Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Bệnh sán dây ở chó và bệnh do ấu trùng sán dây ký sinh trên các loài gia súc là vấn đề dịch tễ thú y phổ biến tại Việt Nam, gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi và tiềm ẩn nguy cơ đối với sức khỏe cộng đồng. Trong số đó, Cysticercus tenuicollis (còn gọi là ấu sán cổ nhỏ) là giai đoạn ấu trùng của loài sán dây Taenia hydatigena ký sinh ở ruột non loài ăn thịt (chó, sói, cáo, mèo). Ấu trùng này sử dụng các loài động vật ăn cỏ và ăn tạp như lợn, trâu, bò, dê, cừu, thỏ, ngựa (đôi khi cả người) làm ký chủ trung gian.

Khi xâm nhập vào cơ thể lợn, ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh chủ yếu trên bề mặt gan, màng treo ruột, màng mỡ chài, lách, phổi và các cơ quan trong xoang bụng dưới dạng các bọc nước chứa đầy dịch thể. Việc nhận diện ấu trùng trong quá trình giết mổ thường gặp khó khăn do dễ nhầm lẫn với các bọc nước sinh lý thông thường. Đồng thời, công tác chẩn đoán trên vật chủ sống rất phức tạp do không thể xét nghiệm phân (do ấu trùng không ký sinh trong lòng ống tiêu hóa) và phương pháp chọc dò dịch xoang bụng/ngực tiềm ẩn nguy hiểm cho gia súc. Mặt khác, hiện nay y văn thú y ghi nhận bệnh ấu sán cổ nhỏ chưa có phác đồ thuốc điều trị đặc hiệu mà chủ yếu dừng lại ở can thiệp triệu chứng.

Tại tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện Đồng Hỷ nói riêng, tập quán chăn nuôi chó thả rông, kết hợp với tình trạng giết mổ gia súc nhỏ lẻ, bừa bãi và công tác kiểm soát vệ sinh thú y chưa chặt chẽ đã tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh phát tán. Trước thực trạng đó, tác giả Phương Thị Duyến thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Chăn nuôi Thú y nhằm khảo sát thực trạng dịch tễ và xây dựng cơ sở khoa học cho các biện pháp phòng chống bệnh trên địa bàn.

Mục đích của đề tài: Xác định biện pháp phòng chống bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn hiệu quả và phù hợp với điều kiện chăn nuôi tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên; từ đó xây dựng quy trình phòng chống bệnh đạt hiệu quả cao.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Đánh giá sự thay đổi một số chỉ tiêu huyết học của lợn khi nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis.
  3. Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra cho đàn lợn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn chó và đàn lợn nuôi tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên; bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis và sán dây trưởng thành Taenia hydatigena.
  • Phạm vi không gian: Thực địa tại 3 địa phương đại diện thuộc huyện Đồng Hỷ gồm thị trấn Chùa Hang, xã Quang Sơn và xã Hóa Trung. Công tác xét nghiệm mẫu và định loài được tiến hành tại Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên), Phòng Ký sinh trùng (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật) và Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và phân loại học

Nghiên cứu ứng dụng hệ thống phân loại học giun sán của Schulz và Gvozdev (1970) (được Phan Thế Việt và cộng sự kế thừa, 1977; Nguyễn Thị Kỳ, 2003) để phân loại các loài sán dây ký sinh trên chó:

  • Ngành sán dẹp (Plathelminthes), Lớp sán dây (Cestoda Rudolphi, 1808), Phân lớp Eucestoda Southwell, 1930.
  • Bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900; Họ Taeniidae Ludwig, 1886; Giống Taenia Linnaeus, 1758; Loài Taenia hydatigena Pallas, 1766 (dạng ấu trùng là Cysticercus tenuicollis).

