mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. cho rằng: “Chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống, nhưng không có sự phân hóa về mặt địa lý”, ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể, ông đưa ra nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1. Ngày nay, vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học đã trở thành một chiến lược toàn cầu. Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời để hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học.
Đó là, hiệp hội quốc tế bảo vệ thiên nhiên (IUCN), chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP), Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF), viện tài nguyên di truyền quốc tế (IPGRI). Năm 1990, WWF đã cho xuất bản cuốn sách nói về tầm quan trọng của đa dạng sinh học (The importance of biological diversity) hay IUCN, UNEP và WWF đưa ra chiến lược bảo tồn thế giới (World conservation strategy). Năm 1991, WRI, WCU, WB, WWF xuất bản cuốn sách bảo tồn đa dạng sinh học thế giới (Conserving the Word’s biological diversity). Cùng năm, WRI, IUCN và UNEF xuất bản cuốn chiến lược đa dạng sinh học và chương trình hành động, tất cả các cuốn sách đó nhằm hướng dẫn và đề ra các phương pháp để bảo tồn đa dạng sinh học, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và phát triển trong tương lai [39].
Tái sinh rừng Tái sinh rừng được hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây tái sinh và đặc điểm phân bố. Lowdermilk (1927) chỉ ra phương pháp lấy mẫu ô vuông với ô đo đếm điều tra tái sinh có diện tích từ 1 - 4 m2. Do diện tích điều tra nhỏ nên việc đo đếm có 9 nhiều thuận lợi nhưng số lượng ô phải đủ lớn và trải đều trên diện tích khu rừng mới phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng.
Richards (1952) đã tổng kết việc nghiên cứu tái sinh trên các ô dạng bản và phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới. Bara (1954), Budowski (1956) có nhận định dưới tái sinh rừng nhiệt đới nói chung có đủ lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, nên việc đề xuất các biện pháp lâm sinh để bảo vệ lớp cây tái sinh này là cần thiết. Nhờ những nghiên cứu này nhiều biện pháp tác động vào lớp cây tái sinh đã được xây dựng và đem lại hiệu quả đáng kể [17]. Van Steenis (1956) đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng nhiệt đới đó là tái sinh phân tán - liên tục và tái sinh vệt.
Hai đặc điểm này không chỉ thấy ở rừng nguyên sinh mà còn thấy cả ở rừng thứ sinh - một đối tượng rừng khá phổ biến ở nhiều nước nhiệt đới. Nghiên cứu về phân loại trạng thái rừng Mục đích chủ yếu của phân loại rừng là nhằm xác định các đối tượng rừng với những đặc trưng cấu trúc cụ thể, từ đó lựa chọn, đề xuất các biện pháp lâm sinh thích hợp để điều khiển, dẫn dắt rừng đạt trạng thái chuẩn. Viện Điều tra Quy hoạch rừng đã dựa trên hệ thống phân loại của Loeschau (1966) cải tiến cho phù hợp với đặc điểm rừng tự nhiên của Việt Nam và cho đến nay vẫn áp dụng hệ thống phân loại này [48]. Thái Văn Trừng (1978) đứng trên quan điểm sinh thái đã chia rừng Việt Nam thành 14 kiểu thảm thực vật.
Đây là công trình tổng quát, đáp ứng được yêu cầu về quy luật sinh thái. Xuất phát từ tính đa dạng, phong phú của rừng nhiệt đới, Thái Văn Trừng đưa ra kết luận: Không thể dùng quần hợp thực vật làm đơn vị phân loại cơ bản như các tác giả kinh điển đã sử dụng ở vùng ôn đới. Ông đề xuất dùng kiểu thảm thực vật làm đơn vị phân loại cơ bản và lấy hình thái, cấu trúc quần thể làm tiêu chuẩn phân loại [40]. Một số tác giả đã sử dụng mô hình toán học để phân loại trạng thái rừng, điển hình như: Ngô Út (2003), bước đầu định lượng hóa việc phân loại các trạng thái rừng thuộc kiểu rừng kín thường xanh và nửa rụng lá vùng Đông Nam Bộ; Nguyễn Văn Thêm (2003), ứng dụng hàm lập nhóm trong phân loại trạng thái rừng và đưa ra kết luận: Các trạng thái rừng theo hệ thống phân loại của Loeschau có thể được nhận biết chính xác thông qua các hàm phân loại tuyến tính như Fisher được xây dựng dựa trên nhiều biến số định lượng.
Ngô Út, Nguyễn Phú Hùng (2003) đưa ra một số ý kiến về cải thiện hệ thống phân chia trạng thái rừng lá rộng thường xanh Việt Nam… Các tác giả này đã nghiên cứu và đề xuất các ý kiến nhằm bổ sung cho hệ thống phân loại trạng thái rừng của Việt Nam, khả năng ứng dụng hàm toán học trong phân chia trạng thái rừng. Phân loại rừng theo Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT về những quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng. Đây là văn bản quy định về hệ thống phân loại rừng nhằm phục vụ cho công tác điều tra, kiểm kê, thống kê rừng; quy hoạch bảo vệ phát triển rừng, quản lý tài nguyên rừng và xây dựng các chương trình, dự án lâm nghiệp. Thông tư này, ngoài việc quy định những tiêu chí xác định rừng, phần trọng tâm của văn bản là những quy định về phân loại rừng được dựa trên những căn cứ khác nhau.
