Đặt vấn đề Loài Vầ u đắ ng có tên khoa học là (Indosasa angustata Mc.Clure), thuộc họ Hòa Thảo (Poace Barnh), phân họ Tre (Bambusoideae) và thuộc chi Vầ u đắ ng (Indosasa), còn có các tên gọi khác nhƣ : Vầ u lá nhỏ , cây mọc tự nhiên, là loại tre không gai, mọc phân tán đơn độc từng câytập trung nhất ở các tỉnh ở các tỉnh nhƣ Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Phú Thọ,Thái Nguyên, cũng có thể phát triển ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh, Sơn La. Rừng Vầ u đắ ng là loài cây đa tác dụng, thân khí sinh có kích thƣớc lớn dùng làm vật liệu xây dựng, làm nguyên liệu giấy, đũa, ván ghép, chiếu hạt và than hoạt tính có chất lƣợng phục vụ suất khẩu. Măng cây Vầ u đắ ng có chất lƣợng cao, hƣơng vị ngon, đƣợc ngƣời tiêu dung ƣa chuộng, cây cho năng suất cao. Chợ Đồn là huyện ở phía Tây của tỉnh Bắc Kạn cũng có diện tích rừng rộng lớn, với nhiều loại gỗ quý hiếm.
Chợ Đồn hiện có trên 64.000ha đất lâm nghiệp, chiếm 71,04% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện. Trong đó rừng sản xuất có trên 47.000ha; rừng phòng hộ có gần15.500ha, rừng đặc dụng có 1. Độ che phủ rừng đạt trên 57%, phân bố trên tất cả các xã, thị trấn. Thành phần của rừng hiện có chủ yếu là cây gỗ tạp, tre, vầu, nứa, keo, mỡ và một số loại gỗ quý hiếm.
Trong đó rừng Vầ u đắ ng có 37,6ha chủ yếu tập trung tại các xã Ngọc Phái, Phong Huân, Đại Sảo. Hiện nay, rừng Vầ u đắ ng của huyện Chợ Đồn cũng chỉ đƣợc thừa nhận về giá trị kinh tế, phòng hộ. về cấu trúc và giá trị môi trƣờng chƣa có nghiên cứu đánh giá về cấu trúc và khả năng hấp thụ CO2 để làm cơ sở cho phát triển và việc chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng cũng nhƣ xác định giá trị đích thực của rừng Vầ u đắ ng đem lại để c 2 có các giải pháp quản lý , bảo vệ và phát triển rừng Vầ u đắ ng trong thời gian tới, ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Cả tỉnh Bắc Kạn nói chung và huyện Chợ Đồnnói riêng, mỗi năm diện tích rừng Vầ u đắ ng ngày càng bị thu hẹp do sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất, phá rừng làm rẫy, trồng cây công nghiệp.
Nguyên nhân chủ yếu là do ngƣời làm nghề rừng chƣa sống đƣợc với rừng, thu nhập thấp, đời sống khó khăn.Việc mất đi những diện tích rừngVầ u đắ ng không chỉ gây ra phƣơng hại về mặt kinh tế,chức năng phòng hộ môi trƣờng, bảo tồn nguồn gen mà thông qua việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, đề tài “Nghiên cứu đặc điểm hình thái và phân bố rừng Vầ u đắ ng (Indosasa angustata Mc.Clure)tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn” đƣợc đặt ra là thật sự cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Mục tiêu của đề tài Xác định đƣợc đặc điểm hình thái và phân bốrừng Vầ u đắ nglàm cơ sở khoa học cho đề xuất mô ̣t số biê ̣n pháp kỹ thuật lâm sinh trong kinh doanh rừng Vầ u đắ ng tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Ý nghiã của đề tài 1.
