Đặc Điểm Điện Sinh Lý và Kết Quả Điều Trị Nhịp Nhanh Trên Thất

Chuyên khảo kỹ thuật phân tích Đặc điểm điện sinh lý và kết quả điều trị bằng năng lượng sóng có tần số radio của nhịp nhanh trên, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Chuyên ngành

Nội Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Tốt Nghiệp

2019

166
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH

MỞ ĐẦU

1. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.1. Mục tiêu tổng quát

1.2. Mục tiêu chuyên biệt

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. ĐẠI CƢƠNG VỀ NHỊP NHANH TRÊN THẤT

2.1.1. Khái niệm về nhịp nhanh trên thất

2.1.2. Cơ chế nhịp nhanh và phân loại nhịp nhanh trên thất

2.1.3. Các loại NNTTVVL thƣờng gặp

2.2. CHẨN ĐOÁN NHỊP NHANH TRÊN THẤT DO VÒNG VÀO LẠI

2.2.1. Triệu chứng lâm sàng

2.2.2. Điện tâm đồ bề mặt

2.2.3. Điện tâm đồ trong buồng tim qua thăm dò điện sinh lý

2.3. ĐIỀU TRỊ NHỊP NHANH TRÊN THẤT DO VÒNG VÀO LẠI

2.3.1. Điều trị cắt cơn

2.3.2. Quản lý lâu dài cơn nhịp nhanh bằng thuốc

2.3.3. Điều trị cắt đốt

2.4. GIỚI THIỆU PHƢƠNG PHÁP THĂM DÒ ĐIỆN SINH LÝ VÀ CẮT ĐỐT BẰNG NĂNG LƢỢNG SÓNG CÓ TẦN SỐ RADIO

2.4.1. Thăm dò điện sinh lý

2.4.2. Các phƣơng pháp KTT theo chƣơng trình

2.4.3. Điều trị bằng năng lƣợng sóng có tần số radio

2.5. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NHỊP NHANH TRÊN THẤT DO VÒNG VÀO LẠI TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.2. PHƢƠNG PHÁP CHỌN MẪU

3.3. DÂN SỐ NGHIÊN CỨU

3.3.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

3.3.2. Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân

3.4. PHƢƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU

3.5. SƠ ĐỒ THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU

3.6. QUY TRÌNH LẤY MẪU

3.7. CÁC TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN

3.8. ĐỊNH NGHĨA CÁC BIẾN SỐ

3.8.1. Các biến số lâm sàng

3.8.2. Các biến số cận lâm sàng

3.8.3. Các biến số trong quá trình TDĐSL

3.8.4. Các biến số liên quan điều trị

3.9. PHƢƠNG PHÁP PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU

3.10. Y ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU

4. PHÂN LOẠI NHỊP NHANH TRÊN THẤT DO VÒNG VÀO LẠI

4.1. Phân loại theo vị trí vòng vào lại

4.2. Phân loại NNVVLNNT

4.3. Phân loại NNVVLNT

5. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA NHỊP NHANH TRÊN THẤT DO VÒNG VÀO LẠI

5.1. Triệu chứng cơ năng chính

5.2. Tuổi khởi phát cơn nhịp nhanh

5.3. Siêu âm tim Doppler màu

5.4. Điện tâm đồ bề mặt

6. ĐẶC ĐIỂM THĂM DÒ ĐIỆN SINH LÝ CỦA NHỊP NHANH TRÊN THẤT DO VÒNG VÀO LẠI

6.1. Các khoảng dẫn truyền cơ bản trƣớc cắt đốt

6.2. Đặc điểm khởi phát cơn nhịp nhanh khi thăm dò điện sinh lý

6.3. Tần số tim trong cơn nhịp nhanh

6.4. Thời gian blốc nhĩ thất xuôi dòng

6.5. Bằng chứng có đƣờng kép qua nút nhĩ thất chiều xuôi

6.6. Tính chất đƣờng dẫn truyền phụ trong NNVVLNT

7. ĐIỀU TRỊ BẰNG NĂNG LƢỢNG SÓNG CÓ TẦN SỐ RADIO

7.1. Kết quả điều trị NNTTVVL

7.2. Biến chứng trong điều trị NNTTVVL bằng cắt đốt điện sinh lý

7.3. Các khoảng dẫn truyền cơ bản sau cắt đốt

7.4. Thông số kỹ thuật trong quá trình cắt đốt NNTTVVL

7.5. Thời gian cắt đốt

7.6. Thời gian chiếu tia X

7.7. Thời gian thủ thuật

8. MINH HỌA TRƢỜNG HỢP LÂM SÀNG NHỊP NHANH KỊCH PHÁT TRÊN THẤT

8.1. Trƣờng hợp 1

8.2. Trƣờng hợp 2

9. PHÂN LOẠI NHỊP NHANH TRÊN THẤT DO VÒNG VÀO LẠI

9.1. Các loại vòng vào lại

9.2. Các thể của NNVVLNNT

9.3. Các thể của NNVVLNT

10. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA NHỊP NHANH TRÊN THẤT DO VÒNG VÀO LẠI

