Tổng quan nghiên cứu

Nguồn tài nguyên cây thuốc tự nhiên tại Việt Nam đóng vai trò then chốt trong hệ sinh thái và y học cổ truyền với 5.117 loài thực vật và nấm lớn có công dụng làm thuốc đã được ghi nhận. Trong số đó, gần 90% nguồn nguyên liệu có nguồn gốc thu hái hoang dại từ các hệ sinh thái rừng tự nhiên. Tuy nhiên, tình trạng khai thác quá mức cùng sự suy giảm sinh cảnh do chuyển đổi mục đích sử dụng đất đang đe dọa nghiêm trọng đến tính đa dạng sinh học của nhiều loài dược liệu quý.

Xã Trung Thành, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình sở hữu diện tích tự nhiên 3.002,06 ha, trong đó đất quy hoạch cho lâm nghiệp chiếm tới 2.738,24 ha. Địa hình khu vực mang tính chia cắt mạnh với độ dốc trung bình trên 30 độ và độ cao dao động từ 200 m đến 1.280 m tại đỉnh Pu To. Dân cư địa phương gồm 495 hộ gia đình với 1.859 nhân khẩu, trong đó dân tộc Tày chiếm 98%, dân tộc Mường và Kinh chiếm 2,0%. Đời sống của người dân còn nhiều khó khăn khi thu nhập bình quân chỉ đạt khoảng 18,0 triệu đồng/người/năm và mức lương thực bình quân đạt 67,2 kg/người/năm.

Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường tập trung giải quyết bài toán mâu thuẫn giữa khai thác kinh tế và bảo tồn tài nguyên sinh vật. Mục tiêu cụ thể là thống kê, phân loại thành phần loài cây thuốc, xác định đặc điểm phân bố sinh cảnh và phân tích tập quán sử dụng của cộng đồng bản địa. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại các quần hệ rừng thuộc 5 xóm gồm Bay, Búa, Hạ, Sổ, Trung Tằm và Trung Thượng trong mốc thời gian từ tháng 6/2020 đến tháng 10/2020. Nghiên cứu mang lại ý nghĩa quan trọng trong việc thiết lập dữ liệu khoa học nền tảng, hỗ trợ quy hoạch vùng dược liệu bền vững và nâng cao sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng lòng hồ sông Đà.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết sinh thái học quần xã, lý thuyết bảo tồn đa dạng sinh học và mô hình quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng. Bên cạnh đó, phương pháp tiếp cận dân tộc thực vật học được vận dụng nhằm liên kết tri thức bản địa với phân loại học hiện đại. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, khoảng 80% dân số toàn cầu tại các quốc gia đang phát triển vẫn phụ thuộc vào y học cổ truyền để chăm sóc sức khỏe ban đầu, tạo nên thị trường thảo dược có quy mô hàng chục tỷ USD.

Hệ thống khái niệm cốt lõi trong luận văn bao gồm: đa dạng sinh học thực vật bậc cao có mạch, tài nguyên cây thuốc, lâm sản ngoài gỗ và tiêu chuẩn Thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc theo khuyến cáo quốc tế. Cơ sở pháp lý của đề tài gắn liền với các định hướng chiến lược quốc gia như Chỉ thị số 24-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về phát triển nền Đông y Việt Nam, Quyết định số 1976/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, cùng các khung quy định về bảo vệ loài nguy cấp theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP.

Phương pháp nghiên cứu

Cỡ mẫu nghiên cứu thực địa bao gồm 10 hộ gia đình có kinh nghiệm gia truyền lâu năm về thu hái và sử dụng cây thuốc (các lương y, thầy lang bản địa) kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ quản lý lâm nghiệp và chính quyền cấp xã. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp điều tra ngẫu nhiên phân tầng được lựa chọn nhằm thu thập tối đa tri thức dân gian đặc thù của 3 cộng đồng dân tộc sinh sống trên địa bàn.

