Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DÙNG THUỐC THẢO DƯỢC PHÒNG TRỪ NGOẠI KÝ SINH TRÙNG Với hệ thực vật vô cùng đa dạng và phong phú, chúng ta đã tận dụng được món quà vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng, đó chính là nguồn thảo dược dùng làm thuốc. Cùng với bề dày lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc, nền y học cổ truyền cũng phát triển không ngừng với kho tàng kinh nghiệm sử dụng thảo dược làm thuốc rất to lớn. Trên cơ sở những kinh nghiệm cổ truyền, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đông dược nhằm tìm hiểu cơ sở khoa học của các bài thuốc để áp dụng vào việc phòng trị bệnh một cách có hiệu quả.
Đối với ngành thú y, có thể nói lịch sử của quá trình sử dụng thuốc thảo dược trong thú y trước đây còn do kinh nghiệm mang tính truyền miệng hoặc được áp dụng tương tự như người (Lê Thị Ngọc Diệp,1999) [6]. Việc dùng các loại thuốc hóa dược trị ngoại ký sinh trùng tuy mang lại hiệu quả cao nhưng lại gây nhiều tác dụng phụ như gây hiện tượng nhờn thuốc, gây đột biến gen, tăng nguy cơ ung thư, ảnh hưởng tới sức khỏe vật nuôi, gây ô nhiễm môi trường… Trong khi đó dùng thuốc thảo dược sẽ khắc phục được những nhược điểm của thuốc hóa dược. Nguồn thảo dược lại rất phong phú, dễ kiếm, dễ sử dụng, ít hoặc không gây độc, hiệu quả sử dụng cao, giá thành rẻ và đặc biệt không gây tồn dư trong sản phẩm động vật, không gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy, việc đi sâu khai thác thế mạnh của thảo dược là hướng nghiên cứu cần thiết không những trong giai đoạn hiện nay mà cả trong tương lai.
Yêu cầu đối với thuốc trị ngoại ký sinh trùng Mỗi loại ký sinh trùng đều có đặc điểm sinh trưởng, phát triển và đặc điểm ký sinh riêng, vì vậy thuốc dùng để phòng trị ngoại ký sinh trùng ngoài những yêu cầu chung như những loại thuốc khác còn có những yêu cầu riêng. Theo Bùi Thị Tho (2003) [34], thuốc trị ngoại ký sinh trùng lý tưởng cần đạt các yêu cầu sau: - Thuốc có khả năng tiêu diệt ngoại ký sinh trùng trong tất cả các chu kỳ phát triển, cả vòng đời biến thái của chúng (từ trưởng thành - trứng - ấu trùng - các biến thái của ấu trùng - dạng trưởng thành). - Thuốc có tác dụng nhanh, không hoặc ít độc với vật chủ và người khi sử dụng. - Thuốc có tác dụng hiệp đồng hay được phân bố đồng đều trong dung dịch lỏng phù hợp với yêu cầu sử dụng.
- Thuốc dễ dử dụng, tùy theo loại ký sinh có thể sử dụng dưới các dạng như trộn vào thức ăn, pha nước tắm, bơm xịt, bôi trên da hoặc tiêm dưới da… - Không hoặc ít để lại tồn dư trong tế bào, tổ chức vật chủ. - Không gây ô nhiễm môi trường. Để có được một loại thuốc đáp ứng được các yêu cầu trên là hết sức khó khăn. Những nghiên cứu về các loại thuốc trước đây và hiện nay vẫn đang sử dụng (phần lớn là các loại hóa dược) cho thấy chúng chỉ đáp ứng được mặt nào đó trong điều trị.
Các thuốc này độc với ký sinh trùng song chúng cũng độc với ký chủ và người, gây ô nhiễm môi trường vì khó phân hủy trong tự nhiên, đồng thời tồn dư trong sản phẩm chăn nuôi. Do đó nhiều các thuốc trước kia sử dụng phổ biến như: Dipterex, DDT, 666… đã bị Nhà nước cấm sử dụng. Trong những năm gần đây, các nhà khoa học trên thế giới, đặc biệt là các nhà khoa học vùng Đông Nam Á đã sử dụng các loại dược liệu (cây thuốc Cá, Cúc trừ trùng, cây Bách bộ…) có các hoạt chất: Rotenon, 6 pyrethroids, Stemonin… để diệt ngoại ký sinh trùng. Những loại dược liệu đó gần như đã đáp ứng được yêu cầu của thuốc diệt ngoại ký sinh trùng lý tưởng.
Một số thành tựu nghiên cứu và ứng dụng thảo dược trong phòng và trị bệnh Nằm trong khu vực Đông Nam Á, gần các trung tâm lớn về y dược truyền thống như Trung Quốc, Ấn Độ… Việt Nam cũng có nền y học cổ truyền xuất hiện từ rất sớm, có nhiều bài thuốc hay chữa bệnh cho người và vật nuôi. Riêng để trị ngoại ký sinh trùng, từ xa xưa nhân dân ta đã biết sử dụng một số thảo dược có hiệu quả như: Thuốc lá, thuốc lào chữa ghẻ, hạt Thàn mát trị ve, ghẻ… Ngày nay, bằng việc ứng dụng thành tựu của khoa học người ta đã chứng minh được thuốc có nguồn gốc thiên nhiên dễ được cơ thể chấp nhận, ít có tác dụng phụ. Trong khi đó các thuốc tổng hợp hóa học hay gây tác dụng phụ, đôi khi gây đột biến gen, quái thai hay các tổn thất nặng như điếc, tăng nguy cơ ung thư… Các kết quả nghiên cứu đã thu được càng khẳng định rõ mối quan hệ giữa dược liệu và sức khỏe cộng đồng. Nhiều bệnh nan y được chữa trị nhờ sự đóng góp của dược liệu (Viện Dược liệu, 2001) [37].
Đã có nhiều công trình khoa học phát hiện được những đặc tính quý mới của các thảo dược truyền thống và những cây thuốc mới. - Nhiều tác giả đã nghiên cứu được tác dụng kháng khuẩn của Bách bộ. Theo Vũ Ngọc Kim và cộng sự (1996) [16], nước sắc Bách bộ có tính kháng khuẩn như vi khuẩn tả, phó thương hàn, trực khuẩn mủ xanh, tụ cầu vàng, vi khuẩn lao. Hoàng Minh và cộng sự (1974) [21] cũng đã thí nghiệm cho thỏ uống Bách bộ (có so sánh nhiều đối chứng) thấy số lượng đại thực bào ở phế nang tăng lên sau 15 - 20 ngày dùng thuốc.
Khả năng loại trừ tụ cầu vàng gây bệnh phổi qua đường phế quản cũng được tăng lên. Điều này giải thích Bách bộ trị được một số bệnh nhiễm khuẩn đường phổi là có cơ sở. 7 - Trong lá cây Chè (Thea cinensis) có hoạt chất như cafein, glucozid, men oxy hóa theaza, ngoài những tác dụng thông thường như giải cảm, giải độc, lợi tiểu người ta còn mới phát hiện ra một giá trị đặc biệt đó là khả năng làm tăng sức đề kháng của trẻ em đối với virus gây bệnh Viêm não B Nhật Bản (Bùi Ngân Tâm, 2003) [26]. - Edne Cave (1997) [40] đã công bố về tác dụng ức chế khối u, ức chế miễn dịch của hạt và lá Na.
- Cây Actiso (Cynara Scolymus. L) chứa nhiều hoạt chất có tác dụng chống viêm, lợi tiểu, thông mật, bổ gan… (Lê Thị Ngọc Diệp,1999) [6]. - Theo Vũ Xuân Quang (1993) [25], từ cây Đại (Phumeria rubra linn var acutifolia baill) chiết được chất fulvoplumierin có tác dụng ức chế vi khuẩn lao ở nồng độ 1 -5 µg/ml. - Vừa qua, các nhà khoa học trên thế giới phát hiện thêm nhiều đặc tính quý của nấm Linh chi (Ganoderrma lucidum) trong việc chữa các chứng bệnh gan, mật, ung thư… Thậm chí cả hiệu ứng ngăn ngừa và chống căn bệnh thế kỷ AIDS (Viện Dược liệu,2001) [36], [37].