10.1. Đặc điểm giới tính

10.2. Triệu chứng cơ năng chính

10.3. Tuổi khởi phát cơn nhịp nhanh

10.4. Siêu âm tim và điện tâm đồ trƣớc thủ thuật

11. ĐẶC ĐIỂM THĂM DÒ ĐIỆN SINH LÝ CỦA NHỊP NHANH TRÊN THẤT DO VÒNG VÀO LẠI

11.1. Lựa chọn đƣờng vào mạch máu và phƣơng thức tiếp cận đƣờng phụ bên trái

11.2. Các khoảng dẫn truyền cơ bản trƣớc thủ thuật

11.3. Khởi phát cơn nhịp nhanh

11.4. Tần số tim trong cơn nhịp nhanh

11.5. Thời gian blốc nhĩ thất xuôi dòng

11.6. Đƣờng kép qua nút nhĩ thất

11.7. Tính chất đƣờng dẫn truyền phụ

12. ĐIỀU TRỊ BẰNG NĂNG LƢỢNG SÓNG CÓ TẦN SỐ RADIO

12.1. Tỷ lệ thành công

12.2. Tỷ lệ biến chứng

12.3. Nhịp bộ nối khi đốt và đƣờng kép sau cắt đốt

12.4. Thay đổi các khoảng dẫn truyền cơ bản sau cắt đốt

12.5. Thời gian cắt đốt

12.6. Các thông số kỹ thuật khi cắt đốt

12.7. Thời gian thủ thuật và thời gian chiếu tia X

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: MẪU THU THẬP SỐ LIỆU

PHỤ LỤC 2: BẢN THÔNG TIN DÀNH CHO ĐỐI TƢỢNG THAM GIA NGHIÊN CỨU VÀ CHẤP NHẬN THAM GIA NGHIÊN CỨU

PHỤ LỤC 3: DANH SÁCH BỆNH NHÂN TRONG NGHIÊN CỨU

PHỤ LỤC 4: GIẤY CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU Y SINH HỌC ĐẠI HỌC Y DƢỢC TP HỒ CHÍ MINH

PHỤ LỤC 5: KẾT LUẬN CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ NỘI TRÚ

PHỤ LỤC 6: BẢN NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 1

PHỤ LỤC 7: BẢN NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 2

PHỤ LỤC 8: GIẤY XÁC NHẬN ĐÃ BỔ SUNG, SỬA CHỮA LUẬN VĂN THEO Ý KIẾN HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ NỘI TRÚ

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nhịp Nhanh Trên Thất Định Nghĩa và Phân Loại

Nhịp nhanh trên thất (NNTT) là thuật ngữ chỉ nhịp tim nhanh bất thường, với tần số nhĩ hoặc thất vượt quá 100 lần/phút. Cơ chế gây NNTT rất đa dạng, bao gồm vòng vào lại, tăng tự động tính và do khởi kích. NNTT bao gồm nhiều loại như nhịp nhanh xoang không thích hợp, nhịp nhanh nhĩ, nhịp nhanh bộ nối, nhịp nhanh vòng vào lại nút nhĩ thất (AVNRT)nhịp nhanh vòng vào lại nhĩ thất (AVRT). Trong đó, cơ chế vòng vào lại là phổ biến nhất, đặc biệt trong nhịp nhanh kịch phát trên thất (SVT). Tỷ lệ mắc SVT được ước tính khoảng 2.29/1000 dân, với nữ giới có nguy cơ cao gấp đôi nam giới. Việc chẩn đoán và điều trị kịp thời NNTT rất quan trọng để ngăn ngừa các biến chứng nguy hiểm.