Về chu kỳ sinh học, sán dây trưởng thành Taenia hydatigena ký sinh ở ruột non của chó. Đốt già chứa hàng nghìn trứng rụng theo phân ra môi trường ngoài. Lợn và các loài gia súc khác nuốt phải trứng sán qua thức ăn, nước uống. Vào đường tiêu hóa, ấu trùng 6 móc thoát vỏ, chui qua niêm mạc ruột, theo tĩnh mạch cửa vào gan rồi di hành ra xoang bụng, bám vào màng treo ruột, màng mỡ chài, gan, phổi để tạo thành bọc nang Cysticercus tenuicollis sau khoảng 3 tháng. Khi chó ăn phải nội tạng sống chứa nang ấu trùng, đầu sán lộn ra bám vào niêm mạc ruột và phát triển thành sán trưởng thành sau 2 tháng.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập dữ liệu

  1. Phương pháp lấy mẫu: Áp dụng phương pháp lấy mẫu phân tầng theo Nguyễn Như Thanh (2001) để thu thập mẫu lợn mổ khám ($n = 650$ con) và chó mổ khám ($n = 319$ con) tại 3 địa bàn khảo sát.
  2. Phương pháp mổ khám xác định ấu trùng ở lợn: Bộc lộ xoang ngực và xoang bụng lợn sau giết mổ; quan sát, kiểm tra bề mặt gan, lách, màng treo ruột, màng mỡ chài; thu thập, đếm số lượng ấu trùng và cố định mẫu trong cồn $70^\circ$ (theo quy trình của Nguyễn Thị Kim Lan, 2012).
  3. Phương pháp mổ khám và định loài sán dây ở chó: Mổ khám đường tiêu hóa chó theo phương pháp mổ khám phi toàn diện cơ quan tiêu hóa của Skrjabin (1928). Thu thập sán dây, làm sạch bằng nước cất, ép mẫu giữa hai lam kính và cố định trong cồn $70^\circ$. Làm tiêu bản tạm thời (dung dịch glyxerin + axit lactic + nước cất tỷ lệ 1:1:1) và tiêu bản cố định nhuộm phẩm Carmin, khử nước qua các cấp độ cồn ($70^\circ, 80^\circ, 96^\circ, 100^\circ$), làm trong bằng xylen và gắn bằng Baume-Canada để soi kính hiển vi định loài.
  4. Phương pháp xét nghiệm huyết học: Thu thập mẫu máu lợn khỏe và lợn nhiễm bệnh (1 ml/con) có bổ sung chất chống đông; đo các chỉ số số lượng hồng cầu, số lượng bạch cầu, hàm lượng huyết sắc tố và công thức bạch cầu bằng máy phân tích tự động Osmetech OPTI – CCA/Blood Gas Analfzen.
  5. Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê sinh học theo Nguyễn Văn Thiện (2008), tính toán các tham số dịch tễ và thiết lập phương trình hồi quy tuyến tính đánh giá mối tương quan trên phần mềm Minitab 14.0.

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ tác hại bệnh lý của ấu trùng sán dây đối với sức khỏe vật nuôi, nguy cơ lây nhiễm chéo giữa chó và gia súc tại các vùng nông thôn, và thực trạng thiếu vắng thuốc điều trị đặc hiệu trên lợn sống. Xác định rõ mục đích, mục tiêu, ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dẫn liệu dịch tễ thú y, cùng ý nghĩa thực tiễn trong việc hỗ trợ người chăn nuôi và trạm thú y địa phương kiểm soát bệnh.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa toàn diện các tài liệu nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến:

  • Hình thái, cấu tạo và chu kỳ sinh học của sán dây ký sinh trên chó và ấu trùng Cysticercus tenuicollis.
  • Cơ chế sinh bệnh học: Quá trình thai 6 móc xuyên thành ruột, di hành qua nhu mô gan gây tổn thương hoại tử, viêm gan cấp tính, hình thành dải xơ và tràn dịch fibrin trước khi định vị tại xoang phúc mạc.
  • Các nghiên cứu dịch tễ của tác giả trong nước (Phạm Văn Khuê, Phan Lục, Trịnh Văn Thịnh, Đỗ Dương Thái, Nguyễn Thị Kim Lan, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kỳ) và quốc tế (Kaufmann, Junquera, Radfar, Sammuel, Blazek).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Mô tả chi tiết tiêu chí chọn mẫu nghiên cứu lợn và chó tại 3 địa phương; quy chuẩn trang thiết bị, hóa chất nhuộm tiêu bản Carmin; quy trình mổ khám định loại sán dây theo Skrjabin; kỹ thuật xác định chỉ số huyết học trên máy Osmetech OPTI-CCA; và quy trình xử lý dữ liệu tương quan tuyến tính bằng Minitab 14.0.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trình bày và phân tích các số liệu thu thập được qua 650 lợn mổ khám và 319 chó mổ khám, bao gồm: tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm ấu trùng theo địa bàn, lứa tuổi, giới tính, tháng theo dõi; thành phần 4 loài sán dây ở chó; tỷ lệ nhiễm sán dây trưởng thành Taenia hydatigena; mô hình hồi quy tương quan dịch tễ giữa chó và lợn; cùng sự biến đổi các chỉ số sinh lý máu của lợn bệnh.

