ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh TCM là bệnh truyền nhiễm lây từ ngƣời sang ngƣời, dễ gây thành dịch do vi rút đƣờng ruột gây ra, thƣờng gặp trẻ em < 5 tuổi. Trong đó có hai nhóm tác nhân gây bệnh thƣờng gặp là Coxsackievirus A16 (CA16) và Enterovirus 71 (EV71). Biểu hiện chính là tổn thƣơng da, niêm mạc dƣới dạng phỏng nƣớc ở các vị trí đặc biệt nhƣ niêm mạc miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, đầu gối. Bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm nhƣ viêm não-màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nếu không đƣợc phát hiện sớm và điều trị kịp thời [5].
Bệnh TCM đƣợc phát hiện ở hầu hết các nƣớc trên thế giới, đặc biệt ở Châu Á đã xảy ra các vụ dịch lớn với số mắc, số tử vong do bệnh TCM gia tăng và đang trở thành vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng. Tại Việt Nam, bệnh TCM đƣợc ghi nhận đầu tiên vào năm 2003 [38]. Từ những năm 2005-2010 số bệnh nhân có xu hƣớng gia tăng mạnh và gây tử vong ở nhiều tỉnh thành phố trên cả nƣớc. Từ 2011- 2016 bệnh TCM diễn biến phức tạp, tính đến tháng 9 năm 2016, thống kê từ 63 tỉnh cho biết đã có 29.134 trƣờng hợp mắc bệnh TCM [39].
Tại Đồng Tháp, số mắc cao duy trì từ 2011 đến 2016, chỉ tính riêng năm 2015 toàn tỉnh có 4009 ca mắc trong đó có 1 trƣờng hợp tử vong, trong đó huyện Cao Lãnh là một trong những địa phƣơng có số ca mắc đứng cao nhất so với 12 huyện thị thành trong tỉnh Đồng Tháp [18],[19]. Tại huyện Cao Lãnh, số ca mắc tăng nhanh. Năm 2015 có 900 ca mắc, 9 tháng đầu năm 2016 có 18/18 xã, thị trấn có báo cáo xuất hiện ca bệnh, với tổng số 490 trƣờng hợp mắc trẻ em dƣới 5 tuổi [20],[15]. Thống kê trên cho thấy đây là địa bàn lƣu hành dịch với diễn biến liên tục ở mức cao.
Do đó việc tìm hiểu đặc điểm ca bệnh TCM diễn ra tại đây rất cần thiết nhằm trả lời câu hỏi về đặc điểm các ca bệnh TCM trên địa bàn huyện Cao Lãnh giai đoạn 2013-2016 và những yếu tố có ảnh hƣởng đến việc mắc bệnh TCM của trẻ. Từ đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Đặc điểm và các yếu tố ảnh hƣởng đến bệnh TCM ở trẻ em huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2013-2016. 2 Cho đến nay trên địa bàn huyện Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp chƣa có nhiều nghiên cứu nào về mô tả đặc điểm ca bệnh tay chân miệng. Để góp phần vào công tác phòng chống tay chân miệng hiệu quả hơn, cũng nhƣ đƣa ra các chƣơng trình nâng cao sức khỏe phù hợp cho ngƣời dân nói chung ở nơi có tỷ lệ mắc cao/thấp, nguy cơ mắc cao/thấp trong công tác phòng chống tay chân miệng.
Vì thế chúng tôi nghiên cứu đề tài trên với mong muốn kết quả nghiên cứu sẽ giúp đƣa ra các khuyến nghị phù hợp giúp địa phƣơng xây dựng chƣơng trình can thiệp phù hợp, cũng nhƣ đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kiến thức, thực hành trong cộng đồng về phòng chống bệnh TCM. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả một số đặc điểm bệnh tay chân miệng ở trẻ em tại huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2013-2016. Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến mắc bệnh TCM ở trẻ em dƣới 5 tuổi tại huyện Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2013-2016.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa bệnh Tay chân miệng Bệnh TCM là một hội chứng bệnh truyền nhiễm ở ngƣời do vi rút đƣờng ruột của họ Picornaviridae gây ra. Trong đó có 2 nhóm tác nhân gây bệnh thƣờng gặp là Coxsackie virus A16 và Enterovirus 71 (EV71) [4]. Giới thiệu chung về bệnh Tay chân miệng.