1.1. Định nghĩa và các loại nhịp nhanh trên thất SVT thường gặp

Nhịp nhanh trên thất (SVT) được định nghĩa là nhịp tim nhanh có nguồn gốc từ trên bó His, với tần số thường trên 100 lần/phút. Các loại SVT thường gặp bao gồm nhịp nhanh xoang, nhịp nhanh nhĩ, cuồng nhĩ, nhịp nhanh bộ nối, AVNRTAVRT. Mỗi loại có cơ chế và đặc điểm điện sinh lý riêng biệt, đòi hỏi phương pháp chẩn đoán và điều trị khác nhau.

1.2. Cơ chế nhịp nhanh và vai trò của vòng vào lại trong SVT

Cơ chế chính gây ra SVT bao gồm vòng vào lại, tăng tự động tính và hoạt động khởi kích. Trong đó, vòng vào lại là cơ chế phổ biến nhất, đặc biệt trong các loại SVT kịch phát như AVNRT và AVRT. Vòng vào lại hình thành khi có hai đường dẫn truyền với đặc tính điện sinh lý khác nhau, tạo thành một vòng khép kín cho phép xung động điện lan truyền liên tục.

II. Chẩn Đoán Nhịp Nhanh Trên Thất Từ Lâm Sàng Đến Điện Sinh Lý

Chẩn đoán NNTT đòi hỏi sự kết hợp giữa đánh giá lâm sàng, điện tâm đồ (ECG) và thăm dò điện sinh lý (TDĐSL). Triệu chứng lâm sàng có thể bao gồm hồi hộp, đánh trống ngực, khó thở, chóng mặt hoặc ngất. Điện tâm đồ là công cụ chẩn đoán ban đầu quan trọng, giúp xác định loại nhịp nhanh và cơ chế. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, TDĐSL là cần thiết để xác định chính xác vị trí và đặc điểm của vòng vào lại, từ đó đưa ra phương pháp điều trị phù hợp. Chẩn đoán phân biệt NNTT với các loại nhịp nhanh khác là rất quan trọng để đảm bảo điều trị hiệu quả.

2.1. Triệu chứng lâm sàng gợi ý nhịp nhanh trên thất SVT

Các triệu chứng lâm sàng của SVT có thể rất đa dạng, từ nhẹ như hồi hộp, đánh trống ngực đến nặng như khó thở, chóng mặt, ngất hoặc thậm chí ngừng tim. Mức độ nghiêm trọng của triệu chứng phụ thuộc vào tần số tim, thời gian kéo dài của cơn nhịp nhanh và tình trạng tim mạch nền của bệnh nhân. Một số bệnh nhân có thể không có triệu chứng gì.

2.2. Vai trò của điện tâm đồ ECG trong chẩn đoán SVT

Điện tâm đồ (ECG) là công cụ chẩn đoán ban đầu quan trọng trong SVT. ECG có thể giúp xác định loại nhịp nhanh (ví dụ: AVNRT, AVRT, nhịp nhanh nhĩ), tần số tim, hình thái sóng P và phức bộ QRS. Trong một số trường hợp, ECG có thể cho thấy các dấu hiệu gợi ý cơ chế vòng vào lại, chẳng hạn như sóng delta trong hội chứng Wolff-Parkinson-White (WPW).

2.3. Thăm dò điện sinh lý EPS Khi nào cần và giá trị chẩn đoán

Thăm dò điện sinh lý (EPS) là một thủ thuật xâm lấn được sử dụng để đánh giá chi tiết hệ thống dẫn truyền điện của tim. EPS thường được chỉ định khi ECG không đủ để xác định cơ chế của SVT hoặc khi bệnh nhân không đáp ứng với điều trị bằng thuốc. EPS cho phép xác định chính xác vị trí và đặc điểm của vòng vào lại, từ đó giúp lập kế hoạch điều trị cắt đốt hiệu quả.

III. Điều Trị Nhịp Nhanh Trên Thất Các Phương Pháp Hiện Đại

Điều trị NNTT bao gồm các phương pháp cắt cơn và kiểm soát lâu dài. Cắt cơn có thể thực hiện bằng nghiệm pháp Valsalva, xoa xoang cảnh, hoặc sử dụng thuốc như adenosine hoặc verapamil. Kiểm soát lâu dài bao gồm sử dụng thuốc chống loạn nhịp hoặc cắt đốt điện sinh lý. Cắt đốt điện sinh lý bằng năng lượng sóng có tần số radio (RF) đã trở thành phương pháp điều trị triệt để được ưa chuộng, với tỷ lệ thành công cao và ít biến chứng. Lựa chọn phương pháp điều trị phụ thuộc vào loại NNTT, tần suất và mức độ nghiêm trọng của triệu chứng, cũng như tình trạng tim mạch nền của bệnh nhân.