Phần 5: Kết luận, tồn tại và đề nghị

Khái quát các kết quả định lượng đạt được của đề tài, nêu rõ những mặt hạn chế về thời gian khảo sát thực địa và đề xuất các khuyến nghị kiểm soát dịch bệnh cho cơ quan quản lý thú y.


Kết quả và đóng góp

Tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn tại huyện Đồng Hỷ

Kết quả mổ khám 650 lợn tại 3 địa bàn nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm chung là 16,15% với cường độ dao động từ 1 đến 35 ấu trùng/con. Tỷ lệ và cường độ nhiễm có sự khác biệt rõ rệt theo từng điều kiện sinh thái - xã hội của địa phương:

Địa phương Số lợn mổ khám (con) Số lợn nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Cường độ nhiễm (ấu trùng/con)
Thị trấn Chùa Hang 300 36 12,00 1 – 25
Xã Quang Sơn 170 35 20,59 2 – 35
Xã Hóa Trung 180 34 19,44 2 – 30
Tính chung 650 105 16,15 1 – 35

Xã Quang Sơn có tỷ lệ nhiễm cao nhất (20,59%) do địa hình miền núi phức tạp, tập quán nuôi thả rông chó và điều kiện vệ sinh kém. Thị trấn Chùa Hang có tỷ lệ nhiễm thấp nhất (12,00%) nhờ điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và ý thức vệ sinh chuồng trại tốt hơn.

Biến động tỷ lệ nhiễm ở lợn theo các yếu tố dịch tễ

1. Theo lứa tuổi: Tỷ lệ và cường độ nhiễm tăng dần theo độ tuổi của lợn do thời gian và tần suất tiếp xúc với mầm bệnh tích lũy theo thời gian sống:

Nhóm tuổi (tháng) Số mổ khám (con) Số nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Cường độ nhiễm (ấu trùng/con)
$\le 6$ 230 22 9,57 1 – 20
$> 6 - 12$ 268 43 16,04 2 – 27
$> 12$ 152 40 20,32 2 – 35
Tính chung 650 105 16,15 1 – 35

2. Theo tính biệt: Khảo sát cho thấy không có sự chênh lệch lớn về tỷ lệ nhiễm giữa hai giới tính: lợn đực nhiễm 15,85% (cường độ 1 – 27 ấu trùng/con), lợn cái nhiễm 16,50% (cường độ 2 – 35 ấu trùng/con). Lợn cái có cường độ nhiễm nhỉnh hơn do thời gian nuôi giữ đàn sinh sản thường kéo dài hơn lợn đực nuôi thịt.

3. Theo các tháng theo dõi (từ tháng 1 đến tháng 5): Tỷ lệ nhiễm đạt mức cao nhất vào tháng 4 (17,69%) và tháng 2 (17,19%), giảm xuống vào tháng 1 (14,81%) và tháng 5 (14,75%). Các tháng mùa xuân có độ ẩm không khí cao, thời tiết nồm ẩm tạo điều kiện thuận lợi cho trứng sán dây duy trì sức sống lâu ngoài môi trường.