Quy trình nghiên cứu ngoại nghiệp được triển khai dọc theo 3 tuyến điều tra trọng điểm đại diện cho các trạng thái rừng: Tuyến số 1 từ xóm Trung Thượng đến xóm Trung Tằm; Tuyến số 2 từ xóm Trung Tằm sang xóm Hạ; Tuyến số 3 từ xóm Hạ qua xóm Búa và quay về Trung Thượng. Nhóm nghiên cứu thiết lập các ô tiêu chuẩn định lượng diện tích 100 m2 (kích thước 10 m x 10 m) để điều tra tầng cây gỗ cao (đo đường kính thân tại vị trí 1,3 m và chiều cao vút ngọn), tầng cây tái sinh và tầng cây bụi thảm tươi. Không gian nghiên cứu được chia làm 2 đai cao gồm đai 1 từ 200 m đến 700 m và đai 2 từ trên 700 m đến 1.200 m.

Phương pháp phân tích nội nghiệp sử dụng kỹ thuật so sánh hình thái học, tra cứu các bộ tài liệu chuyên khảo thực vật học Việt Nam và hệ thống hóa ma trận thống kê theo họ, chi, loài. Việc lựa chọn phương pháp này giúp bảo đảm độ tin cậy khoa học cao trong việc định danh mẫu vật, đồng thời phản ánh khách quan mức độ phân bố theo độ cao và sinh cảnh thực tế trong toàn bộ timeline nghiên cứu từ tháng 6/2020 đến tháng 10/2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực địa đã ghi nhận tổng cộng 476 loài cây thuốc, thuộc 336 chi và 125 họ nằm trong 5 ngành thực vật bậc cao có mạch tại xã Trung Thành. Ngành Mộc lan chiếm vị trí vượt trội tuyệt đối với 106 họ (chiếm 84,80%), 309 chi (chiếm 91,96%) và 441 loài (chiếm 92,65%). Trong đó, lớp Ngọc lan chiếm ưu thế với 382 loài (86,62%), còn lại lớp Hành có 59 loài (13,38%). Ngành Dương xỉ đứng thứ hai với 14 họ (11,20%) và 28 loài (5,88%). Các ngành Thông, Thông đất và Quyết trần chiếm tỷ lệ rất nhỏ, dao động từ 0,21% đến 0,84% tổng số loài.

+-------------------------------------------------------------------------+
|                  CƠ CẤU ĐA DẠNG BẬC NGÀNH THỰC VẬT LÀM THUỐC            |
+--------------------------+----------+----------+----------+-------------+
| Ngành thực vật           | Số họ    | Số chi   | Số loài  | Tỷ lệ loài  |
+--------------------------+----------+----------+----------+-------------+
| Mộc lan (Magnoliophyta)  | 106      | 309      | 441      | 92,65%      |
| Dương xỉ (Polypodiophyta)| 14       | 21       | 28       | 5,88%       |
| Thông (Pinophyta)        | 3        | 4        | 4        | 0,84%       |
| Thông đất (Lycopodiophyta| 1        | 1        | 2        | 0,42%       |
| Quyết trần (Psilotophyta)| 1        | 1        | 1        | 0,21%       |
+--------------------------+----------+----------+----------+-------------+

Về mức độ tập trung phân loại, có 10 họ thực vật chiếm tới 38,0% tổng số loài cây thuốc toàn khu vực. Họ Thầu dầu dẫn đầu danh sách với 37 loài (chiếm 7,77%), tiếp theo là họ Cúc với 29 loài (chiếm 6,09%), họ Đậu và họ Vang cùng đạt 16 loài (3,36%). Ở bậc chi, chi Ficus (họ Dâu tằm) có số lượng lớn nhất với 10 loài (chiếm 2,10%), tiếp sau là chi Polygonum với 6 loài (1,26%).

Về bộ phận sử dụng, đồng bào địa phương thu hái phong phú nhiều bộ phận: lá cây được dùng nhiều nhất với 208 loài (chiếm 26,36%), thân cây với 180 loài (chiếm 22,81%), toàn thân có 99 loài (chiếm 12,55%), rễ và vỏ rễ đạt 68 loài (chiếm 8,62%), hoa đạt 61 loài (chiếm 7,73%), trong khi ngọn cây chỉ có 5 loài (0,63%). Thống kê cho thấy 68,69% số loài chỉ khai thác 1 bộ phận duy nhất, 16,35% khai thác 2 bộ phận và 12,55% sử dụng toàn bộ cây.