3.1. Các biện pháp cắt cơn nhịp nhanh trên thất SVT hiệu quả

Các biện pháp cắt cơn SVT bao gồm nghiệm pháp Valsalva, xoa xoang cảnh và sử dụng thuốc. Nghiệm pháp Valsalva và xoa xoang cảnh có thể làm chậm dẫn truyền qua nút nhĩ thất, giúp chấm dứt cơn nhịp nhanh. Adenosine là một loại thuốc có tác dụng tương tự, thường được sử dụng trong cấp cứu. Verapamil và diltiazem cũng có thể được sử dụng để cắt cơn SVT.

3.2. Điều trị nội khoa và vai trò của thuốc chống loạn nhịp

Điều trị nội khoa SVT bao gồm sử dụng thuốc chống loạn nhịp để kiểm soát tần số tim và ngăn ngừa tái phát cơn nhịp nhanh. Các loại thuốc chống loạn nhịp thường được sử dụng bao gồm beta-blockers, calcium channel blockers và các thuốc chống loạn nhịp nhóm I và III. Tuy nhiên, thuốc chống loạn nhịp có thể gây ra tác dụng phụ và không phải là phương pháp điều trị triệt để.

3.3. Cắt đốt điện sinh lý Ưu điểm chỉ định và quy trình thực hiện

Cắt đốt điện sinh lý là một thủ thuật xâm lấn sử dụng năng lượng sóng có tần số radio (RF) để phá hủy các đường dẫn truyền bất thường gây ra SVT. Thủ thuật này có tỷ lệ thành công cao và ít biến chứng, thường được chỉ định cho bệnh nhân không đáp ứng với điều trị bằng thuốc hoặc có triệu chứng nghiêm trọng. Quy trình thực hiện bao gồm đưa catheter vào tim qua đường tĩnh mạch, xác định vị trí vòng vào lại bằng mapping điện sinh lý, và đốt các đường dẫn truyền bất thường bằng năng lượng RF.

IV. Nghiên Cứu Đặc Điểm Điện Sinh Lý và Kết Quả Cắt Đốt SVT

Nghiên cứu về đặc điểm điện sinh lý và kết quả điều trị bằng năng lượng sóng có tần số radio của NNTT do vòng vào lại tại Bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy tỷ lệ thành công cao và ít biến chứng. Nghiên cứu tập trung vào hai loại NNTT chính: nhịp nhanh vòng vào lại nút nhĩ thất (AVNRT)nhịp nhanh vòng vào lại nhĩ thất (AVRT). Kết quả cho thấy cắt đốt điện sinh lý là phương pháp điều trị hiệu quả và an toàn cho bệnh nhân NNTT do vòng vào lại, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm nguy cơ tái phát.

4.1. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân SVT do vòng vào lại

Nghiên cứu ghi nhận các đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân SVT do vòng vào lại, bao gồm tuổi khởi phát cơn nhịp nhanh, triệu chứng cơ năng (hồi hộp, đánh trống ngực, khó thở), tiền sử bệnh tim mạch và kết quả siêu âm tim. Các đặc điểm này giúp bác sĩ đánh giá nguy cơ và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

4.2. Đặc điểm điện sinh lý trong buồng tim của các loại SVT

Nghiên cứu mô tả chi tiết các đặc điểm điện sinh lý trong buồng tim của bệnh nhân SVT, bao gồm các khoảng dẫn truyền cơ bản (AH, HV), đặc điểm khởi phát cơn nhịp nhanh, tần số tim trong cơn nhịp nhanh, thời gian blốc nhĩ thất xuôi dòng và tính chất đường dẫn truyền phụ (nếu có). Các thông số này giúp xác định cơ chế của SVT và lập kế hoạch cắt đốt chính xác.

4.3. Tỷ lệ thành công và biến chứng của cắt đốt điện sinh lý

Nghiên cứu đánh giá tỷ lệ thành công và biến chứng của cắt đốt điện sinh lý trong điều trị SVT do vòng vào lại. Tỷ lệ thành công được định nghĩa là không còn cơn nhịp nhanh tái phát trong thời gian theo dõi. Các biến chứng được ghi nhận bao gồm chảy máu, nhiễm trùng, tổn thương van tim và blốc nhĩ thất hoàn toàn.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kinh Nghiệm Điều Trị Nhịp Nhanh Trên Thất

Kết quả nghiên cứu về đặc điểm điện sinh lý và kết quả điều trị NNTT do vòng vào lại có ý nghĩa quan trọng trong thực hành lâm sàng. Việc hiểu rõ cơ chế và đặc điểm của từng loại NNTT giúp bác sĩ lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp và tối ưu hóa kết quả. Cắt đốt điện sinh lý là phương pháp điều trị hiệu quả và an toàn, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và giảm nguy cơ tái phát. Tuy nhiên, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa bác sĩ tim mạch, bác sĩ điện sinh lý và kỹ thuật viên để đảm bảo thành công của thủ thuật.

