CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Họ Reduviidae có khoảng 7000 loài, thuộc 29 phân họ (Weirauch, [89] 2008). Chúng là một trong những nhóm côn trùng lớn thứ ba của bộ Hemiptera sau (Cicadellidae and Miridae) và phân bố trên toàn thế giới nhưng sự đa dạng loài cao nhất ở khu vực nhiệt đới, thế giới cũ và thế giới mới (Maldonado 1990)[54]. Chúng có mặt trong tất cả các hệ sinh thái trên cạn từ sa mạc đến rừng nhiệt đới và ngay cả các khu vực gần con người.
Nhiều loài trong số chúng đóng vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn của động, thực vật, cũng như sự cân bằng sinh thái và là thiên địch của nhiều loài sâu hại nguy hiểm hoặc có vai trò chỉ thị cho các sinh cảnh rừng. Hơn nữa, nhiều loài thuộc phân họ bọ xít hút máu Triatominae (họ Reduviidae) lại có vai trò dịch tễ và là các véc tơ truyền bệnh nguy hiểm cho người và gia súc (Ambrose, 1999; Lent & Wygodzinsky, 1979)[18],[49]. Việt Nam được biết đến với nhiều phát hiện khoa học mới cho các nghiên cứu về các loài bọ xít bắt mồi thuộc họ Reduviidae trong vùng Đông Phương - Ấn Độ (Randall & James, 1995)[63]. Những năm gần đây do nạn phá rừng và sự khai thác quá mức vào tài nguyên rừng của người dân ở khu vực Tây Nguyên, nhiều sinh cảnh rừng tự nhiên ở đây đã bị suy giảm và tàn phá nghiêm trọng, đất rừng chuyển thành đất trồng cây công nghiệp gia tăng ở vùng đệm và đang có xu thế tăng nhanh trong vùng chính của các khu bảo tồn.
Ở hệ sinh thái tự nhiên, do áp lực của sự tăng nhanh dân số, sự mở rộng đất trồng cây công nghiệp (hồ tiêu, cà phê, điều,.) và việc sử dụng các hóa chất trên trên các sinh cảnh trồng cây công nghiệp đã làm tăng dư lượng độc hại và các hóa chất chưa phân hủy trong hệ sinh thái. Dưới các tác động bất lợi kể trên, thành phần và số lượng cá thể của các loài bọ xít bắt mồi thuộc họ bọ xít bắt mồi Reduviidae đã bị suy giảm nghiêm trọng, mà các loài này đa phần là thiên địch của các loài côn trùng nhỏ trong đó có các loài sâu hại (ngoài trừ một số loài thuộc phân họ Triatominae sống nhờ máu của các loài động vật có xương sống, trong đó có cả con người). Việc các sinh cảnh rừng bị suy giảm và bị tàn phá, tình trạng sử dụng các hóa chất trong nông nghiệp không ngừng gia tăng đã làm cho nhiều loài bọ xít bắt mồi thuộc họ Reduviidae bị biến mất hoặc bị tiêu diệt, nhiều loài trước đây đã được ghi nhận nhưng giờ khó có thể tìm thấy, nhiều loài có phân bố phổ biến thì nay rất hiếm gặp. Đặc biệt là khả năng đấu tranh sinh học sâu hại trên các cây trồng và 4 vai trò làm chỉ thị cho các sinh cảnh rừng của các loài bọ xít này dần dần bị biến mất cùng với sự biến mất của các sinh cảnh rừng tự nhiên.
Chính vì vậy đề tài được thực hiện, nhằm đưa ra dẫn liệu về mức độ đa dạng và vai trò của các loài bọ xít bắt mồi làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo trong việc đánh giá chất lượng môi trường và sử dụng chúng để thực hiện các biện pháp đấu tranh sinh học bảo vệ cây trồng tại khu vực Tây Nguyên. Khái quát về điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu Tây Nguyên là vùng cao nguyên, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, phía nam giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, phía tây giáp với các tỉnh Attapeu (Lào) và Ratanakiri và Mondulkiri (Campuchia). Trong khi Kon Tum có biên giới phía tây giáp với cả Lào và Campuchia, thì Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông chỉ có chung đường biên giới với Campuchia, còn Lâm Đồng không có đường biên giới quốc tế. Tây Nguyên không phải là một cao nguyên duy nhất mà là một loạt cao nguyên liền kề.
