên dụng Microsoft Excel và SPSS để tổng hợp, tính toán các tham số cấu trúc.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của việc bảo tồn các loài cây gỗ bản địa thuộc họ Dầu tại miền Bắc Việt Nam, vị trí phân loại và tình trạng đe dọa của loài Chò chỉ. Nêu rõ 3 mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu tại đai cao dưới 750 m thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài trong công tác quản lý tài nguyên rừng.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tổng hợp có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về cấu trúc rừng mưa nhiệt đới (Richards P.W., Thái Văn Trừng, Trần Ngũ Phương), thực vật chí (Lecomte, Loureiro, Pierre, Phạm Hoàng Hộ), các nghiên cứu riêng về loài Chò chỉ tại Vườn quốc gia Cúc Phương (Lê Viết Lộc 1964; Trạm Nghiên cứu VQG Cúc Phương 1976, 1985; Phạm Văn Hiếu 2000), VQG Bạch Mã, dự án GEF/UNDP (2002) tại Thanh Sơn (Phú Thọ). Phân tích chi tiết điều kiện tự nhiên, địa chất thổ nhưỡng (nhóm đất feralit đỏ vàng núi thấp, đất feralit có mùn núi trung bình), khí hậu (nhiệt độ trung bình 22 - 23°C, lượng mưa 1.547 - 2.126 mm, độ ẩm 84 - 86%), hiện trạng sử dụng đất (tổng diện tích 4 xã là 43.850 ha; diện tích vùng lõi khu bảo tồn 16.950 ha, độ che phủ rừng đạt 62,2%) và đặc điểm kinh tế - xã hội vùng đệm (dân số 13.988 người năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo tại xã Nà Hẩu chiếm 70,1%, tập quán thả rông gia súc và canh tác nương rẫy ảnh hưởng đến tài nguyên rừng).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định cụ thể đối tượng nghiên cứu là loài Parashorea chinensis, chi tiết hóa các nội dung về hình thái (thân, cành, lá, hoa, quả), vật hậu học, phân bố đai cao, cấu trúc tổ thành quần xã thực vật và hoàn cảnh rừng. Mô tả chi tiết phương pháp lập tuyến điều tra, quy cách lập 3 ô tiêu chuẩn $1.000,\text{m}^2$, phương pháp đo đếm cây mẫu, phiếu điều tra vật hậu, công thức toán học tính $IV%$, mật độ $N/\text{ha}$, độ thường gặp $M_{tg}%$, và sơ đồ quy trình nghiên cứu.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Phân tích toàn diện các kết quả điều tra thực tế tại KBTTN Nà Hẩu:

  1. Đặc điểm hình thái: Mô tả chi tiết giải phẫu thân gỗ, dạng phân cành góc 70 - 80°, bạnh vè cao tới 1,7 m; cấu tạo lá đơn mọc cách có 2 lá kèm tai chuột, 10 - 15 đôi gân thứ cấp; cấu tạo hoa tự bông cánh vàng và quả có 5 cánh phát triển từ đài (2 cánh lớn, 3 cánh nhỏ), khối lượng 1.000 quả đạt 3,53 kg.
  2. Đặc điểm vật hậu: Xác định biểu đồ các pha vật hậu trong năm, thời gian nở hoa tháng 5 - 6, quả chín rụng tháng 8 - 9, chu kỳ sai quả 4 - 6 năm, đặc tính mất sức nảy mầm nhanh của hạt (giảm 50 - 60% sau 1,5 tháng).
  3. Đặc điểm sinh thái và cấu trúc quần xã: Phân tích sự phân bố của loài Chò chỉ ở đai cao 705 - 746 m thuộc trạng thái rừng $\text{IIIA}_2$. Xác định công thức tổ thành theo $IV%$ tại 3 OTC đại diện cho 3 vị trí địa hình (Chân, Sườn, Đỉnh), trong đó Chò chỉ luôn giữ vị trí loài ưu thế trong cấu trúc tầng cây gỗ với chỉ số $IV%$ dao động từ 7,07% đến 9,46%.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các phát hiện cốt lõi về hình thái, chu kỳ vật hậu, vị trí sinh thái của Chò chỉ trong cấu trúc rừng $\text{IIIA}_2$ tại Nà Hẩu. Đề xuất các giải pháp bảo vệ nghiêm ngặt phân khu bảo tồn, kiểm soát chăn thả gia súc, hỗ trợ sinh kế bản địa, quy hoạch ranh giới rừng và hướng dẫn kỹ thuật thu hái, bảo quản hạt giống (ủ cát ẩm 80%, gieo ươm ngay sau khi thu hoạch vào tháng 8 - 9).