5.1. Lựa chọn phương pháp điều trị SVT dựa trên đặc điểm điện sinh lý

Việc lựa chọn phương pháp điều trị SVT cần dựa trên đặc điểm điện sinh lý của từng loại nhịp nhanh. Ví dụ, AVNRT thường được điều trị bằng cắt đốt đường chậm, trong khi AVRT cần cắt đốt đường dẫn truyền phụ. Việc xác định chính xác vị trí và đặc điểm của vòng vào lại giúp bác sĩ lựa chọn phương pháp cắt đốt phù hợp và tối ưu hóa kết quả.

5.2. Theo dõi sau cắt đốt và quản lý tái phát SVT

Sau cắt đốt điện sinh lý, bệnh nhân cần được theo dõi định kỳ để phát hiện sớm các dấu hiệu tái phát SVT. Các biện pháp theo dõi bao gồm điện tâm đồ, Holter ECG và thăm dò điện sinh lý (nếu cần). Nếu tái phát, bệnh nhân có thể cần điều trị bằng thuốc hoặc thực hiện lại thủ thuật cắt đốt.

5.3. Chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân SVT Dinh dưỡng và lối sống

Chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân SVT bao gồm tư vấn về dinh dưỡng và lối sống. Bệnh nhân nên tránh các chất kích thích như caffeine và rượu, duy trì cân nặng hợp lý, tập thể dục đều đặn và kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và đái tháo đường. Hỗ trợ tâm lý cũng rất quan trọng để giúp bệnh nhân đối phó với lo lắng và căng thẳng liên quan đến bệnh.

VI. Tiên Lượng và Tương Lai Điều Trị Nhịp Nhanh Trên Thất SVT

Tiên lượng của NNTT phụ thuộc vào loại nhịp nhanh, tần suất và mức độ nghiêm trọng của triệu chứng, cũng như tình trạng tim mạch nền của bệnh nhân. Với các phương pháp điều trị hiện đại, đặc biệt là cắt đốt điện sinh lý, tiên lượng của NNTT thường rất tốt. Trong tương lai, các kỹ thuật mapping điện sinh lýcắt đốt sẽ ngày càng được cải tiến, giúp tăng tỷ lệ thành công và giảm biến chứng. Nghiên cứu về các cơ chế mới gây ra NNTT cũng sẽ mở ra những hướng điều trị tiềm năng.

6.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng của SVT

Các yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng của SVT bao gồm loại nhịp nhanh, tần suất và mức độ nghiêm trọng của triệu chứng, tình trạng tim mạch nền của bệnh nhân (ví dụ: bệnh tim cấu trúc, suy tim), tuổi tác và các bệnh lý đi kèm. Bệnh nhân có bệnh tim cấu trúc hoặc suy tim thường có tiên lượng xấu hơn.

6.2. Cập nhật các phương pháp điều trị SVT tiên tiến

Các phương pháp điều trị SVT tiên tiến bao gồm sử dụng catheter cắt đốt thế hệ mới, kỹ thuật mapping điện sinh lý độ phân giải cao, và sử dụng năng lượng cắt đốt khác như cryoablation (đông lạnh). Các phương pháp này giúp tăng tỷ lệ thành công và giảm biến chứng của thủ thuật cắt đốt.

6.3. Hướng nghiên cứu mới trong điều trị nhịp nhanh trên thất

Các hướng nghiên cứu mới trong điều trị SVT bao gồm phát triển các loại thuốc chống loạn nhịp mới, nghiên cứu về vai trò của di truyền trong SVT, và phát triển các phương pháp điều trị không xâm lấn như sử dụng sóng siêu âm hội tụ cường độ cao (HIFU) để cắt đốt các đường dẫn truyền bất thường.

07/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Rối loạn nhịp tim khá thƣờng gặp và rất phức tạp trong bệnh lý tim mạch [48]. Các rối loạn nhịp thƣờng gây ra triệu chứng, có khi rối loạn huyết động thậm chí tử vong. Rối loạn nhịp còn có thể làm cho các bệnh tim có sẵn nhƣ bệnh cơ tim, bệnh tim thiếu máu cục bộ, bệnh van tim nặng hơn hoặc suy tim chuyển từ giai đoạn còn bù sang mất bù, đƣa đến các biến chứng nặng nề và ảnh hƣởng trực tiếp lên sống còn của bệnh nhân. Cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất là một rối loạn nhịp nhanh mà nguồn gốc gây ra xuất phát từ tầng trên thất.

Cơ chế vòng vào lại là cơ chế chính gây ra rối loạn nhịp nhanh trên thất. Nhịp nhanh kịch phát trên thất thƣờng bao gồm các loại nhịp nhanh nhƣ nhịp nhanh vòng vào lại nhĩ thất, nhịp nhanh nhĩ và nhịp nhanh vòng vào lại nút nhĩ thất. Trong đó, nhịp nhanh vòng vào lại nút nhĩ thất là loại nhịp nhanh thƣờng gặp nhất chiếm khoảng 52 – 70%, kế đến là nhịp nhanh vòng vào lại nhĩ thất [44]. Các cơn nhịp nhanh này càng ngày càng xuất hiện với tần suất càng dày, nếu không đƣợc điều trị thích đáng sẽ ảnh hƣởng đến công việc và chất lƣợng cuộc sống của bệnh nhân, lâu ngày có thể dẫn đến suy tim, thậm chí đột tử [90].

Tỷ lệ hiện mắc của nhịp nhanh kịch phát trên thất ở Mỹ theo thống kê khoảng 2,25/1.000 dân, tỷ lệ mới mắc hàng năm là 35/100. Số ca mới mắc bệnh lý nhịp nhanh trên thất tại Mỹ mỗi năm là 89.000 trƣờng hợp [70]. Tỷ lệ phát hiện hội chứng Wolft-Parkinson-White trên điện tâm đồ bề mặt khoảng 0,13 đến 0,25% dân số chung [57]. Tại Việt Nam, rối loạn nhịp tim là một cấp cứu tim mạch thƣờng gặp tại các phòng cấp cứu.

Tỷ lệ tử vong vẫn còn cao nếu không đƣợc cấp cứu và xử trí kịp thời. Một thống kê về tình hình tử vong tại bệnh viện Bạch Mai cho. thấy rằng tỷ lệ tử vong do rối loạn nhịp tim chiếm tới 38,5%. Phạm Quốc Khánh và cộng sự báo cáo nhịp nhanh trên thất chiếm 64,9% tổng số trƣờng hợp rối loạn nhịp tim nhập viện để thăm dò điện sinh lý.

Trong đó, nhịp nhanh vòng vào lại nút nhĩ thất và nhịp nhanh vòng vào lại nhĩ thất chiếm tỷ lệ cao nhất [6]. Cho đến nay, y học đã có rất nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và đặc biệt trong điều trị nhóm rối loạn nhịp nhanh này. Cùng với dòng thời gian, rất nhiều các loại thuốc chống loạn nhịp ra đời, với nhiều đặc tính chống loạn nhịp và tác dụng đa dạng lên các cơ chế rối loạn nhịp. Từ đó mang lại nhiều cơ hội và hi vọng cho bệnh nhân mắc rối loạn nhịp nhanh nhằm kiểm soát triệu chứng tốt hơn cũng nhƣ nâng cao chất lƣợng cuộc sống ngƣời bệnh.

Tuy nhiên, không phải tất cả đều mang lại tác dụng tốt, sử dụng thuốc còn tiềm ẩn nhiều tác dụng phụ song song với tác dụng chống loạn nhịp và không phải là biện pháp triệt để trong điều trị những rối loạn nhịp nhanh do cơ chế vòng vào lại. Ngay cả chính một số thuốc dùng để điều trị rối loạn nhịp tim cũng có khả năng gây ra một rối loạn nhịp tim mới. Y học đã phát triển nhiều phƣơng pháp không dùng thuốc để điều trị rối loạn nhịp tim nhƣ dùng năng lƣợng sóng có tần số radio, vi sóng, tia laser, đông lạnh và sóng siêu âm để loại bỏ nguyên nhân khởi phát rối loạn nhịp. Hiện nay, ở các trung tâm tim mạch lớn, cắt đốt qua đƣờng ống thông sử dụng năng lƣợng sóng có tần số radio đã trở thành lựa chọn hàng đầu trong điều trị nhiều rối loạn nhịp tim, giúp ngăn ngừa tử vong, giảm nhẹ triệu chứng, cải thiện chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh và trong nhiều trƣờng hợp, còn cải thiện đƣợc chức năng tim bị suy giảm do rối loạn nhịp nhanh gây ra.