Tháng theo dõi Số mổ khám (con) Số nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Cường độ nhiễm (ấu trùng/con)
Tháng 1 135 20 14,81 2 – 27
Tháng 2 128 22 17,19 1 – 30
Tháng 3 135 22 16,30 2 – 32
Tháng 4 130 23 17,69 2 – 35
Tháng 5 122 18 14,75 1 – 20

Thành phần loài sán dây ở chó và tương quan dịch tễ

Khảo sát trên đàn chó nuôi tại huyện Đồng Hỷ đã phát hiện 4 loài sán dây ký sinh:

  • Dipylidium caninum (Linnaeus, 1758): Xuất hiện tại 3/3 xã/thị trấn (tỷ lệ thường gặp 100%).
  • Taenia hydatigena (Pallas, 1766): Xuất hiện tại 3/3 xã/thị trấn (tỷ lệ thường gặp 100%).
  • Taenia pisiformis (Bloch, 1780): Xuất hiện tại thị trấn Chùa Hang và xã Hóa Trung (tỷ lệ thường gặp 66,67%).
  • Multiceps multiceps (Leske, 1780): Chỉ xuất hiện tại xã Quang Sơn (tỷ lệ thường gặp 33,33%).

Khảo sát mổ khám 319 chó xác định tỷ lệ nhiễm sán dây trưởng thành Taenia hydatigena bình quân là 26,33% (cường độ 2 – 50 sán/chó). Cụ thể: TT Chùa Hang nhiễm 22,73% (cường độ 2 – 33 sán/chó), xã Hóa Trung nhiễm 27,55% (cường độ 2 – 42 sán/chó), xã Quang Sơn nhiễm cao nhất với 30,34% (cường độ 2 – 50 sán/chó).

Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm ở chó và lợn: Phân tích hồi quy bằng Minitab 14.0 đã xác lập phương trình tương quan tuyến tính: $$y = -14,2 + 1,17x$$ (Trong đó: $y$ là tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn; $x$ là tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó).

Hệ số tương quan $R = 0,970$ khẳng định mối tương quan thuận rất chặt chẽ giữa tỷ lệ chó mang sán dây trưởng thành và tỷ lệ lợn nhiễm ấu sán bọc nước tại địa bàn.

Đề xuất biện pháp phòng chống của tác giả

  1. Quản lý chặt chẽ đàn chó nuôi, hạn chế tối đa việc thả rông trong khu dân cư và khu vực chuồng trại chăn nuôi lợn.
  2. Thực hiện định kỳ tẩy giun sán cho toàn bộ đàn chó bằng các loại thuốc đặc trị sán dây.
  3. Kiểm soát nghiêm ngặt quy trình giết mổ gia súc; tuyệt đối không vứt bỏ bừa bãi hoặc cho chó ăn các phủ tạng (gan, phổi, lách, màng mỡ chài) nhiễm bọc ấu trùng Cysticercus tenuicollis chưa qua xử lý nhiệt.
  4. Thu gom, tiêu hủy đúng kỹ thuật các khí quan gia súc bị nhiễm nang ấu sán; tăng cường vệ sinh chuồng trại, ủ phân sinh học để diệt trứng sán trong chất thải chăn nuôi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Thời gian nghiên cứu của đề tài diễn ra trong 6 tháng (từ tháng 12/2013 đến tháng 5/2014), chưa bao quát đủ các mùa trong năm để theo dõi trọn vẹn chu kỳ dịch tễ 12 tháng. Phạm vi điều tra thực địa mới dừng lại ở 3 xã/thị trấn của huyện Đồng Hỷ, chưa mở rộng toàn diện trên quy mô toàn tỉnh Thái Nguyên.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng khảo sát dịch tễ sang các huyện lân cận thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc; theo dõi biến động dịch tễ liên tục qua các năm; nghiên cứu sâu hơn về các phản ứng miễn dịch học/huyết thanh học phục vụ chẩn đoán sớm ấu trùng trên lợn sống.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo thực tiễn và chuyên môn hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Chăn nuôi Thú y, Bác sĩ Thú y: Cung cấp quy chuẩn chi tiết về phương pháp mổ khám Skrjabin, quy trình kỹ thuật nhuộm tiêu bản Carmin và phương pháp định danh hình thái các loài sán dây ký sinh.
  • Cán bộ thú y cơ sở và kiểm soát giết mổ: Cung cấp cơ sở nhận diện bệnh tích ấu sán bọc nước trên màng treo ruột và tạng phủ lợn, nâng cao hiệu quả kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm.
  • Các nhà nghiên cứu dịch tễ học thú y: Tham khảo phương pháp ứng dụng phần mềm Minitab trong việc xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính đánh giá tương quan giữa vật chủ cuối cùng (chó) và vật chủ trung gian (lợn).

