Đặt vấn đề Rừng là tài nguyên quý giá, là một bộ phận quan trọng của môi trường sống, luôn gắn liền với đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi. Rừng không chỉ có giá trị về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hoà khí hậu, phòng hộ đầu nguồn, hạn chế thiên tai, ngăn chặn sự hoang mạc hoá, chống sói mòn, sạt lở đất, ngăn ngừa lũ lụt, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thời rừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng. Họ Dầu (Dipterocarpaceae), là một họ thực vật điển hình của rừng nhiệt đới Đông Nam Á, Có phân bố rộng trải suốt khu vực từ Ấn Độ đến Philippin, gồm 13 chi và 470 loài. Trung tâm phân bố của các loài cây họ Dầu còn có cả ở Lào, Campuchia, Thái Lan, Việt Nam, Myanmar và Trung Quốc (Thái Văn Trừng, 1978 [27]).
Hệ sinh thái của các loài cây họ Dầu trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng chịu tác động rất mãnh liệt bởi các nhân tố phát sinh. Tác động này không chỉ chi phối phạm vi phân bố mà còn tạo nên sự đa dạng về kiểu rừng, về tổ hợp cây ưu thế tạo thành nhiều trạng thái rừng khác nhau. Hệ sinh thái rừng cây họ Dầu ở khu vực phía Bắc chủ yếu là các kiểu rừng lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới mà tổ thành là các loài cây lá rộng họ 3 mảnh vỏ (Euphorbiaceae), họ Dẻ (Fabaceae), Họ Xoan (Meliaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Đậu (Fabaceae). Các loài cây họ Dầu như cây Chò chỉ (Parashorea chinensis), Táu mật (Vatica tonkinensis), Táu muối, Chò nâu chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong cấu trúc tổ thành rừng tự nhiên lá rộng thường xanh (Thái Văn Trừng, 1983 [27].
2 Cây Chò chỉ (Parashorea chinensis), mới được nghiên cứu ở nước ta vào những năm 1965 với công trình nghiên cứu của Lê Viết Lộc về “Bước đầu điều tra thảm thực vật rừng Cúc Phương” Công trình đã tiến hành điều tra 47 ô tiêu chuẩn có diện tích 1000 m2 và 2000 m2 và đã xây dựng được bản đồ phân bố của 11 loại hình ưu thế trong vùng nghiên cứu cho thấy ở Cúc phương Chò chỉ là cây ưu thế lập quần trong loại hình ưu thế: Sâng – Sấu – Chò chỉ - Đinh hương (Lê Viết Lộc, 1964 [20]). Chò chỉ mang nhiều đặc điểm quan trọng cho khoa học và là loài cây tiềm năng có thể ứng dụng trong lâm nghiệp đô thị, trồng rừng hay có thể phát triển nghiên cứu, nhưng sự phân bố của loài này tại khu bảo tồn còn ít được biết đến. Từ thực tiễn nêu trên, tôi chọn đề tài: "Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Chò chỉ (Parashorea chinensis) tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu tỉnh Yên Bái" ” nhằm góp phần nâng cao hiểu biết, đề xuất những hướng bảo tồn và phát triển loài cây có triển vọng và hiếm này tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu 1. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
- Xác định được những đặc điểm hình thái và vật hậu của loài Chò chỉ. - Xác định được một số đặc điểm sinh thái của loài Chò chỉ tại khu vực nghiên cứu. - Bước đầu đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây này ở Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu.3 Ý nghĩa của đề tài. - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học + Qua việc thực hiện đề tài sẽ giúp sinh viên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, cũng cố kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tế; biết các thu thập, phân tích và xử lý thông tin cũng như kỹ năng tiếp cận và làm việc với cộng đồng thôn bản và người dân.
3 + Bổ sung các thông tin khoa học và là cơ sở khoa học cho các nhà quản lý. - Ý nghĩa trong thực tiễn + Nghiên cứu loài Chò chỉ (Parashorea chinensis), làm cơ sở đề xuất hướng bảo tồn và phát triển loài tại KBT TN Nà Hẩu Tỉnh Yên Bái 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước.1 Trên thế giới 2.1 Nghiên cứu về cấu trúc Nghiên cứu về cấu trúc rừng Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được Richards P. Các nghiên cứu này thường nêu lên quan điểm, khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng. Ngày nay, đa dạng sinh học đang được nhiều nhà khoa học quan tâm, đặc biệt việc bảo vệ đa dạng sinh học đã trở thành vấn đề quốc tế mà mọi quốc gia đều đặt vào vị trí quan trọng.
Quan trọng về lĩnh vực này là công ước bảo tồn đa dạng sinh học được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu ở Rio De Janeiro (1992) (Nguyễn Bá Thụ, 1995 [30]). Tại đây, định nghĩa về đa dạng sinh học đã được nêu một cách đầy đủ là: Đa dạng sinh học gồm 3 yếu tố đa dạng hệ sinh thái, đa dạng loài và đa dạng di truyền. Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài cây Việc nghiên cứu sinh học loài cây trong đó có các đặc điểm hình thái và vật hậu đã được thực hiện từ lâu trên thế giới. Đây là bước đầu tiên, làm tiền đề cho các môn khoa học khác liên quan.
Có rất nhiêu công trình liên quan đến hình thái và phân loại các loài cây. Những nghiên cứu này đầu tiên tập trung vào mô tả và phân loại các loài, nhóm loài, .Có thể kể đến một vài công trình rất quen thuộc liên quan đến các nước lân cận như: Thực vật chí Hong Kong (1861), Thực vật chí Australia (1866), Thực vật chí rừng Tây Bắc 5 và trung tâm Ấn độ (1874), Thực vật chí Ấn độ 7 tập (1872 – 1897), Thực vật chí Miến Điện (1877), Thực vật chí Malaysia (1892 – 1925), Thực vật chí Hải Nam (1972 – 1977), Thực vật chí Vân Nam (1977), Thực vật chí Quảng Đông, Trung Quốc (9 tập). Sự ra đời của các bộ thực vật chí đã góp phần làm tiền đề cho công tác nghiên cứu về hình thái, phân loại cũng như đánh giá tính đa dạng của các vùng miền khác nhau. Về vật hậu học: Hoạt động sinh học có tính chất chu kỳ của các cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản.
Chu kỳ vật hậu của cùng 1 loài phân bố ở các vùng sinh thái khác nhau sẽ có sự sai khác rõ rệt. Điều này có ý nghĩa cần thiết trong nghiên cứu sinh thái cá thể loài và công các chọn tạo giống. Các công trình như nêu trên cũng đã ít nhiều nêu ra các đặc điểm về chu kỳ hoa, quả và các đặc trưng vật hậu của từng loài, nhóm loài. Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học loài cây Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài làm cơ sở đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong kinh doanh rừng rất được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Theo đó, các lý thuyết về hệ sinh thái, cấu trúc, tái sinh rừng được vận dụng triệt để trong nghiên cứu đặc điểm của 1 loài cụ thể nào đó. Ông đã phân chia ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể. Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài, trong đó chu kỳ sống, tập tính cũng như khả năng thích nghi với môi trường được đặc biệt chú ý. Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới (World Agroforestry Centre, 2006), Anon (1996), Keble và Sidiyasa (1994) đã nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài Vối thuốc (Schima wallichii) và đã mô tả tương đối chi tiết về đặc điểm hình thái thân, lá, hoa, quả, hạt của loài cây này, góp phần cung cấp 6 cơ sở cho việc gây trồng và nhân rộng loài Vối thuốc trong các dự án trồng rừng (dẫn theo Hoàng Văn Chúc, 2009 [7]).
Vối thuốc là loài cây tiên phong ưa sáng, biên độ sinh thái rộng, phân bố rải rác ở các khu vực phía Đông Nam Châu Á. Vối thuốc xuất hiện ở nhiều vùng rừng thấp (phía Nam Thái Lan) và cả ở các vùng cao hơn (Nepal) cũng như tại các vùng có khí hậu lạnh. Là cây bản địa của Brunei, Trung Quốc, ấn Độ, Lào, Myanmar, Nepal, Papua New Guinea, Phillipines, Thailand và Việt Nam (World Agroforestry Centre, 2006). Vối thuốc thường mọc thành quần thụ từ nơi đất thấp đến núi cao, phân bố ở rừng thứ sinh, nơi đồng cỏ, cây bụi và ngay cả nơi ngập nước có độ mặn nhẹ.
Vối thuốc có thể mọc trên nhiều loại đất với thành phần cơ giới và độ phì khác nhau, từ đất cằn cỗi xương xẩu khô cằn đến đất phì nhiêu, tươi tốt, có thể thấy Vối thuốc xuất hiện nơi đầm lầy. Vối thuốc là loài cây tiên phong sau nương rẫy (Laos tree seed project, 2006) (dẫn theo Hoàng Văn Chúc, 2009) [7]. Như vậy, với các công trình nghiên cứu về lý thuyết sinh thái, tái sinh, cấu trúc rừng tự nhiên cũng như nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái đối với một số loài cây như trên đã phần nào làm sáng tỏ những đặc điểm cấu trúc, tái sinh của rừng nhiệt đới nói chung. Đó là cơ sở để lựa chọn cho hướng nghiên cứu trong luận văn.
Nghiên cứu về cây Chò chỉ Những nghiên cứu về cây Chò chỉ trên thế giới không có nhiều. Tuy nhiên, theo Wendy Jackson (Bộ canh nông Mỹ) thì họ Dầu (Dipterocarpaceae) phân bố nhiều ở vùng Đông Nam Á và rất nhạy cảm với đất, chịu ảnh hưởng sâu sắc của Cacbonnat canxi. Theo Lecont đã nghiên cứu và xuất bản cuốn “Thực vật chí Đông Dương”. Trong đó tác giả đã xác định được hai loài Chò chỉ là Parashorea stelata và Parashorea chinensis.
Hai loài cây này đã được đưa vào danh lục Thực vật ở Việt Nam. Chò chỉ phân bố nhiều ở Trung Quốc, Miến Điện thuộc 7 khu hệ Malaysia từ Nam di cư lên Bắc. Chính vì vậy mà các nghiên cứu về loài Chò chỉ tập trung nhiều ở Trung Quốc. Theo Guang xi (1974), đã nghiên cứu việc gây trồng loài Chò chỉ ở Trung Quốc và đã có những thành công nhất định.
Năm 1988, nhà nghiên cứu Lin Chi cũng đã nghiên cứu một số sinh thái ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây Chò chỉ tại vùng Quảng Đông.