Cắt đốt bằng năng lƣợng sóng có tần số radio có ƣu điểm vƣợt bậc so với các thuốc chống loạn nhịp ở chỗ điều trị mang tính triệt để với tỷ lệ thành công cao và biến chứng thấp [51], [53], [73]. Tại Việt Nam, việc áp dụng phƣơng pháp dùng năng lƣợng sóng radio trong việc điều trị một số rối loạn nhịp tim đã trở thành thƣờng quy tại một số trung tâm tim mạch lớn [1], [4], [8]. Bệnh viện Chợ Rẫy là một trong những bệnh viện lớn hàng đầu cả nƣớc, đã ứng dụng nhiều kỹ thuật hiện đại vào chẩn đoán và điều trị các bệnh lý phức tạp trong đó có nhóm bệnh lý nhịp nhanh trên thất do vòng vào lại với hai loại là nhịp nhanh vòng vào lại nút nhĩ thất và nhịp nhanh vòng vào lại nhĩ thất. Điều trị nhóm rối loạn nhịp này bằng năng lƣợng sóng có tần số radio qua ống thông là một phƣơng pháp hiện đã và đang đƣợc áp dụng để điều trị cho một số lƣợng lớn bệnh nhân hằng năm.

Tuy nhiên chƣa có nghiên cứu nào đánh giá về đặc điểm điện sinh lý và kết quả điều trị nhịp nhanh trên thất do vòng vào lại tại đây. Với những câu hỏi nghiên cứu nhƣ sau: (1) Bệnh nhân có nhịp nhanh trên thất do vòng vào lại có đặc điểm lâm sàng và điện sinh lý trong buồng tim nhƣ thế nào? (2) Kết quả điều trị ngắn hạn trong thời gian nằm viện của nhịp nhanh trên thất do vòng vào lại với cắt đốt bằng năng lƣợng sóng có tần số radio qua ống thông nhƣ thế nào?. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu tổng quát Mô tả những đặc điểm lâm sàng, điện sinh lý và kết quả điều trị ngắn hạn bằng năng lƣợng sóng có tần số radio qua ống thông của bệnh nhân nhịp nhanh trên thất do cơ chế vòng vào lại.

Mục tiêu chuyên biệt 2. Mô tả đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân nhịp nhanh trên thất do vòng vào lại. Mô tả đặc điểm điện sinh lý trong buồng tim của các loại nhịp nhanh trên thất do vòng vào lại. Xác định tỷ lệ thành công và biến chứng trong thời gian nằm viện của điều trị cắt đốt vòng vào lại bằng năng lƣợng sóng có tần số radio qua ống thông.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẠI CƢƠNG VỀ NHỊP NHANH TRÊN THẤT 1. Khái niệm về nhịp nhanh trên thất Nhịp nhanh trên thất (NNTT) là một thuật ngữ chung dùng để mô tả nhịp tim nhanh bất thƣờng (tần số nhĩ và/hoặc tần số thất vƣợt quá 100 lần/phút), các cơ chế bao gồm mô từ bó His trở lên. NNTT bao gồm nhịp nhanh xoang không thích hợp, nhịp nhanh nhĩ (bao gồm cả nhịp nhanh nhĩ đơn ổ và đa ổ), nhịp nhanh nhĩ vòng vào lại lớn (bao gồm cuồng nhĩ điển hình), nhịp nhanh bộ nối, nhịp nhanh vòng vào lại nút nhĩ thất (NNVVLNNT) và các hình thức khác nhau của nhịp nhanh vòng vào lại nhĩ thất (NNVVLNT) [32].

Khái niệm nhịp nhanh kịch phát trên thất (NNKPTT) là một dạng rối loạn nhịp nhanh đặc trƣng bởi sự xuất hiện của nhịp tim nhanh, đều với khởi phát và chấm dứt đột ngột. Các tính chất trên là đặc trƣng của NNVVLNNT, NNVVLNT hoặc nhịp nhanh nhĩ. NNKPTT chỉ đại diện cho một phần nhỏ của NNTT [71]. Tỷ lệ lƣu hành của NNTT trên dân số chung là 2,29/1.

Khi hiệu chỉnh theo tuổi và giới tính, tỷ suất mới mắc của NNKPTT trong dân số Mỹ là 36/100. Nữ giới có nguy cơ mắc NNKPTT gấp 2 lần nam giới [70]. Cơ chế nhịp nhanh và phân loại nhịp nhanh trên thất Các cơ chế chính gây ra NNTT bao gồm vòng vào lại, tăng tự động tính và do khởi kích [48].  Cơ chế vòng vào lại là cơ chế phổ biến nhất gây ra NNKPTT.

Hình thành 2 đƣờng dẫn truyền với đặc tính khác nhau về mặt điện sinh lý, từ đó tạo ra vòng vào lại dẫn truyền điện.  Cơ chế tự động tính và khởi kích: liên quan đến gia tăng các tự động tính bình thƣờng (nhịp nhanh xoang), gia tăng tự động tính bất thƣờng (nhịp nhanh nhĩ) hoặc liên quan đến hoạt động khởi kích (thƣờng gặp trong ngộ độc thuốc nhƣ digitalis). NNTT có nhiều cách phân loại khác nhau [63]. Phân loại dựa trên vị trí giải phẫu nút nhĩ thất: NNTT có liên quan nút nhĩ thất và không liên quan nút nhĩ thất.

Phân loại dựa trên phức bộ QRS đều hoặc không đều. Dựa trên cơ chế gây nhịp nhanh: do vòng vào lại hoặc không do vòng vào lại. NNTT do cơ chế vòng vào lại có 3 loại thƣờng gặp là [63]: Nhanh nhĩ Cuồng nhĩ Đƣờng phụ NNVVLNT NNVVLNNT Hình 1. Vị trí các vòng vào lại gây NNTT (Nguồn: Delacrtaz, E.

Nhịp nhanh trên thất do vòng vào lại Nhịp nhanh vòng Nhịp nhanh vòng Cuồng nhĩ vào lại nút nhĩ thất vào lại nhĩ thất Hình 1. Sơ đồ NNTT do vòng vào lại 1. Các loại NNTTVVL thƣờng gặp 1. Nhịp nhanh vòng vào lại nút nhĩ thất NNVVLNNT: Nhịp nhanh vòng vào lại liên quan đến 2 đƣờng dẫn truyền riêng biệt, thƣờng đƣợc gọi là đƣờng dẫn truyền “nhanh” và “chậm”.

Đây là loại nhịp nhanh thƣờng gặp nhất trong số các loại NNKPTT [44]. Từ năm 1973, Denes và cs tìm thấy trong nút nhĩ thất của ngƣời bị NNVVLNNT có 2 đƣờng dẫn truyền riêng biệt gọi là đƣờng nhanh và đƣờng chậm. Đƣờng dẫn truyền nhanh còn gọi là đƣờng bêta (β) có tốc độ dẫn truyền nhanh hơn, nhƣng thƣờng có thời gian trơ (TGTr) dài hơn, đƣờng dẫn truyền chậm hay còn gọi là đƣờng alpha (α) có tốc độ dẫn truyền chậm hơn và TGTr ngắn hơn. Chính sự khác nhau về tính chất dẫn truyền này là cơ sở để hình thành và duy trì cơn NNVVLNNT [63].

Dựa vào vị trí ghi đƣợc điện thế nhĩ sớm nhất trong cơn nhịp nhanh, vị trí đốt đƣờng chậm thành công và khoảng AH, HA trong cơn nhịp nhanh chia làm 3 thể [44], [49]:.  Thể chậm – nhanh hay còn gọi là thể điển hình. Thể này chiếm đa số 81,4 – 90%.  Thể chậm – chậm: trong trƣờng hợp này, xung động đi từ trên xuống theo đƣờng chậm chiều xuôi rồi đi ngƣợc lên theo đƣờng chậm chiều ngƣợc.

Thể này chiếm 13,7%.  Thể nhanh – chậm: xung động đi xuôi xuống theo đƣờng nhanh và đi ngƣợc lên theo đƣờng chậm, chiếm 4,9%. Các thể nhanh – chậm và chậm – chậm đƣợc gọi chung là những thể không điển hình. Trong lúc nhịp xoang, xung động từ trên nhĩ đƣợc dẫn truyền xuống thất theo cả 2 con đƣờng nhanh và chậm.

Tuy nhiên xung động đi theo đƣờng nhanh xuống tới bó His và xuống thất để khử cực trƣớc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