Câu hỏi thường gặp

1. Ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh ở những cơ quan nào của lợn và có hình thái nhận biết ra sao?

Ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh chủ yếu trên bề mặt gan, lách, màng treo ruột, màng mỡ chài và đôi khi ở phổi của lợn. Về hình thái, ấu trùng là các bọc dạng túi chứa đầy dịch thể trong suốt, kích thước dao động từ hạt đậu đến quả cam, bên trong có một đầu sán với cổ mỏng mang 4 giác bám và hai hàng móc (28 – 40 móc).

2. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn tại huyện Đồng Hỷ là bao nhiêu và biến động như thế nào theo lứa tuổi?

Tỷ lệ nhiễm chung trên 650 lợn mổ khám là 16,15% (cường độ 1 – 35 ấu trùng/con). Tỷ lệ này tăng dần theo lứa tuổi của lợn: nhóm $\le 6$ tháng tuổi nhiễm 9,57%; nhóm $> 6 – 12$ tháng tuổi nhiễm 16,04%; và nhóm $> 12$ tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất là 20,32%.

3. Đàn chó nuôi tại huyện Đồng Hỷ nhiễm những loài sán dây nào và loài nào gây bệnh cho lợn?

Nghiên cứu xác định được 4 loài sán dây ký sinh trên đàn chó tại địa bàn: Dipylidium caninum, Taenia hydatigena, Taenia pisiformis và Multiceps multiceps. Trong đó, loài Taenia hydatigena là sán dây trưởng thành mà dạng ấu trùng của nó (Cysticercus tenuicollis) gây bệnh ấu sán bọc nước ở lợn và các loài động vật nhai lại.

4. Mối tương quan dịch tễ giữa tỷ lệ chó nhiễm sán dây và lợn nhiễm ấu trùng được mô tả bằng mô hình nào?

Mối quan hệ giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó ($x$) và tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn ($y$) tuân theo phương trình hồi quy tuyến tính $y = -14,2 + 1,17x$ với hệ số tương quan $R = 0,970$, biểu thị mối quan hệ tương quan thuận rất chặt chẽ.

5. Tại sao việc chẩn đoán bệnh do Cysticercus tenuicollis trên lợn sống gặp nhiều trở ngại?

Vì ấu trùng ký sinh ngoài bề mặt các nội quan và trong xoang phúc mạc chứ không cư trú trong lòng ống tiêu hóa, nên không thể xét nghiệm tìm trứng hay đốt sán qua mẫu phân. Triệu chứng lâm sàng ở thể nhẹ thường mờ nhạt; phương pháp chọc dò xoang bụng/ngực tìm đầu sán có độ rủi ro cao cho con vật, do đó việc chẩn đoán chủ yếu thực hiện qua mổ khám sau giết mổ.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phương Thị Duyến đã phản ánh bức tranh dịch tễ học thực địa về bệnh ấu sán cổ nhỏ (Cysticercus tenuicollis) trên đàn lợn và sán dây trên đàn chó tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Công trình đã xác định được tỷ lệ nhiễm ấu trùng ở lợn là 16,15%, phát hiện 4 loài sán dây ký sinh ở chó với tỷ lệ nhiễm Taenia hydatigena đạt 26,33%, đồng thời chứng minh mối tương quan thuận chặt chẽ ($R = 0,970$) giữa tỷ lệ nhiễm bệnh ở hai loài vật chủ. Những dẫn liệu khoa học này cung cấp căn cứ thực tiễn quan trọng để ngành thú y địa phương xây dựng quy trình kiểm soát giết mổ, quản lý chó nuôi và phòng trừ bệnh ký sinh trùng lây truyền qua chu kỳ trung gian.