Bệnh lây chủ yếu theo đƣờng tiêu hoá. Nguồn lây chính từ nƣớc bọt, phỏng nƣớc và phân của trẻ nhiễm bệnh. Bệnh TCM gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phƣơng. Tại các tỉnh phía Nam, bệnh có xu hƣớng tăng cao vào hai thời điểm từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm.
Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhƣng thƣờng gặp ở trẻ dƣới 5 tuổi, đặc biệt tập trung ở nhóm tuổi dƣới 3 tuổi. Các yếu tố sinh hoạt tập thể nhƣ trẻ đi học tại nhà trẻ, mẫu giáo, đến các nơi trẻ chơi tập trung là các yếu tố nguy cơ lây truyền bệnh, đặc biệt là trong các đợt bùng phát [4]. Triệu chứng lâm sàng: Ở giai đoạn ủ bệnh 3-7 ngày; giai đoạn khởi phát từ 1-2 ngày với các triệu chứng nhƣ sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, biếng ăn, tiêu chảy vài lần trong ngày. Và giai đoạn toàn phát có thể kéo dài 3-10 ngày với các triệu chứng điển hình của bệnh nhƣ loét miệng, vết loét đỏ hay phỏng nƣớc đƣờng kính 2-3 mm ở niêm mạc miệng, lợi, lƣỡi, gây đau miệng, bỏ ăn, bỏ bú, tăng tiết nƣớc bọt; phát ban dạng phỏng nƣớc ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông; tồn tại trong thời gian ngắn dƣới 7 ngày có thể để lại vết thâm, rất hiếm khi loét hay bội nhiễm, sốt nhẹ, nôn.
Nếu trẻ sốt cao và nôn nhiều dễ có nguy cơ biến chứng. Biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp thƣờng xuất hiện sớm từ ngày 2 đến ngày 5 của bệnh. Còn ở giai đoạn lui bệnh thƣờng từ 3-5 ngày sau, trẻ hồi phục hoàn toàn nếu không có biến chứng [5]. Phân độ và điều trị: Về phân độ lâm sàng bệnh TCM đƣợc phân độ thành độ 1, độ 2a, độ 2b, độ 3 và độ 4.
Còn về nguyên tắc điều trị, hiện nay chƣa có thuốc điều trị đặc hiệu, chỉ điều trị hỗ trợ (không dùng kháng sinh khi không có bội nhiễm). Theo dõi sát, phát hiện sớm, phân độ đúng và điều trị phù hợp. Đối với 5 trƣờng hợp nặng phải đảm bảo xử trí theo nguyên tắc hồi sức cấp cứu theo quy định. Bảo đảm dinh dƣỡng đầy đủ, nâng cao thể trạng [5].
Tác nhân gây bệnh: Bệnh TCM gây ra do nhóm vi rút đƣờng ruột. Các vi rút có khả năng gây bệnh TCM trong nhóm này gồm vi rút Coxsackies, Echo và các vi rút đƣờng ruột khác. Các vi rút đƣờng ruột týp 71 (EV71) và Coxsackies A16. Coxsackies A16 là một tác nhân gây bệnh thƣờng xuyên gặp phải trong các trƣờng hợp TCM và biểu hiện lâm sàng thƣờng nhẹ và có thể hoàn toàn hồi phục.
Trƣờng hợp tử vong của nhiễm trùng CA16 là rất hiếm. Vi rút EV71 có thể gây ra biến chứng nặng và dẫn đến tử vong. Các vi rút đƣờng ruột khác thƣờng gây bệnh nhẹ [4]. Đường lây truyền: Bệnh lây truyền qua đƣờng tiêu hóa; thức ăn, nƣớc uống, bàn tay của trẻ hoặc ngƣời chăm sóc trẻ, các đồ dùng, đặc biệt là đồ chơi và vật dụng sinh hoạt hằng ngày nhƣ chén, bát, đĩa, thìa, cốc bị nhiễm vi rút từ phân hoặc dịch nốt phòng, vết loét hoặc dịch tiết đƣờng hô hấp, nƣớc bọt.
Ngoài ra, bệnh cũng có thể lây truyền do tiếp xúc trực tiếp ngƣời - ngƣời qua các dịch tiết đƣờng hô hấp, hạt nƣớc bọt, một số yếu tố có thể làm gia tăng sự lây truyền và bùng phát dịch nhƣ mật độ dân số cao, sống chật chội, điều kiện vệ sinh kém, thiếu nhà vệ sinh, thiếu hoặc không có nƣớc sạch phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày [4]. Ổ dịch: Một nơi (thôn/ấp/bản/tổ dân phố/cụm dân cƣ/đơn vị) đƣợc gọi là ổ dịch khi ghi nhận từ 02 trƣờng hợp bệnh (lâm sàng hoặc xác định) trở lên khởi phát trong vòng 7 ngày có liên quan dịch tễ với nhau. Ổ dịch đƣợc xác định là kết thúc khi sau 14 ngày không ghi nhận trƣờng hợp mắc mới kể từ ngày khởi phát của trƣờng hợp mắc bệnh cuối cùng [4]. Thực trạng mắc bệnh TCM trên thế giới và ở Việt Nam Tình hình mắc bệnh TCM trên thế giới Năm 1969 lần đầu tiên ngƣời ta phát hiện bệnh tay chân miệng mà tác nhân là Enterovirus 71 (EV71) trên trẻ bị viêm não ở California, Hoa kỳ.
Tiếp theo trong những năm 1972, 1973, 1975 và 1978 bệnh TCM cũng đƣợc phát hiện tại Mỹ, Úc, Thụy Điển, Nhật Bản, Bungrari và Hungragi. Vào năm 1985, 1987 và 1988 bệnh tay chân miệng đƣợc phát hiện tại Hồng Kông, Trung Quốc, Singapore và Braxin. 6 Trong các năm 1990, 1997, 1998 bệnh tay chân miệng đƣợc phát hiện tại Malaysia, Nhật bản, Canada, Đài loan, Singrapore, Úc đến năm 2000, 2001, 2003-2009 bệnh tay chân miệng đƣợc phát hiện tại Đài Loan, Malaysia, Úc, Trung Quốc và Việt Nam [2]. Bệnh TCM do EV71 phân bố khá phổ biến trên thế giới, bệnh thƣờng xảy ra ở các nƣớc nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Kể từ khi ca bệnh đƣợc xác định là do EV71 gây ra đƣợc phát hiện vào năm 1969 tại bang California, Mỹ bệnh đã phát tán rộng khắp thế giới và không ngừng biến thể thành nhiều chủng khác nhau [9]. Cho đến những năm cuối thập niên 90 bệnh bắt đầu xuất hiện tại Hồng Kông, Trung Quốc, Singepore và Braxin [9]. Theo báo cáo của WHO có văn phòng tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dƣơng, vào những năm cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 thì bệnh bắt đầu xuất hiện và lƣu hành nhiều ở khu vực này. Trong đó, Trung Quốc là quốc gia có số ca mắc TCM nhiều nhất [38].
Dịch tay chân miệng xảy ra ở Nhật Bản với hơn 30.000 ca mắc, năm 1978 dịch tay chân miệng với 1.550 ca mắc, năm 1998 dịch tay chân miệng ở Đài Loan 130.000 ca mắc, 405 ca nặng và hơn 80 ca tử vong. Năm 1999 tại Úc xảy ra dịch tay chân miệng với hơn 6000 ca mắc, Năm 2008 tại Trung Quốc xảy ra dịch tay chân miệng với hơn 25.000 ca mắc, 26 ca tử vong. Năm 2009 báo cáo đến 30/11/2009 theo báo cáo của Trung tâm dịch bệnh Hoa Kỳ - Trung Quốc, dịch lớn về tay chân miệng xảy ra nhiều tỉnh, khu vực thuộc Trung Hoa Đại lục với khoảng 1.525 ca mắc và hơn 400 ca tử vong [22]. Theo nghiên cứu Tzou-Yien Lin và cộng sự, EV 71 đã gây ra một vụ dịch lớn tay chân miệng ở Đài Loan năm 1998 với 129.106 trƣờng hợp mắc và 78 trƣờng hợp tử vong, 91% trƣờng hợp tử vong dƣới 5 tuổi hầu hết các trƣờng hợp tử vong 1- 2 ngày sau khi nhập viện trong đó có 70% trƣờng hợp nặng có viêm não [22].
Tại Trung Quốc, trƣờng hợp nhiễm bệnh TCM đƣợc phát hiện đầu tiên vào năm 1981 tại Thƣợng Hải. Sau đó dịch đã lan sang các tỉnh thành khác nhƣ Bắc Kinh, Quảng Đông. Trong năm 2016, tính đến thời điểm tháng 8, Trung Quốc đã ghi nhận 1.251 trƣờng hợp mắc TCM trong đó có 172 trƣờng hợp tử vong [39].