Đó là các cao nguyên Kon Tum cao khoảng 500m, cao nguyên Kon Plông, cao nguyên Kon Hà Nừng, Plâyku cao khoảng 800m, cao nguyên M'Drăk cao khoảng 500m, cao nguyên Buôn Ma Thuột cao khoảng 500m, Mơ Nông cao khoảng 800-1000m, cao nguyên Lâm Viên cao khoảng 1500m và cao nguyên Di Linh cao khoảng 900-1000m. Tất cả các cao nguyên này đều được bao bọc về phía Đông bởi những dãy núi và khối núi cao (chính là Trường Sơn Nam). Tây Nguyên lại có thể chia thành ba tiểu vùng địa hình đồng thời là ba tiểu vùng khí hậu, gồm Bắc Tây Nguyên tương ứng với các tỉnh Kon Tum và Gia Lai, trước là một tỉnh, Trung Tây Nguyên tương ứng với các tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông, Nam Tây Nguyên tương ứng với tỉnh Lâm Đồng. Trung Tây Nguyên có độ cao thấp hơn và nền nhiệt độ cao hơn hai tiểu vùng phía Bắc và Nam.
Tây Nguyên chịu ảnh hưởng của khí hậu cận xích đạo, nhiệt độ trung bình năm khoảng 20oC, điều hoà quanh năm, biên độ nhiệt ngày và đêm chênh lệch cao trên 5,5oC. Và có hai mùa rõ rệt mùa khô và mùa mưa. Mùa khô nóng hạn, thiếu nước trầm trọng, mùa mưa nóng ẩm, tập trung 85-90% lượng mưa của cả năm. 5 Tây Nguyên là một trong những vùng có tính đa dạng sinh học rất cao của Việt Nam.
Rừng Tây Nguyên giàu về trữ lượng, đa dạng về chủng loại. Trữ lượng rừng gỗ chiếm tới 45% tổng trữ lượng rừng gỗ của cả nước. Diện tích rừng Tây Nguyên là 3.015,5 nghìn ha chiếm 35,7% diện tích rừng cả nước. Các cây dược liệu quý được tìm thấy ở đây như sâm bổ chỉnh, sa nhân, địa liền, thiên niên kiện, hà thủ ô trắng, sâm ngọc linh,.
và các cây thuốc quý có thể trồng được ở đây như atisô, bạch truật, tô mộc, xuyên khung,. Hệ động vật hoang dã cũng rất phong phú có giá trị cả về kinh tế và khoa học. Có tới 32 loài động vật quí hiếm như voi, bò tót, trâu rừng, hổ, gấu, công, gà lôi,. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1.
Tình hình nghiên cứu bọ xít bắt mồi trên thế giới 1.Sơ lược về họ bọ xít bắt mồi (họ Reduviidae) Họ bọ xít bắt mồi Reduviidae là một trong những họ lớn của bọ cánh khác Heteroptera, tổng bộ Rhynchota, của lớp côn trùng Insecta. Về mặt phân loại, họ bọ xít bắt mồi được chia thành 32 phân họ (Maldonado, 1990)[54], tuy nhiên theo một số tác giả khác thì họ này chỉ chia thành từ 21-28 phân họ. Ở Việt Nam họ Reduviidae có 10 phân họ bao gồm: Ectrichodinae, Emesinae, Harpactorinae, Peiratinae, Reduviinae, Saicinae, Salyavatinae, Stenopodainae, Triatominae và Centrocneminae. Vị trí họ bọ xít bắt mồi Reduviidae trong bộ cánh khác Heteroptera 6 Từ những hiểu biết về các đặc điểm hình thái chủ yếu dùng trong nghiên cứu phân loại các loài bọ xít bắt mồi thuộc họ Reduviidae, những nghiên cứu về sự đa dạng về cấu trúc hình thái của chúng đã được chúng tôi dựa trên cơ cở phân tích sự đa dạng của 4 đặc điểm hình thái của vòi, mảnh lưng đốt ngực trước, phần đệm ở đốt ống chân và cánh.