Ý nghĩa trong khoa học Mở ra hƣớng nghiên cứu và đặc tính hình thái của loài tre trúc nói chung thông qua nghiên cứu các đặc trƣng ở mức độ tiểu sinh cảnh cá thể, quần thể, quần xã. Từ đó đƣa ra nhƣng cơ sở khoa học trong kinh doanh rừng Vầ u đắ ng theo hƣớng bền vững tại huyện Chợ Đồn,tỉnh Bắc Kạn. Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tƣ liệu tham khảo cho các cấp, các nghành trong việc chi trả dịch vu môi trƣờng rừng, cho chủ rừng trong thực tiễn sản xuất rừng Vầ u đắ ng tại địa phƣơng nói riêng và cho tất cả các địa phƣơng rừng có vầu nói chung. c 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học Vầ u đắ ng(Indosasa angustata Mc.Clure) là loài tre trúc bản địa có thân ngầm mọc tản phân bố tự nhiên ở nhiều tỉnh phía Bắc nƣớc ta đây là loài cây đa tác dụng, thân cây có thể làm nhiên liêu giấy, ván ghép tranh, đũa, chế biến thân hoạt tính, làm nhà, làm hàng rào. Măng vầu là loài thực phẩm có chất lƣợng cao đƣợc nhân dân ƣa chuộng, rừng Vầ u đắ ng có tầng tán lá dầy xanh quanh năm, hệ thân ngầm phát triển do phát huy tốt tác dụng của rừng phòng hộ. [7] Cho đến nay huyện Chợ Đồn nghiên cứu về đặc điểm hình thái và nhân tố ảnh hƣởng tới hình thái nhƣ đất đai, khí hậu địa hình con ngƣời tới phân bố sinh trƣởng của Vầ u đắ n g chƣa đƣợc tiến hành một cách hệ thống. Nghiên cứu cơ bản đƣa ra những giải pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp với đặc tính sinh vật học và sinh trƣởng của loài cũng nhƣ phù hợp với trình độ quản lý của ngƣời dân địa phƣơng còn là khoảng trống cần bổ sung.
Đối với loài Vầ u đắ ng huyện Chợ Đồn chƣa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách sâu sắc ảnh hƣởng của một số nhân tố sinh thái đến sinh trƣởng, phát triển, phân bố loài Vầ u đắ ng. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Tewari D. [21], [22] đã công bố số liệu cho biết trên thế giới hiện nay 80% rừng tre trúc phân bố ở Châu Á, tất cả các vùng rừng nhiệt đới và á nhiệt đới của thế giới đều có tre trúc xuất hiện.
Độ cao phân bố của chúng từ sát biển lên tới 4000m. Tác giả đã xây dựng đƣợc vùng phân bố chung cho tre trúc và bản đồ phân bố một số chi tre trúc quan trọng của thế giới. Nhìn vào bản đồ phân bố này có thể thấy đƣợc trung tâm phân bố tre trúc tập trung vào c 4 dải nhiệt đới và á nhiệt đới thuộc Châu Á, trong đó chủ yếu là ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Nhật Bản, Malaysia, Bắc Australia, Trung Phi, Nam Mỹ và một phần nhỏ ở Bắc Mỹ. Tuy nhiên không thấy đề cập có sự phân bố của chi vầu (Indosasa) ở Việt Nam.
(1995) [17] đã giới thiệu về phân bố của các loài trong chi Bambusa, Cephalostachyum, Dendrocalamus, Gimgantochloa, Sdryzostchyum, Thyrsostachys ở khu vực Đông Nam Á, nhƣng chƣa đề cập đến phân bố của các loài Indosasa. (1983) [20] đã đƣa ra danh sách và bản đồ phân bố của 17 loài trong chi Indosasa. Kết quả nghiên cứu đã đề cập đến vùng phân bố của chi Indosasa, phát hiện đƣợc ở Nam Trung Quốc và một phần ở phía Bắc Việt Nam, từ 21º đến 26º vĩ Bắc, nhƣng chƣa đƣợc chỉ rõ ràng từng vùng phân bố cụ thể. Mặc dù vậy đây có thể đƣợc coi là cơ sở ban đầu cho việc xác định khu vực phân bố cụ thể của loài Vầu đắng ở Viêt Nam, cũng nhƣ xây dựng bản đồ sinh thái khí hậu của loài.