Cụ thể: (1) Phân loại rừng theo mục đích sử dụng; (2) Phân loại rừng theo nguồn gốc hình thành; (3) Phân loại rừng theo điều kiện lập địa; (4) Phân loại rừng theo loài cây; (5) Phân loại rừng theo trữ lượng. Phân loại rừng theo Thông tư 34/2009/TT-BNN cho thấy được những cố gắng có thể lượng hóa được từng tiêu chí, chỉ số trong từng loại rừng. Ưu điểm này phục vụ rất tốt cho công tác theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và phần nào đáp ứng được những đòi hỏi từ thực tiễn sản xuất lâm nghiệp hiện nay. Đây là hệ thống phân chia rừng có sự kế thừa một cách có chọn lọc và sáng tạo từ những hệ thống phân loại trước; đồng thời cũng bổ sung được những tiêu chuẩn, tiêu chí mới khi phân loại.
Mặt khác, nội dung phân loại 11 rừng ở Thông tư này có tính hợp nhất và tổng hợp lại gần như toàn bộ cách thức phân loại rừng (mục đích sử dụng, nguồn gốc hình thành, điều kiện lập địa, theo loài cây và theo trữ lượng) do đó thuận tiện cho sản xuất và quản lý rừng, tránh được sự trùng lặp với các hệ thống phân loại khác. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng Thông tư này cũng đã bộc lộ một số tồn tại nhất định. Do cố gắng chi tiết hóa nên có những trường hợp không khái quát hết được. Ví dụ, phân loại theo loài cây đối với cây lá kim, thực tế có những quần thể lá kim tự nhiên hay nhân tạo thuần loài.
Việc phân loại theo trữ lượng đã dẫn tới kẽ hở pháp lý khi xác định rừng nghèo và rừng chưa có trữ lượng để cải tạo thành loại rừng khác. Như vậy, các tác giả đều cho rằng: Việc phân loại trạng thái rừng ở Việt Nam là rất cần thiết trong công tác nghiên cứu cũng như sản xuất kinh doanh. Tùy các mục tiêu cụ thể mà lựa chọn các phương pháp phân loại khác nhau, nhưng đều nhằm làm rõ hơn các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu. Về cấu trúc rừng Trần Ngũ Phương (1970) đã chỉ ra những đặc điểm cấu trúc của các thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam trên cơ sở kết quả điều tra tổng quát về tình hình rừng miền Bắc Việt Nam từ 1961 đến 1965.
Nhân tố cấu trúc đầu tiên được nghiên cứu là tổ thành và thông qua đó một số quy luật phát triển của các hệ sinh thái rừng được phát hiện và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất [11]. Nghiên cứu tại vùng Đông Bắc (1989) phát hiện 393 loài cây gỗ của 74 họ thực vật. Các loài phân bố không đều và giữ vai trò khác nhau trong tổ thành của 3 loại rừng phổ biến trong toàn vùng (IIA, IIIA1, IIIA2). Ở trạng thái rừng IIIA1, IIIA2 loài ưu thế không rõ nét.
Kết cấu tầng thứ của rừng tương đối phức tạp, đáng lưu ý là tầng tán chính và tầng vượt tán gồm các loài cây gỗ lớn như: Lim xanh, Giẻ gai… thường cong queo, sâu bệnh không đáp ứng yêu cầu gỗ trụ mỏ, mật độ tương đối thấp. Phân bố số cây của rừng thể hiện phân bố giảm đối với đường kính và phân bố nhiều đỉnh đối với chiều cao [5]. Khi nghiên cứu kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở nước ta Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978) (Theo Phùng Ngọc Lan, 1986) [25] đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng như: tầng vượt tán (A1), tầng ưu thế sinh thái (A2), tầng dưới tán (A3), 12 tầng cây bụi (B) và tầng cỏ quyết (C). Thái Văn Trừng đã vận dụng và cải tiến, bổ sung phương pháp biểu đồ mặt cắt đứng của Davit - Risa để nghiên cứu cấu trúc rừng Việt Nam, trong đó tầng cây bụi và thảm tươi được vẽ phóng đại với tỷ lệ nhỏ hơn và có ghi ký hiệu thành phần loài cây của quần thể đối với những đặc trưng sinh thái và vật hậu cùng biểu đồ khí hậu, vị trí địa lý, địa hình.
Bên cạnh đó, tác giả còn dựa vào 4 tiêu chuẩn để phân chia kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam, đó là dạng sống ưu thế của những thực vật trong tầng cây lập quần, độ tàn che của tầng ưu thế sinh thái, hình thái sinh thái của nó và trạng mùa của tán lá. Với những quan điểm trên Thái Văn Trừng đã phân chia thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu. Như vậy, các nhân tố cấu trúc rừng được vận dụng triệt để trong phân loại rừng theo quan điểm sinh thái phát sinh quần thể. Trần Ngũ Phương (1970) [30] đã chỉ ra những đặc điểm cấu trúc của các thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam trên cơ sở kết quả điều tra tổng quát về tình hình rừng miền Bắc Việt Nam từ 1961 đến 1965.
Nhân tố cấu trúc đầu tiên được nghiên cứu là tổ thành và thông qua đó một số quy luật phát triển của các hệ sinh thái rừng được phát hiện và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất.