Đặt vấn đề Rừng đã được coi là tài sản quý báu vào bậc nhất mà thiên nhiên ban tặng cho con người. Trong thực tế rừng đã đem lại nhiều lợi ích to lớn như: Cung cấp lâm sản cần thiết cho cuộc sống, nhiều sản vật quý hiếm, đặc biệt rừng có vai trò điều tiết nguồn nước, điều hòa khí hậu. Tuy nhiên rừng hiện nay đang bị tàn phá một cách trầm trọng mà không có biện pháp xử lý triệt để, đứng trước tình hình này là hàng loạt các loài động, thực vật quý hiếm sẽ bị tuyệt chủng trong một thời gian ngắn mà nguyên nhân chủ yếu là do con người. Sự tuyệt chủng hàng loạt ngày nay có thể so sánh với sự tuyệt chủng hàng loạt các loài của các thời kỳ địa chất trong quá khứ, trong đó có hàng ngàn, hàng vạn loài bị tiêu diệt do các thảm họa tự nhiên.
Hiện nay nhiều loài đang bị suy giảm một cách nhanh chóng, thậm chí một số loài đang chấp chới ở ngưỡng cửa của sự tuyệt chủng mà nguyên nhân chủ yếu là do săn bắn, khai thác quá mức, do sinh cảnh bị phá hủy và do sự xâm nhập của các loài ngoại lai. Ngày nay dân số tăng nhanh một cách chóng mặt và sự bùng nổ của tiến bộ khoa học công nghệ đang là vấn đề gây nhiều áp lực đối với đa dạng sinh học. Tình trạng này ngày càng trở nên trầm trọng hơn do việc phân phối của cải trên Thế Giới không đồng đều, về sự phân hóa sâu sắc giữa giàu và nghèo giữa các nước phát triển và kém phát triển, đặc biệt đối với các nước ở các khu vực nhiệt đới, nơi có vốn loài rất phong phú và đa dạng. Hơn thế nữa, sự săn bắn, khai thác gỗ một cách tùy tiện, thiếu khoa học của con người làm cho diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng kéo theo suy giảm đa dạng sinh học (ĐDSH).
Chính vì vậy loài người đã, đang và sẽ n phải đứng trước một thử thách, đó là sự suy giảm về ĐDSH dẫn đến làm mất trạng thái cân bằng của môi trường kéo theo là những thảm họa như lũ lụt, hạn hán, lở đất, gió bão, cháy rừng, ô nhiễm môi trường sống, các căn bệnh hiểm nghèo,… Xuất hiện ngày càng nhiều. Tất cả các thảm họa đó là hậu quả, một cách trực tiếp hay gián tiếp của việc suy giảm ĐDSH. Tất cả các yếu tố trên đã cùng kết hợp với nhau làm cho tình hình ngày càng tồi tệ. Là một đất nước với tổng diện tích tự nhiên khoảng 330.541km2 nằm trong khu vực Đông Nam Á Việt Nam được coi là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của vùng Đông Nam Á.
Từ kết quả nghiên cứu về khoa học cơ bản trên lãnh thổ Việt Nam, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đều nhận định rằng Việt Nam là một trong 25 nước có mức đa dạng sinh học cao nhất trên Thế Giới với dự tính có thể có tới 20.000 loài thực vật. Việt Nam được xếp thứ 16 về mức độ đa dạng sinh học (Chiếm 6.5% số loài trên Thế Giới). Với kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa của Bắc bán cầu, đã góp phần tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái và các loài sinh vật. Về mặt địa lý, Việt Nam là nơi giao thoa của hệ động thực vật vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc và Indonesia - Malaysia, đã giúp hệ động thực vật của nước ta rất phong phú, theo tổng kết các công bố về hệ thực vật và động vật ở Việt Nam, đã ghi nhận có 15.989 loài thực vật ở Việt Nam, 7.750 loài côn trùng, 260 loài bò sát, 120 loài ếch nhái, 840 loài chim, 310 loài và phân loài thú, 3.109 loài cá,… Nhưng hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguyên rừng Việt Nam đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng như nhu cầu lâm sản ngày càng tăng, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác quá mức, không đúng kế hoạch, chiến tranh,… Theo số liệu mà Maurand P.
công bố trong công trình “Lâm nghiệp Đông Dương” thì đến năm 1943 Việt Nam còn khoảng 14,3 triệu ha rừng tự nhiên với độ che phủ là 43,7% diện tích lãnh thổ. Quá trình mất rừng xảy ra liên tục từ năm 1943 đến đầu n những năm 1990, đặc biệt từ năm 1976-1990 diện tích rừng tự nhiên giảm mạnh, chỉ trong 14 năm diện tích rừng giảm đi 2,7 triệu ha, bình quân mỗi năm mất gần 190 ngàn ha (1,7%/năm) và diện tích rừng giảm xuống mức thấp nhất là 9,2 triệu ha với độ che phủ 27,8% vào năm 1990 (Trần Văn Con, 2001). Tính tới hết năm 2010 - 2011 - 2012 với nhiều nỗ lực cho việc bảo vệ và phát triển rừng thông qua nhiều chương trình và dự án, tỷ lệ che phủ rừng của nước ta đạt 39,5% năm 2010, 40,2% năm 2011 phấn đấu năm 2013 đạt 40.7% (Tình hình thực hiện phát triển kinh tế xã hội năm 2011, 2012 và quý 1 năm 2013) xong chủ yếu là rừng trồng, rừng tự nhiên vẫn suy giảm. Việc mất rừng tự nhiên, dẫn tới đất đai bị suy thoái do xói mòn, rửa trôi, sông hồ bị bồi lấp, môi trường bị thay đổi, hạn hán lũ lụt gia tăng, ảnh hưởng lớn đến mọi mặt đời sống của nhiều vùng dân cư.
Mất rừng còn đồng nghĩa với sự mất đi tính đa dạng về nguồn gen động thực vật. Đứng trước tình hình đó Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thành lập các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên mục tiêu là đảm bảo các giá trị cảnh quan được gìn giữ, đa dạng sinh học sẽ được bảo tồn. Hiện nay cả nước có khoảng 128 khu bảo tồn nhằm gìn giữ nguồn gen của địa phương, là cơ sở quyết định cho sự phát triển hệ sinh thái Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Ngư nghiệp đa dạng và bền vững. Cũng như các khu bảo tồn khác, Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc là nơi lưu giữ những nguồn gen và các loài động thực vật có giá trị, đặc biệt là một số loài thực vật quý hiếm.
Để tìm hiểu một số loài động thực vật quý hiếm đó tôi tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm: “Nghiên cứu tính đa dạng của các loài thực vật quý hiếm tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc - huyện Chợ Đồn - tỉnh Bắc Kạn” trên cơ sở đó có thể thấy được hiện trạng của các loài thực vật quý hiếm và đề xuất một số giải pháp nhằm mục đích bảo tồn chúng. Mục đích Lập danh lục các loài thực vật quý hiếm tại khu vực nghiên cứu, và thực trạng của chúng từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ các loài thực vật đó và bảo vệ nguồn gen cây rừng quý hiếm. Mục tiêu - Tìm hiểu được sự hiểu biết của người dân địa phương về các loài thực vật quý hiếm trong khu vực nghiên cứu. - Xác định được danh mục các loài thực vật quý hiếm trong khu bảo tồn.
- Xác định được mức độ nguy cấp của các loài thực vật quý hiếm theo Sách đỏ Thế Giới (IUCN), Sách đỏ Việt Nam (SĐVN), Nghị định 32/2006/NĐ-CP. - Đánh giá được mức độ tác động của con người và động vật lên khu bảo tồn. - Đề xuất được một số giải pháp để bảo tồn và phát triển các loài thực vật quý hiếm. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Việc nghiên cứu giúp tôi củng cố lại và bổ sung thêm kiến thức đã học. Qua đó giúp tôi làm quen với việc nghiên cứu khoa học, viết và trình bày báo cáo khoa học. Ý nghĩa thực tiễn - Thấy được sự đa dạng của các loài thực vật quý hiếm tại khu vực nghiên cứu, và sự suy giảm của các loài thực vật trong những năm qua, từ đó đánh giá được sự tác động của con người đối với tài nguyên rừng. - Đưa ra một số giải pháp nhằm bảo tồn các loài thực vật quý hiếm nói riêng và khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc nói chung.
- Đây là tài liệu tham khảo cho mọi người có nhu cầu tìm hiểu về các vấn đề nêu trong đề tài. n Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của nghiên cứu Trên Thế Giới nói chung và Việt Nam nói riêng, hiện nay do nhiều nguyên nhân tiêu cực khác nhau đang cùng lúc tác động lên nguồn tài nguyên đa dạng sinh học, làm cho nguồn tài nguyên đa dạng sinh học ngày càng bị suy giảm. Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều taxon loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong một tương lai gần.
Về cơ sở sinh học: Là cơ sở khoa học xây dựng mối quan hệ giữa con người và Thế Giới tự nhiên và đây cũng là cơ sở khoa học cho việc bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, ngăn ngừa suy thoái các loài nhất là những loài động, thực vật quý hiếm, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường. Về cơ sở bảo tồn: Đứng trước tình hình suy giảm đa dạng sinh học đó, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra rất nhiều các biện pháp khắc phục cùng với các chính sách kèm theo nhằm mục đích bảo vệ tốt hơn nguồn tài nguyên đa dạng sinh học của đất nước. Tuy nhiên, trên thực tế đang đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học cần phải giải quyết như quan hệ giữa bảo tồn và phát triển bền vững hoặc tác động của biến đổi khí hậu đối với bảo tồn ĐDSH. Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của Sách đỏ Thế Giới IUCN 1978, Chính phủ Việt Nam cũng công bố Sách đỏ Việt Nam, để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên.
Các loài được xếp vào 9 bậc theo các tiêu chí về mức độ đe dọa tuyệt chủng như tốc độ suy thoái (rate of decline), kích thước quần thể (population n size), phạm vi phân bố (area of geographic distribution), và mức độ phân tách quần thể và khu phân bố (degree of population and distribution fragmentation). + Tuyệt chủng (EX): Một loài hoặc dưới loài bị coi là tuyệt chủng khi có những bằng chứng chắc chắn rằng cá thể cuối cùng đã chết. + Tuyệt chủng trong tự nhiên (EW): Một loài hoặc dưới loài bị coi là tuyệt chủng trong tự nhiên khi các cuộc khảo sát kỹ lưỡng ở sinh cảnh đã biết và hoặc sinh cảnh dự đoán, vào những thời gian thích hợp (theo ngày, mùa, năm) xuyên suốt vùng phân bố lịch sử của loài đều không ghi nhận được cá thể nào.