Vòi của các loài bọ xít bắt mồi thuộc họ Reduviidae thường có 4 dạng chính, đó là: Thẳng, hơi cong, cong và rất cong. Phân tích các loài và dạng loài cho thấy phần lớn các loài bọ xít bắt mồi có vòi hơi cong (43%), tiếp theo là vòi cong (41%), sau cùng là các loài có vòi rất cong (15%) và chiếm tỷ lệ ít nhất là các loài có vòi thẳng (4%). Hơn nữa, trong 6 phân họ thu được tại Tây Bắc (Ectrichodinae, Harpactorinae, Peiratinae, Saicinae, Salyavatinae, Stenopodainae) phân tích hình thái vòi còn cho thấy: tại vùng Tây Bắc các loài thuộc họ bọ xít bắt mồi Reduviidae có hình thái vòi rất cong chỉ tập trung ở 2 phân họ Peiratinae và Ectrichodinae, trong đó Peiratinae chiếm 89% và Ectrichodinae chiếm 11%, 4 phân họ còn lại không phát hiện thấy hình thái vòi rất cong. Hình thái vòi cong tập trung ở 3 phân họ Harpactorinae, Stenopodainae và Ectrichodinae trong đó Stenopodainae chiếm 57%, Harpactorinae chiếm 26% và Ectrichodinae chiếm 17%.
Hình thái vòi hơi cong tập trung ở 3 phân họ Harpactorinae, Saicinae và Salyavatinae trong đó Harpactorinae chiếm 88%, Saicinae chiếm 4% và Salyavatinae chiếm 8%. Cuối cùng là hình thái vòi thẳng, qua điều tra ở Tây Bắc chúng tôi chỉ phát hiện các loài thuộc phân họ Harpactorinae có hình thái vòi dạng này. Pronotum (mảnh lưng đốt ngực trước) của các loài bọ xít bắt mồi thuộc họ Reduviidae thường có 2 dạng chính: dạng có gai và dạng không có gai. Phân tích các loài và dạng loài thu được tại điểm nghiên cứu nhận thấy số lượng các loài bọ xít bắt mồi không có gai ở Pronotum chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 70% so với 30% là có gai.
Trong đó các loài có hình thái Pronotum không gai tập trung chủ yếu ở phân họ Harpactorinae (chiếm 44%). Các loài thuộc 2 phân họ là Saicinae và Salyavatinae đều là các loài có hình thái Pronotum có gai ngược lại với các loài thuộc phân họ Ectrichodinae và Peiratinae đều là các loài có hình thái không gai ở Pronotum. Phần đệm của đốt ống chân (Tibial pad) của các loài bọ xít bắt mồi thường có 2 dạng đó là có đệm và không có đệm. Phân tích cho thấy 75% các loài thuộc họ bọ xít bắt mồi này đốt ống chân trước và giữa không có đệm so với 25% là có đệm.
Các loài đốt ống chân trước và giữa có đệm đều thuộc phân họ Ectrichodinae và Peiratinae. Phần cánh (Wing) của các loài bọ xít bắt mồi thuộc họ Reduviidae thường rất đa dạng và thường có các dạng là: có cánh thông thường, có cánh ngắn, có cánh nhỏ và không có cánh. Phân tích và quan 7 sát cánh nhận thấy các loài bọ xít bắt mồi này có cánh là chiếm trội hơn chiếm 96% so với các loài có cánh ngắn và có cánh nhỏ chiểm tỷ lệ 4% (Trương Xuân Lam, 2011)[8]. Đốt cơ sở của vòi 15.
Tấm bên môi (jugum) 9. Tấm lưng ngực trước (Pronotum) 16. Đốt cơ sở đốt râu 10. Tấm mai lưng (Scutellum) 17.
Chùy trước 4. Tấm đệm cánh trước (clavus) 18. Tấm cứng cánh trước (corium) 19.Đốt râu thứ nhất 6.Bờ biên bụng 7.Sinh dục con cái 22. Sinh dục con đực Hình 1.2: Một số đặc diểm hình thái của các loài bọ xít họ Reduviidae (Loài Astimus intermedius, Miller, 1954) 8 1.
Tình hình nghiên cứu về thành phần loài bọ xít bắt mồi (họ Reduviidae) Các nghiên cứu phân loại và phát sinh loài thuộc họ Reduviidae trong suốt 2,5 thế kỷ qua, việc phân loại họ Reduviidae vẫn chưa được giải quyết và rất nhiều taxa ở cấp giống, loài đang cần sửa đổi hệ thống phân loại hiện đại.