Kết quả và đóng góp

1. Đặc điểm hình thái và trắc lượng cá thể

Kết quả điều tra trên 30 cá thể Chò chỉ tự nhiên tại KBTTN Nà Hẩu cho thấy:

  • Thân và cành: Cây gỗ lớn, chiều cao vút ngọn trung bình từ 15,6 đến 30,5 m (trong tự nhiên cây trưởng thành có thể đạt 30 - 40 m); đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) dao động từ 6,2 đến 40,3 cm (cây già có thể đạt trên 1,2 m). Thân thẳng hình trụ, cành phân ở 3/4 chiều cao vút ngọn, góc phân cành lớn từ 70° đến 80°, cành lớn cong vặn và sà xuống. Vỏ ngoài màu xanh trắng hoặc nâu nhạt, nứt dọc nông khi thành thục, thịt vỏ màu vàng hoặc hồng nhạt, có mùi thơm nhẹ và tiết nhựa vàng. Cây có đường kính $> 60,\text{cm}$ xuất hiện bạnh vè nhỏ cao tới 1,7 m. Tán lá hình trứng hoặc hình cầu, đường kính tán trung bình 10,2 m (tương đương 1/3 chiều cao thân).
  • Lá: Lá đơn, mọc cách, phiến lá hình trái xoan hoặc trứng trái xoan, dài 10 - 15 cm, rộng 4 - 6 cm, mép nguyên, mặt sau nổi rõ 10 - 15 đôi gân thứ cấp so le qua gân chính. Nách lá có 2 lá kèm hình tai chuột, lá non màu vàng xám.
  • Hoa và quả: Cụm hoa dạng tự bông mọc ở nách lá hoặc đầu cành; hoa màu vàng, thơm nhẹ, có đôi lá bắc dài màu trắng. Quả hình trứng nhọn, dài 15 - 18 mm, rộng 5 - 6 mm, mang 5 cánh do đài phát triển thành (gồm 2 cánh lớn và 3 cánh nhỏ hình trứng ngược, đầu tròn, gốc hình nêm). Khi chín, cánh quả chuyển màu nâu sẫm; mỗi quả chứa từ 2 đến 5 hạt. Khối lượng 1.000 quả là 3,53 kg (tương đương 300 - 350 quả/kg).

2. Đặc điểm vật hậu học

Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Lá biến màu x
Lá rụng x
Ra nụ hoa x
Nở hoa x x
Quả non x x x
Quả và hạt già x x x
Quả chín rụng x x

Ghi chú: Cây Chò chỉ bắt đầu cho quả từ 10 - 12 tuổi, chất lượng hạt giống tốt từ 15 tuổi trở lên. Thời gian hoa nở rộ kéo dài khoảng 20 ngày trong tháng 5 - 6. Chu kỳ sai quả từ 4 - 6 năm (tỷ lệ cá thể ra quả đạt 70 - 80%). Hạt có dầu, mất sức nảy mầm nhanh (mất 50 - 60% tỷ lệ nảy mầm sau 1,5 tháng bảo quản thông thường).

3. Cấu trúc tổ thành quần xã thực vật tại các đai cao điều tra

Khảo sát 3 ô tiêu chuẩn ($1.000,\text{m}^2/\text{OTC}$) tại 3 vị trí địa hình thuộc kiểu phụ rừng thứ sinh nhân tác trên đất nguyên trạng (trạng thái $\text{IIIA}_2$) ghi nhận:

Vị trí OTC Độ cao (m) Mật độ ($N/\text{ha}$) Tổng số loài Chỉ số $IV%$ của Chò chỉ Vị trí $IV%$ của Chò chỉ Công thức tổ thành quần xã ($IV% \ge \text{TB}$)
Chân (OTC 2) 705 380 18 8,72% Thứ 4 / 8 loài $11,31\text{Tra} + 9,04\text{Go} + 8,96\text{Se} + 8,72\text{Chc} + 7,78\text{Khv} + 5,87\text{De} + 5,80\text{Gi} + 5,27\text{Trt}$
Sườn (OTC 1) 728 380 19 9,46% Thứ 4 / 7 loài $11,45\text{Tat} + 11,23\text{Chn} + 10,53\text{Che} + 9,46\text{Chc} + 8,49\text{Bu} + 7,65\text{Ga} + 6,68\text{Macln}$
Đỉnh (OTC 3) 746 410 20 7,07% Thứ 6 / 10 loài $7,99\text{Vm} + 7,63\text{Go} + 7,39\text{Tru} + 7,34\text{Tra} + 7,19\text{Tax} + 7,07\text{Chc} + 6,89\text{Gi} + 5,73\text{Se} + 5,57\text{Trt} + 5,32\text{Chne}$

(Ký hiệu loài: Tat: Táu trắng; Chn: Chò nâu; Che: Chẹo; Chc: Chò chỉ; Bu: Bứa; Ga: Gáo; Macln: Máu chó lá nhỏ; Tra: Trâm; Go: Gội; Se: Sến; Khv: Kháo vàng; De: Dẻ; Gi: Giổi; Trt: Trám trắng; Vm: Vỏ mản; Tru: Trường; Tax: Táu xanh; Chne: Chò nến).

  • Mật độ cá thể loài Chò chỉ: Tại độ cao 705 m và 728 m đạt 30 cây/ha ($7,89%$ tổng số cây); tại độ cao 746 m đạt 30 cây/ha ($7,32%$ tổng số cây). Chò chỉ luôn thuộc nhóm loài ưu thế sinh thái ($IV% > 5%$) trong lâm phần rừng tự nhiên núi thấp tại Nà Hẩu.

4. Đóng góp và giải pháp đề xuất

  • Đóng góp khoa học: Bổ sung dẫn liệu định lượng đầu tiên về hình thái trắc lượng, chu kỳ vật hậu học và vị trí ưu thế sinh thái của loài Chò chỉ (Parashorea chinensis) tại đai cao dưới 750 m thuộc KBTTN Nà Hẩu (Yên Bái).
  • Giải pháp bảo tồn và phát triển:
    1. Bảo vệ nguyên vẹn các dải rừng kín thường xanh mưa ẩm ở đai cao dưới 750 m, nghiêm cấm xâm lấn và phá rừng trồng thảo quả trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt.
    2. Quy hoạch cụ thể ranh giới đất ở và đất sản xuất cho cộng đồng dân cư vùng đệm (dân tộc Dao và H'Mông), kiểm soát triệt để tập quán thả rông gia súc phá hoại cây con tái sinh.
    3. Kỹ thuật nhân giống: Thu hái quả vào tháng 8 - 9 khi vỏ quả chuyển nâu nhạt, chọn lâm phần có 50 - 60% cây chín rụng; quả sau khi thu hái phải ủ ngay trong cát ẩm 80% và tiến hành gieo ươm ngay do tỷ lệ nảy mầm suy giảm nhanh theo thời gian.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Thời gian theo dõi vật hậu trực tiếp ngoài thực địa chỉ kéo dài 5 tháng (tháng 6 đến tháng 11 năm 2014) trên dung lượng mẫu 5 cây, chưa thể bao quát toàn diện chu kỳ vật hậu liên tục qua nhiều năm của loài.
    • Dung lượng điều tra cấu trúc quần xã còn hạn chế trong phạm vi 1 tuyến khảo sát với 3 ô tiêu chuẩn ($3.000,\text{m}^2$) ở đai độ cao dưới 750 m, chưa khảo sát mở rộng sang các đai cao trên 750 m hoặc các phân khu phục hồi sinh thái khác của khu bảo tồn.
    • Chưa tiến hành thí nghiệm chuyên sâu về tỷ lệ nảy mầm và động thái sinh trưởng của cây con tái sinh tự nhiên dưới tán rừng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng quan trắc vật hậu liên tục trong 3 - 5 năm để đánh giá chính xác chu kỳ sai quả và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến khả năng kết hạt.
    • Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên, động thái cấu trúc tầng cây tái sinh của Chò chỉ dưới tán rừng tự nhiên và thử nghiệm các mô hình làm giàu rừng, phục hồi rừng bằng loài Chò chỉ tại Nà Hẩu.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Giảng viên, sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng, Quản lý tài nguyên thiên nhiên, Lâm sinh và Bảo tồn đa dạng sinh học.
  • Các nội dung có giá trị ứng dụng cao:
    • Dữ liệu trắc lượng hình thái thân, lá, hoa, quả và bảng pha vật hậu chi tiết phục vụ nhận diện phân loại thực vật họ Dầu và lập kế hoạch thu hái hạt giống lâm nghiệp.
    • Phương pháp luận xác định chỉ số $IV%$ theo Daniel Marmillod và công thức tổ thành tầng cây gỗ ứng dụng trong điều tra, đánh giá cấu trúc thảm thực vật rừng tự nhiên.
    • Bộ giải pháp kỹ thuật bảo quản hạt giống (ủ cát ẩm 80%) và định hướng quản lý bảo tồn đa dạng sinh học gắn với sinh kế cộng đồng tại vùng đệm các khu rừng đặc dụng miền núi phía Bắc.

Câu hỏi thường gặp

1. Loài Chò chỉ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu phân bố chủ yếu ở đai độ cao và kiểu rừng nào?
Chò chỉ phân bố ở đai độ cao dưới 750 m (khảo sát thực tế từ 705 m đến 746 m so với mực nước biển), thuộc kiểu phụ rừng thứ sinh nhân tác trên đất nguyên trạng – trạng thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp (trạng thái $\text{IIIA}_2$), thường mọc tự nhiên ở ven sông suối, chân hoặc sườn núi dốc.

2. Kích thước và trọng lượng quả của loài Chò chỉ tại khu vực nghiên cứu được ghi nhận như thế nào?
Quả Chò chỉ hình trứng nhọn, dài 15 - 18 mm, rộng 5 - 6 mm, có 5 cánh phát triển từ đài (2 cánh to, 3 cánh nhỏ). Mỗi quả chứa 2 - 5 hạt. Khối lượng 1.000 quả đạt 3,53 kg (trung bình 1 kg có từ 300 đến 350 quả).

3. Thời điểm ra hoa, kết quả và kỹ thuật bảo quản hạt giống Chò chỉ được tác giả xác định ra sao?
Hoa Chò chỉ nở vào tháng 5 - 6 (kéo dài khoảng 20 ngày), quả non từ cuối tháng 5 đến tháng 7, quả già và chín rụng vào tháng 8 - 9. Chu kỳ sai quả từ 4 - 6 năm. Do hạt có dầu và mất sức nảy mầm nhanh (sau 1,5 tháng mất 50 - 60% sức nảy mầm), quả thu hái vào tháng 8 - 9 cần được ủ ngay trong cát ẩm 80% và đem gieo ươm kịp thời.

4. Vị trí của Chò chỉ trong công thức tổ thành rừng tại các ô tiêu chuẩn điều tra ra sao?
Trong cả 3 ô tiêu chuẩn ($1.000,\text{m}^2/\text{OTC}$), Chò chỉ đều tham gia vào công thức tổ thành ưu thế ($IV% \ge 5%$): đứng vị trí thứ 4 ở độ cao 705 m ($IV% = 8,72%$) và độ cao 728 m ($IV% = 9,46%$); đứng vị trí thứ 6 ở độ cao 746 m ($IV% = 7,07%$), với mật độ ổn định 30 cây/ha.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phùng Kim Hải đã giải quyết trọn vẹn các mục tiêu nghiên cứu về đặc điểm hình thái, vật hậu và vị trí sinh thái của loài Chò chỉ (Parashorea chinensis) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, tỉnh Yên Bái. Kết quả điều tra thực địa khẳng định Chò chỉ là loài cây gỗ lớn ưu thế sinh thái ở đai rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới dưới 750 m, có chu kỳ ra hoa kết quả đặc thù và yêu cầu gieo ươm khắt khe. Công trình cung cấp hệ thống số liệu định lượng có giá trị khoa học thực tiễn, làm nền tảng cho công tác bảo tồn nguồn gen quý hiếm và phát triển lâm sinh bền vững tại địa phương.