Trong báo cáo trích yếu của các loài tre trúc ở Trung Quốc,Fu Maoyi và các tác giả (2003) (từ trang 96 – 101 đã giới thiệu tóm tắt đặc điểm hình thái và sự phân bố của một số loài trong chi Indosasa). Theo báo cáo này có một số loài nhƣ Indosasa angustata, Indosasa crassiftora, Indosasa glabrota, Indosasa hispyda, Indosasa longispicata, Indosasa parvafo, Indosasa sinica có phân bố ở phía Nam tỉnh Quảng Tây và Vân Nam là các tỉnh sát với Việt Nam. Li Yiqing (1992) [19] đã nghiên cứu dự đoán động thái cấu trúc đƣờng kính loài Pinus yunnaensis trên những ô mẫu định vị và cho biết: theo điều kiện sinh trƣởng của các cây cá thể đƣợc chia ra 4 loại nhƣ tăng trƣởng đƣờng kính 2 cm/năm, 1 cm/năm, đình trệ sinh trƣởng và chết. Hai chỉ số độ lệch đƣờng kính bình quân và mật độ đƣợc sử dụng để mô hình hóa phân bố đƣờng kính, tác giả cũng đã đƣa ra mô hình phỏng theo phân bố đƣờng kính c 5 của loài với đối tƣợng rừng tự nhiên.
Zhu Zhaohua (2000) [24] cho biết: ở đảo Hải Nam rất gần với Việt Nam đã phát hiện đƣợc 46 loài tre trúc, trong đó có 38 loài phân bố tự nhiên, chủ yếu có 3 loài mọc tản thuộc chi Phyllostachys và Sasa; tại tỉnh Vân Nam có 250 loài đã đƣợc phát hiện, diện tích tre trúc đạt tới 331.000ha, riêng loài Phyllostachys heterocrycta var. pubescenschiếm 80% diện tích kể trên. Khi đề cập tới một số khía cạnh của nhân tố khu vực Châu Á và Thái Bình Dƣơng, tổ chức FAO (1992), (2007) [18] đã đƣa ra danh mục 192 loài, cũng nhƣ đặc điểm phân bố theo đai độ cao của một số loài tre trúc. Theo Liu Jiming (2009) tiểu khí hậu là nhân tố môi trƣờng quan trọng nhất đến sinh trƣởng của cây, quần xã thực vật khác nhau sẽ cho các tiểu sinh cảnh khác nhau, môi trƣờng sinh thái khác nhau sẽ tạo nên quần xã sinh vật khác nhau, cho nên không thể tách rời nghiên cứu tiểu khí hậu.
Sự hình thành tiểu khí hậu quần xã là kết quả tác dụng tổng hợp của thực bì và môi trƣờng là phản ánh tổng hợp chất lƣợng quần xã, cũng là sự thoái hóa đƣợc khôi phục và là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá hiệu quả xây dựng lại, đặc trƣng tiểu khí hậu khác nhau rõ rệt theo từng giai đoạn diễn thế, rừng cây gỗ, cây bụi có điều kiện tiểu khí hậu tốt hơn, nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ biến ấm dần có lợi cho thực bì sinh trƣởng, quần xã ổn định đi đến cực đỉnh, nhƣng đồng cỏ, mặt đácòn phải nghiên cứu cải thiện trong thời gian dài mới biến đổi đƣợc. Dựa vào một số nhân tố nhƣ nhiệt độ, lƣợng mƣa, độ ẩm,… Zhou Fan Chun (1997) [23] đã xác định đƣợc vùng phân bố sinh thái của loài Phyllostachys pubescens ở Trung Quốc,cũng nhƣ qua điều tra thực địa, đã xác định đƣợc loại đất và đặc tính của đất nơi có loài phân bố. Căn cứ vào độ sâu của thân ngầm ở các lớp đất khác nhau, đã lập đƣợc bảng phân bố của thân ngầm loài cây này ở 3 vị trí chân, sƣờn, đỉnh. Kết quả cho thấy ở chân đồi độ sâu phân bố của thân ngầm sâu hơn 80cm, còn ở đỉnh đồi chỉ phát hiện thấy c 6 thân ngầm ở độ sâu 40cm trở lên.
Tình hình nghiên cứu trong nước Cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần thể thực vật rừng theo không gian và thời gian.