Về công dụng chữa bệnh, cây thuốc phục vụ điều trị 17 nhóm bệnh tật khác nhau. Nhóm trị bệnh ngoài da chiếm 66 loài (13,87%), nhóm hô hấp đạt 60 loài (12,61%), bệnh về thận chiếm 35 loài (7,35%), bệnh đường tiêu hóa có 26 loài (5,46%), trong khi các nhóm bệnh thần kinh, ung thư, huyết áp chỉ chiếm dưới 1% mỗi nhóm.

Nghiên cứu đã xác định được 22 loài cây thuốc thuộc nhóm nguy cấp, quý hiếm có giá trị bảo tồn cao. Cụ thể có 19 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 (gồm 8 loài ở cấp Nguy cấp - EN như Lan kim tuyến, Kiều hoa đất, Trầm hương, Biến hóa núi cao, Sến mật; 11 loài ở cấp Sẽ nguy cấp - VU như Đẳng sâm, Lá khôi, Trám đen, Tắc kè đá, Cát sâm). Đồng thời, có 7 loài thuộc Danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP (gồm 2 loài nhóm IA là Kiều hoa đất, Lan kim tuyến và 5 loài nhóm IIA như Hoàng đằng, Củ dòm, Bình vôi, Thanh thiên quỳ, Lan hài đốm).

+-------------------------------------------------------------------------+
|        MỘT SỐ LOÀI CÂY THUỐC NGUY CẤP, QUÝ HIẾM TIÊU BIỂU TẠI ĐỊA BÀN   |
+-------------------+----------------------------+----------+-------------+
| Tên tiếng Việt    | Tên khoa học               | SĐVN 2007| NĐ 06/2019  |
+-------------------+----------------------------+----------+-------------+
| Kiều hoa đất      | Anoectochilus roxburghii   | EN       | Nhóm IA     |
| Lan kim tuyến     | Anoectochilus setaceus     | EN       | Nhóm IA     |
| Trầm hương        | Aquilaria crassna          | EN       | Chưa phân hạng|
| Biến hóa núi cao  | Asarum balansa             | EN       | Chưa phân hạng|
| Hoàng đằng        | Fibraurea tinctoria        | Chưa phân| Nhóm IIA    |
| Củ dòm            | Stephania dielsina         | VU       | Nhóm IIA    |
| Bình vôi          | Stephania rotunda          | Chưa phân| Nhóm IIA    |
| Đẳng sâm          | Codonopsis javanica        | VU       | Chưa phân hạng|
+-------------------+----------------------------+----------+-------------+

Về sinh cảnh sống, cây thuốc tập trung nhiều nhất ở sinh cảnh rừng thứ sinh với 348 loài (chiếm 34,49%), trảng cây bụi có 218 loài (chiếm 21,61%), rừng nguyên sinh núi cao có 177 loài (chiếm 17,54%), ven đường đi có 145 loài (chiếm 14,37%) và vườn nhà có 50 loài (chiếm 4,96%). Theo đai cao, đai 200 - 700 m có mật độ phân bố đa dạng nhất ở các trạng thái rừng phục hồi và rừng trung bình, trong khi các loài quý hiếm như Lan kim tuyến, Thanh thiên quỳ chỉ xuất hiện ở đai trên 700 m.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh mức độ phong phú cao về thành phần thực vật làm thuốc tại vùng núi đá vôi kết hợp núi đất của tỉnh Hòa Bình. Việc trình bày dữ liệu thông qua các ma trận bảng biểu đối chiếu giữa bộ phận sử dụng và trạng thái phân bố giúp làm rõ tác động sinh thái học của hoạt động khai thác.