Đối với ngành thú y, Đông dược thú y đã có những nghiên cứu và thu được một số kết quả rất khả quan. - Trần Minh Hùng và cộng sự (1978) [11], [12] đã nghiên cứu sử dụng kháng sinh thực vật trong nuôi dưỡng và phòng bệnh cho lợn, đặc biệt bệnh lợn con phân trắng đạt hiệu quả cao. - Theo tác giả Bùi Thị Tho (1996) [32], qua theo dõi tính kháng thuốc của hai loại vi khuẩn E.coli và Salmonella đã cho biết: + Các vi khuẩn này kháng lại thuốc hóa học trị liệu (Streptomycin, Neomycin, Tetracylin…) rất nhanh, đồng thời giữa chúng lại có hiện tượng kháng chéo. Trong khi đó hiện nay chưa thấy E.coli và Salmonella kháng lại phytoncyd của tỏi, hẹ mặc dù ông cha ta đã sử dụng hai loại dược liệu này từ xa xưa và rất thường xuyên.
8 + Trong phòng thí nghiệm, thời gian để tạo được các chủng vi khuẩn kháng lại phytoncid của tỏi, hẹ phải lâu hơn 3-5 lần so với thuốc hóa học trị liệu. Khi tăng nồng độ phytoncid lên 5 lần so với nồng độ tạo kháng vi khuẩn đã bị tiêu diệt. Nhưng đối với thuốc hóa học trị liệu, mặc dù đã tăng nồng độ lên 120 lần (thậm chí cao hơn) so với nồng độ tạo kháng vi khuẩn mà vi khuẩn vẫn sống. Riêng đối với ngoại ký sinh trùng thú y, Đông dược đã đạt được một số thành tựu nhất định.
- Theo Trần Quang Hùng (1995) [13] trong thuốc lá và thuốc lào có chứa kiềm thực vật Nicotin và Nornicotin, chế phẩm Nicotin trừ được ngoại ký sinh trùng và côn trùng hại rau màu và cây công nghiệp. Nicotin nhanh chóng phân giải trong môi trường. - Theo Phạm Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho (1994) [9], dùng cao hạt mát: hạt mát giã nhỏ (3 phần), hạt dầu trẩu giã nhỏ (1 phần), lưu huỳnh phi (1 phần), nước (8 phần). Trộn đều tất cả 4 thứ trên, cô cách thủy trong vòng 30 phút thành cao đặc sền sệt, để nguội 37 - 400C dùng bôi lên chỗ ghẻ cho gia súc.
Hoặc dùng hạt mát ngâm vào nước nóng, giã nát rồi ngâm vào nước ấm 370C tắm cho gia súc có thể diệt được cả ve cứng lẫn ve mềm. - Theo Bùi Thị Tho (2003) [33], dùng củ bách bộ nồng độ 5% ngâm trong môi trường HCl 5%, thời gian ngâm 12 - 24 giờ diệt 91,04% ve chó. - Kết quả nghiên cứu về chế phẩm thuốc mỡ chế từ cây thuốc cá của Nguyễn Thanh Hải (2007) [8] cho thấy: Thuốc mỡ 10% sau 2 lần bôi thuốc, sau 48 giờ điều trị chó, bò sạch ve. Thuốc mỡ 20% sau 2 lần bôi thuốc, sau 36 giờ điều trị chó, bò sạch ve.
Thuốc mỡ 30% chỉ cần 1 lần bôi thuốc, sau 24 giờ chó, bò sạch ve. Khi sử dụng các chế phẩm thuốc mỡ trên bôi cho chó và bò không thấy động vật thí nghiệm nào có biểu hiện trúng độc, không dị ứng hay nổi mẩn trên da. 9 - Trần Quang Hùng (1995) [13] cho biết, từ hai thập niên của cuối thế kỷ 20 các nhà khoa học vùng Đông Nam Á đã sử dụng hoạt chất của hoa Cúc trừ trùng để chế những chế phẩm có hiệu lực cao đối với ngoại ký sinh trùng và côn trùng hại rau màu (chế phẩm Dilatian chứa khoảng 1% Pyrethrin). Người ta phát hiện trong hoa Cúc trừ trùng có 6 este của axit xiclopropan cacboxylic, độc đối với sâu đó là Pyrethrin I và II, Cinerin I và II, Jasmolin I và II.
Trong bột hoa Cúc trừ trùng các este Pyrethrin chiếm 75%. Cũng theo tác giả này các Pyrethrin có hiệu lực trừ sâu, ngoại ký sinh trùng cao hơn và có nhiều ưu điểm hơn các este tổng hợp.