Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Bệnh sán lá gan do hai loài sán lá Fasciola gigantica và Fasciola hepatica gây ra. Ký chủ của sán lá gan gồm ký chủ cuối cùng và ký chủ trung gian. - Ký chủ cuối cùng thường thấy là các gia súc nhai lại như trâu, bò, dê, cừu.
Người ta cũng đã thấy sán lá gan ký sinh ở lợn, ngựa, thỏ, một số động vật hoang dã và cả người. - Ký chủ trung gian của sán Fasciola là các loài ốc nước ngọt thuộc họ Lymnaea: Lymnaea auricularia, L. viridis, Radix ovata. Sán Fasciola thường ký sinh ở ống dẫn mật.
Một số trường hợp thấy sán ký sinh ở tim, phổi, hạch lâm ba, tuyến tụy. Vị trí của sán lá Fasciola trong hệ thống phân loại động vật học Theo Nguyễn Thị Lê và cs. Đặc điểm hình thái của sán lá Fasciola Cũng như nhiều loài sán lá khác, sán lá gan lưỡng tính, có thể thụ tinh chéo hoặc tự thụ tinh. Sán lá có giác miệng và giác bụng, giác bụng không nối với cơ quan tiêu hoá.
Sán lá không có hệ hô hấp, tuần hoàn và cơ quan thị giác (ở giai đoạn mao ấu có dấu vết sắc tố mắt). Hệ sinh dục rất phát triển với cả bộ phận sinh dục đực và cái trong cùng một sán lá. Tử cung sán lá chứa đầy trứng. Hệ bài tiết gồm 1 - 2 ống bài tiết chạy dọc cơ thể.
Từ ống bài tiết có nhiều nhánh nhỏ chạy ra hai bên và tận cùng là tế bào ngọn lửa. Các ống này tập trung dịch bài tiết vào túi dự trữ ở cuối thân và đổ ra ngoài qua lỗ bài tiết. Hệ thần kinh kém phát triển, gồm hai hạch não nằm ở hai bên, nối với nhau bằng vòng dây thần kinh. Từ đó có ba đôi dây thần kinh đi về phía trước và phía sau thân, những dây này nối với nhau bằng nhiều dây nhỏ.
Cơ quan cảm giác bị tiêu giảm. Hệ sinh dục của sán phát triển mạnh, có bộ phận sinh dục đực và cái trên cùng một cơ thể. Bộ phận sinh dục đực gồm hai tinh hoàn phân nhánh mạnh, xếp trên dưới nhau ở phần sau cơ thể. Mỗi tinh hoàn thông với ống dẫn tinh riêng rồi đổ vào túi sinh dục.
Phần cuối của túi sinh dục được kitin hóa, gọi là cirrus, có chức năng như dương vật. Buồng trứng phân nhánh ở phía trước tinh hoàn. Tử cung sán chứa đầy trứng, uốn khúc thành hình hoa ở giữa ống dẫn noãn hoàng và giác bụng. Tuyến noãn hoàng xếp dọc 2 bên thân và phân nhánh.
Có thể phân biệt hai loài sán lá gan thuộc giống Fasciola như sau: * Loài F. gigantica có chiều dài thân gấp 3 lần chiều rộng, "vai" không có hoặc nhìn không rõ rệt, nhánh ruột chia toả ra nhiều nhánh ngang. gigantica (nghĩa là sán lá “khổng lồ”) dài 25 - 75 mm, rộng 3 - 12 mm, u lồi hình nón của đầu là phần tiếp theo của thân, vì vậy nó không có “vai” như loài Fasciola hepatica. Hai rìa bên thân sán song song với nhau, đầu cuối của thân tù.
Giác bụng tròn lồi ra. Ruột, tuyến noãn hoàng, buồng trứng và tinh hoàn đều phân nhánh. Trứng hình bầu dục, màu vàng nâu, phôi bào to đều và xếp kín vỏ. Kích thước trứng: 0,125 - 0,170 x 0,06 - 0,10 mm (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996 5 [9]; Phạm Thị Trang, 2012 [38]; Hoàng Thị Ngân, 2012 [27]; Hoàng Văn Huân, 2013 [7]).
hepatica khác với loài F. Loài này thân rộng, đầu lồi và nhô ra phía trước làm cho sán lá có "vai", nhánh ruột chia ít nhánh ngang hơn. - Phạm Diệu Thùy (2014) [37] cho biết: F. hepatica dài 18 - 51 mm, rộng 4 - 13mm, phần trước thân nhô ra, tạo cho sán lá có vai bè ra hai bên.