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng suy giảm của 22 loài quý hiếm xuất phát từ việc thu hái theo phương thức tận diệt (chiếm hơn 21% các trường hợp khai thác rễ, củ và toàn cây) khiến cây mất khả năng tái sinh tự nhiên. Bên cạnh đó, tình trạng tư thương và thương lái tự do thu mua nguyên liệu thô với khối lượng lớn đã thúc đẩy người dân vào rừng tìm kiếm thiếu kiểm soát. Khi so sánh với các báo cáo tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh gần kề, số lượng loài cây thuốc tại xã Trung Thành có sự tương đồng lớn về cấu trúc họ ưu thế (Thầu dầu, Cúc, Đậu), nhưng nguồn tài nguyên tại Trung Thành chịu sức ép nhân sinh cao hơn do 1.976,90 ha đất rừng đã được giao khoán cho hộ gia đình quản lý.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm quản lý và khai thác bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc tại xã Trung Thành, 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và chính sách xã hội trọng tâm cần được triển khai:

  1. Bảo tồn nguyên vị (In-situ) các quần thể nguy cấp: Khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt 549,04 ha diện tích đất có rừng tự nhiên, đặc biệt là đai cao trên 700 m tại đỉnh Pu To. Mục tiêu duy trì và phục hồi mật độ của 22 loài cây thuốc quý hiếm trong Sách Đỏ Việt Nam như Lan kim tuyến, Trầm hương, Biến hóa núi cao. Hạt Kiểm lâm huyện Đà Bắc phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Trung Thành tổ chức tuần tra định kỳ hàng tháng trong giai đoạn 2021 - 2025.
  2. Xây dựng mô hình trồng trọt bán tự nhiên (Ex-situ) theo tiêu chuẩn GACP-WHO: Phát triển 2 mô hình trồng thử nghiệm dưới tán rừng tự nhiên và vườn hộ gia đình với quy mô 5 đến 10 ha đối với các loài cây thuốc có giá trị thương phẩm cao như Cát sâm, Lá khôi, Đẳng sâm và Ba gạc. Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp huyện Đà Bắc chủ trì chuyển giao kỹ thuật nhân giống vô tính và gieo ươm hạt cho 50 hộ dân tham gia từ năm 2022 đến 2025.
  3. Thành lập tổ hợp tác liên kết sản xuất và tiêu thụ dược liệu: Xây dựng tổ hợp tác gắn kết 100% các hộ thu hái tại 5 xóm với các doanh nghiệp dược phẩm, áp dụng hợp đồng bao tiêu sản phẩm sơ chế. Ban Quản lý rừng phòng hộ và Phòng Kinh tế - Hạ tầng huyện Đà Bắc triển khai nhằm giảm thiểu tình trạng bán dược liệu thô bị ép giá, phấn đấu nâng thu nhập bình quân từ dược liệu lên 25 - 30 triệu đồng/người/năm vào năm 2030.
  4. Tập huấn nâng cao năng lực và chuẩn hóa tri thức bản địa: Tổ chức 6 lớp tập huấn chuyên sâu về kỹ thuật thu hái bền vững (không khai thác trắng rễ non, giữ lại cây mẹ tái sinh) cho 300 lượt đồng bào dân tộc Tày và Mường. Ủy ban nhân dân xã Trung Thành kết hợp cùng Hội Đông y tỉnh Hòa Bình số hóa 157 bài thuốc dân gian lưu truyền trong cộng đồng trước năm 2024.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị ứng dụng và học thuật đa chiều cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Ủy ban nhân dân huyện Đà Bắc, Chi cục Kiểm lâm và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hòa Bình sử dụng cơ sở dữ liệu 476 loài để xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế lâm nghiệp và phân bổ hạn ngạch giao khoán 1.976,90 ha rừng hộ gia đình hiệu quả.
  2. Doanh nghiệp và hợp tác xã dược liệu: Các đơn vị sản xuất đông dược, chế biến thảo dược tìm thấy tài liệu định hướng vùng nguyên liệu đạt chuẩn tại Tây Bắc, từ đó xây dựng kế hoạch bao tiêu và phát triển các chuỗi giá trị đối với 22 loài dược liệu quý.
  3. Các nhà khoa học, giảng viên và viện nghiên cứu: Các chuyên gia ngành Thực vật học, Lâm học và Tài nguyên Môi trường khai thác tư liệu thực địa phong phú về hệ thống phân loại học, cấu trúc tầng tán và mối tương quan phân bố theo 2 đai cao phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu.
  4. Học viên sau đại học và sinh viên chuyên ngành Quản lý Tài nguyên: Công trình cung cấp bài học kinh nghiệm điển hình về việc tích hợp phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn định lượng với điều tra xã hội học dân tộc thực vật học trong đánh giá tài nguyên rừng vùng cao.