Hai rìa bên thân sán lá không song song với nhau mà phình ra ở chỗ vai rồi thót lại ở đoạn cuối thân. Những ống dẫn tuyến noãn hoàng chạy ngang, chia vùng giữa của sán lá thành phần trước và phần sau thân. Phần sau thân có tinh hoàn và bộ phận sinh dục đực. Tinh hoàn phân nhiều nhánh xếp phía sau thân.
Tử cung ở phần giữa thân trước tạo nên một mạng lưới rối như tơ vò. Buồng trứng phân nhánh nằm ở sau tử cung.hepatica có hình thái, màu sắc tương tự trứng của loài F.gigantica, kích thước 0,13 - 0,145 x 0,07 - 0,09mm. Đặc điểm vòng đời của sán lá Fasciola Năm 1752 Swammerrdam đã phát hiện những vĩ ấu (Cercaria) của sán lá F. hepatica ở một ốc Gasterpoda.
Song phải đến năm 1882 Thomas (nghiên cứu ở Anh) và Leukart (nghiên cứu ở Đức) đã gần như cùng một lúc mô tả vòng đời của sán lá gan. Fasciola trưởng thành ký sinh trong ống dẫn mật của gia súc nhai lại. Sau khi thụ tinh, mỗi sán đẻ hàng chục vạn trứng. Những trứng này theo dịch mật vào ruột và theo phân ra ngoài.
Nếu gặp điều kiện thuận lợi: được nước mưa cuốn trôi xuống các vũng nước, hồ, ao, suối, ruộng nước.; nhiệt độ 15 - 30oC; pH = 5 - 7,7; có ánh sáng thích hợp thì sau 10 - 25 ngày trứng nở thành Miracidium bơi tự do trong nước. Nếu thiếu ánh sáng, Miracidium không có khả năng thoát vỏ nhưng vẫn tồn tại đến 8 tháng trong vỏ. Miracidium có hình tam giác, xung quanh thân có lông và di chuyển được trong nước. Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [18] cho biết: Fasciola trưởng thành ký sinh trong ống dẫn mật của trâu, bò, dê.
Sau khi thụ tinh mỗi sán lá đẻ hàng chục vạn 6 trứng. Những trứng này cùng dịch mật vào ruột, sau đó theo phân ra ngoài. Nếu gặp điều kiện thuận lợi: được nước mưa cuốn trôi xuống các vũng nước, hồ, ao, suối, ruộng nước…, nhiệt độ 15 - 30oC, pH = 5 - 7,7, có ánh sáng thích hợp… sau 10 - 25 ngày trứng nở thành Miracidium bơi tự do trong nước. Nếu thiếu ánh sáng Miracidium không có khả năng thoát vỏ nhưng vẫn tồn tại đến 8 tháng trong vỏ.
Miracidium có hình tam giác, xung quanh thân có lông và di chuyển được trong nước. Khi gặp vật chủ trung gian thích hợp (ốc Lymnaea), Miracidium xâm nhập cơ thể ốc và phát triển thành bào ấu (Sporocyst). Những Miracidium không gặp vật chủ trung gian thì rụng lông, rữa dần và chết. Bào ấu (Sporocyst) hình túi, màu sán lá, được bao bọc bởi lớp màng mỏng, các tế bào ngọn lửa hoạt động hình thành hầu, ống ruột và các đám phôi.
Trong 1 ốc có thể có 1 - 2 ấu trùng. Khoảng 3 - 7 ngày, bào ấu sinh sản vô tính cho ra nhiều Redia (lôi ấu). Một bào ấu sinh ra 5 - 15 lôi ấu. Redia hình suốt chỉ, ít hoạt động, có miệng, hầu, ruột, hình túi đơn giản.
Có hai hệ: Redia thế hệ I và Redia thế hệ II cùng phát triển trong ốc - vật chủ trung gian. Ở nhiệt độ 160C hoặc thấp hơn, lôi ấu chỉ sinh sản Redia I và dừng phát triển, ở nhiệt độ phù hợp (20 - 300C), sau 29 - 35 ngày, lôi ấu biến thành vĩ ấu (Cercaria). Một Redia có thể sinh ra 12 - 20 Cercaria. Cercaria (vĩ ấu) là ấu trùng ở pha sống tự do của sán lá gan, có cấu tạo thân hình tròn lệch, đuôi dài hơn thân giúp vĩ ấu vận chuyển được dễ dàng trong nước.
Cấu tạo của vĩ ấu gồm giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản và ruột phân thành hai nhánh. Theo Da Costa C. (1994) [49], sau gây nhiễm, Cercaria từ ốc ra môi trường nước thành các đợt, mỗi đợt có khoảng 50 - 70 Cercaria được giải phóng ra khỏi ốc. (2010) [50] đã thí nghiệm gây nhiễm 4 Miracidium/ốc Radix natalensis - ký chủ trung gian của sán lá F.
hepatica tại Ai Cập, ở điều kiện nhiệt độ 24oC. Kết quả cho thấy, sau trung bình 24,3 ngày có 90,7 Cercaria được giải phóng /ốc và Cercaria được giải phóng ra trong 2 - 13 đợt. 7 Từ khi Miracidium chui vào ốc đến khi phát triển thành Cercaria cần khoảng 50-80 ngày. Sau khi thành thục, Cercaria thoát khỏi vỏ ốc, ra môi trường ngoài, bơi tự do trong nước, có kích thước 0,28 - 0,30mm chiều dài và 0,23mm chiều rộng.
Sau vài giờ bơi trong nước, Cercaria rụng đuôi, tiết chất nhầy xung quanh thân, chất nhầy gặp không khí khô rất nhanh. Lúc này Cercaria đã biến thành Adolescaria. Sau khi thoát khỏi ốc, Cercaria hóa nang thành Adolescaria. Khoảng 2/3 số Adolescaria bám vào giá thể trong nước, số còn lại không bám vào giá thể mà trôi nổi trong nước.
Adolescaria hình khối tròn, màu nâu đen, bên trong chứa phôi hoạt động. Phôi có giác miệng, giác bụng, ruột phân nhánh và túi bài tiết (dẫn heo Phạm Diệu Thùy, 2014 [37]). Adolescaria hình khối tròn, bên trong chứa phôi hoạt động. Phôi có giác miệng, giác bụng, ruột phân nhánh và túi bài tiết, Adolescaria thường ở trong nước hoặc bám vào cây cỏ thuỷ sinh.
Nếu trâu, bò, nuốt phải Adolescaria vào đến dạ dày và ruột, lớp vỏ ngoài bị phân huỷ, ấu trùng được giải phóng và di chuyển đến ống mật bằng 3 con đường: - Một số ấu trùng dùng tuyến xuyên chui qua niêm mạc ruột, vào tĩnh mạch ruột qua tĩnh mạch cửa vào gan, xuyên qua nhu mô vào ống mật. - Một số ấu trùng khác cũng dùng tuyến xuyên chui qua thành ruột vào xoang bụng đến gan, xuyên qua vỏ gan vào ống mật. - Một số ấu trùng từ tá tràng ngược dòng dịch mật để lên ống dẫn mật. Sau khi vào ống dẫn mật, ấu trùng ký sinh ở đó và phát triển thành sán lá gan trưởng thành.
Theo Skerman (1966), thời gian hoàn thành vòng đời là 92 - 117 ngày. Fasciola trưởng thành có thể ký sinh trong ống dẫn mật của trâu bò 3 - 5 năm, có khi tới 11 năm. Theo Phan Địch Lân (2004) [22] khoa học thú y nước ta đã nghiên cứu thành công vòng đời của sán lá gan. Trong điều kiện nhiệt độ thích hợp (28 - 30oC), có ốc vật chủ trung gian (Lymnae swinhoei và Lymnae viridis), có vật chủ cuối cùng (trâu, bò, dê, cừu) thì vòng đời của sán lá gan ở nước ta được xác định với các mức thời gian sau: 8 - Ở ngoài thiên nhiên: trứng sán lá gan nở thành mao ấu (Miracidium) trong khoảng 14 - 16 ngày.
- Ở trong ốc vật chủ trung gian: mao ấu (Miracidium) phát triển thành lôi ấu (Redia) cần 8 - 21 ngày. Lôi ấu (Redia) phát triển thành vĩ ấu non (Cercaria) cần 7 - 14 ngày, thành vĩ ấu trưởng thành cần 13 - 14 ngày. - Ở ngoài ốc vật chủ trung gian: vĩ ấu phát triển thành kén (Adolescaria) sau 2 giờ.