Câu hỏi thường gặp

Đề tài nghiên cứu đã ghi nhận được bao nhiêu loài thực vật có công dụng làm thuốc tại xã Trung Thành?
Nghiên cứu đã ghi nhận 476 loài cây thuốc thuộc 336 chi và 125 họ thuộc 5 ngành thực vật bậc cao có mạch. Trong đó ngành Mộc lan chiếm tỷ lệ áp đảo với 441 loài, chiếm 92,65% tổng thành phần loài được điều tra.

Có bao nhiêu loài cây thuốc quý hiếm cần ưu tiên bảo tồn tại khu vực?
Tại khu vực nghiên cứu có 22 loài nguy cấp, quý hiếm. Trong đó, 19 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 (8 loài cấp EN, 11 loài cấp VU) và 7 loài thuộc Danh mục thực vật rừng nguy cấp theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP như Kiều hoa đất, Lan kim tuyến, Củ dòm, Hoàng đằng.

Bộ phận nào của cây thuốc được người dân địa phương thu hái nhiều nhất?
Lá cây là bộ phận được sử dụng nhiều nhất với 208 loài (chiếm 26,36%), tiếp sau là thân cây với 180 loài (chiếm 22,81%). Tỷ lệ cây thuốc được sử dụng 1 bộ phận duy nhất chiếm đa số với mức 68,69% tổng số loài khảo sát.

Phạm vi và thời gian khảo sát thực địa của luận văn được tiến hành như thế nào?
Ngoại nghiệp được triển khai tại các khu vực rừng thuộc 5 xóm gồm Bay, Búa, Hạ, Sổ, Trung Tằm và Trung Thượng thuộc xã Trung Thành, huyện Đà Bắc trong khoảng thời gian 5 tháng, bắt đầu từ tháng 6/2020 đến tháng 10/2020.

Nghiên cứu đã sử dụng cỡ mẫu và công cụ thực địa nào để bảo đảm tính chuẩn xác?
Đề tài sử dụng 3 tuyến điều tra thực địa liên xóm, thiết lập các ô tiêu chuẩn diện tích 100 m2 để đo đếm định lượng cấu trúc tầng thứ lâm phần và phỏng vấn sâu 10 hộ gia đình có chuyên môn thu hái thuốc dân gian lâu đời của đồng bào Tày.

Kết luận

  1. Công trình đã hệ thống hóa danh lục gồm 476 loài cây thuốc thuộc 336 chi, 125 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch tại xã Trung Thành, huyện Đà Bắc.
  2. Xác định cấu trúc đa dạng nghiêng hẳn về ngành Mộc lan (chiếm 92,65%) cùng sự ưu thế của 10 họ giàu loài nhất, đứng đầu là họ Thầu dầu (37 loài) và họ Cúc (29 loài).
  3. Đánh giá được mức độ đe dọa thực tế đối với 22 loài cây thuốc nguy cấp quý hiếm theo Sách Đỏ Việt Nam và Nghị định số 06/2019/NĐ-CP phân bố tại 2 đai cao.
  4. Làm rõ đặc trưng tri thức bản địa của cộng đồng dân tộc Tày (chiếm 98% dân số) trong việc ứng dụng các bộ phận lá và thân cây để chữa trị 17 nhóm bệnh khác nhau.
  5. Đóng góp hệ thống 4 giải pháp toàn diện bao gồm khoanh vùng bảo tồn nguyên vị trên 549,04 ha rừng tự nhiên, phát triển mô hình trồng dược liệu 5 - 10 ha theo chuẩn GACP-WHO, kết nối chuỗi tiêu thụ và tập huấn cho 300 lượt người dân bản địa.

Lộ trình triển khai các giải pháp tiếp theo cần tập trung hoàn thiện công tác nhân giống vô tính trong giai đoạn 2021 - 2023 và mở rộng mạng lưới hợp tác xã dược liệu giai đoạn 2024 - 2030. Các cơ quan quản lý và tổ chức nghiên cứu hãy liên kết chặt chẽ để hiện thực hóa quy hoạch bảo tồn nguồn gen quý, biến tiềm năng tài nguyên cây thuốc thành đòn bẩy phát triển kinh tế bền vững cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi.