MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của luận án Rong biển là nhóm thực vật bậc thấp, tự dưỡng, hâu hết sống ở biên Đây là tải nguyên biển với các giá trị sử dụng trực tiếp và gián tiếp rất cao. Nên hầu hết các quốc gia có biển (Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippine.) đều rất quan tâm đến nguồn lợi nay [1]. G nước ta hiện nay, nuôi trí te rong biên đang là một trong ngành mới (thay cho. nghề nuôi tôm tuyên thông đang bị khủng hoảng về giá trị lợi nhuận và ô nhiễm đấm nuôi) những đối tượng đang có nhiều triển vong trong việc xây đựng và phát triển kinh tế - xã hội, góp phân xóa đói, giảm nghèo cho rất nhiều hô nõng dân ven biển và các đáo tiền tiêu Pl Tại các vùng biển ven bờ, các đảo của nước ta, hiện nay đã phát hiện được khoảng.
300 loài rong biển [3]. Ở Phú Yên, đã có một số nghiên cứu về rong biển, trong các nghiên cứu công bố chính thức cho tỉnh Phú Yên có 34 loài gồm 6 loài Tảo lam (Cyanophyta) $ loài Reng lục (Chiorophyta), 9 loài Reng nâu (Phacophyia) và 11 loài Rong đỏ (Rhodophyta) [3]. Trong khi các tỉnh lân cân thuộc vùng Trung Bộ và Nam Trung Bộ cho thấy, tính đa dạng loài rong biển khá cao như Quảng Ngãi có 190 loài, Bình Định. 7§ loài Khánh Hòa 516 loài, Ninh Thuận 121 loài, Bình Thuận 210 loài [3].
Chính vì vây, câu hỏi đặt ra trong đề tài luận án nay là có bao nhiêu loài rong biên, đặc trưng phân bố của loài, và sảnlượng của một số loài rong có giá trị làm thực phẩm, được phẩm,. được ghi nhận ở vùng biển ven bờ tỉnh Phú Yên? Để có thể trả lời câu hỏi trên, nghiên cứu sinh xây dung để tài luận án: *Nghiên cứu đa dạng sinh học và tiểm năng kinh tế rong biển tỉnh Phú Viên” với các mục tiêu và nội dung như sau Mục tiêu nghiên cứu của luận án: Muc tiéu lâu dài: Góp phân nghiên cứu khu hệ rong biển Việt Nam Mục tiêu trước mắt: ~ Xác định thành phân loài rong biển và các đặc trưng phân bố của chúng. - Đánh giá được các loài rong biển có tiễm năng kinh tế cơ sở để thiết lập và quản lý các khu vực khai thác, bảo tồn các loài rong biên ở tỉnh Phú Yên. 2 Các nội dung nghiên cứu chính của luận án - Để thực hiện được các mục tiêu trên, các nội dung nghiên cứu đã được thực hiện bao gém.
Nghiên cứu thành phẫn loài và đặc điểm phân bổ rong biển. Xác định các loài rong biển có tiêm năng kinh tế và phân tích thành phân hóa học của. một số loài rong kinh tế. Lập bản đồ phân bổ không gian và ước tính sinh khối của một số loài rong kinh tế ở tỉnh Phú Yên.
'Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Ỷ nghĩa khoa học -Vé tính đa dạng sinh học, rong biển tỉnh Phú Yên chưa có một nghiên cứu toàn diện và hệ thống, chính vì vậy dữ liệu về đa dạng sinh học rong biển ở tỉnh Phú Yên nơi có các hệ sinh thái rất đa dạng và đặc thù là sự đóng góp quan trọng cho dữ liệu đa dạng sinh học Nam Trung Bộ và Việt Nam. -Nghiên cứu về hàm lượng các hoạt chất có giá trị kinh tế từ rong biến luôn luôn là đữ liệu được trông chờ nhằm bỗ sung số lượng các loài rong có giá trị kinh tế -Dữ liệu hình ảnh của PlanetScope va Sentinel 2 cùng các kỹ thuật viễn thám áp dung DH, BRI cải tiến kết hợp với lấy mẫu tại hiện trường để lập bản đỏ phân bố không gian và vớc tính sinh khối của rong biển có ý nghĩa về mặt học thuật. Ý nghĩa thực -Các đữ liệu khoa học có được từ để tải sẽ cung cấp cơ sở cho việc bảo tôn và phát triển nguồn lợi cũng như hệ sinh thái rong biển tỉnh Phú Yên -Các dữ liệu về sinh hóa và phân bỗ rong biển giúp cho Phú Yêên có cơ sở khoa học để hoạch định các chính sách, đổi tượng nhằm khai thác và phát triển bền vững nguồn lợi rong biển của tỉnh. Nghiên cứu da dạng sinh học và tiêm năng kinh té rong bién trên thể giới Nghiên cứu đa dạng sinh học của rong biển cũng như các loài thực vật khác được bắt đầu đẩy mạnh từ khi hệ thống học các sinh giới do Carl Linnaeus để xuất [4].
Các nghiên cứu phân loại học rong biễn và hệ thống học rong biển được bổ sung và đóng góp bởi nhiều nhà khoa học trong giai đoạn thể ki 17 đến 19 gôm Gmelin [5]; Forsskảl [6]: Turner [7 ]; Mertens [8]; Agardh [9]; Lamouroux [10]; Greville [11] Vào những năm cuối thé ki 19 và những năm đâu thé ki 20. cdc nghiên cứu về những khía cạnh khác nhau của rong biển như: phân loại, khu hệ, nguồn lợi, nuôi trồng và sử dụng. được mở rộng trên nhiều vùng địa lý khác nhau ở hấu hết các châu lục với những cêng trình của các tác giả nước ngoài đáng phải kể đến là: Okamura [12], Dawson [13], Taylor [14], Chapman [15], Tseng [16], Tseng va nnk. [17], Yoshida [18], Xia Bangmei va Zhang junfo [19]; Trono va nnk [20], Kim va nnk.
Về hệ thống học. Cho đến nay, trên thé giới đã phát hiện được khoảng 12000 loài rong biên (> 7.000 loài rong nâu; khoảng 1.500 rong lục; và áng chừng 1.500 loài vi khuẩn lam). Dựa theo cấu trúc, rong biển được chia thành 2 nhóm là đơn bảo và đa bào [25]. Các loài rong biển được sắp xếp thành 4 ngành: 1 - Ngành khuẩn lam (Cyanobacteria); 2 - Nganh rong Nau (Phaeophyta); 3 - Nganh rong Dd (Rhodophyta); 4- Nganh rong Luc (Chlorophyta) 1.
Vé nuéi tréng rong bién Đối tượng: Trên thé giới có nhiều nước (Ấn Đô, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ. Canada, Chilé) dang trồng rong biên ở quy mô lớn với tổng sản lượng hảng năm khoảng 30,4 triệu tấn [26]. Các loài rong được nuôi trồng chủ yếu thuộc khoảng 30 chỉ Agardhiella, Eucheuma, Gelidiwn, Gigartina, Gracilaria, Hydropuntia, Hypnea, Kappaphycus, Meristotheca, Porphyra (ngành rong Dé - Rhodophyta); Saccharina, Laminaria, Undaria,Cladosiphon (aganh rong Nau - heterokontophyta hay Phaeophyta) va Monostroma, Ulva, Caulerpa (nganh rong Luc - Chlorophyta). Cc loai thuộc các chỉ Agardhiella, Gelidium, Gigartina, Porphyra, Saccharina, Laminaria, Undaria, Monostroma Ulva thuong được nuôi trồng ở vùng biển ôn đới còn các loài thuộc các 4 chi Eucheuma, Gracilaria, Hydropuntia, Hypnea, Kappaphycus, Cladosiphon, Caulerpa được nuôi trồng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới [27].
Đặc biệt là Philliphine, Tanzania, Indonesia đã và đang trồng loài rong Sun (K. alvarezii), rong Ki lin (Eucheuma spp.) tất thành công bằng phương pháp trồng trên nên day (fixed off-bottom method) và phương pháp giản nổi (floatng method) [24]. Philiphine đã sản xuất khoảng 1.832 tấn tươi xong sụn mỗi năm [28] Các mô hình trằng rong biển + Trong ao, đầm: trồng các loài Gracilaria spp, Kappaphycus alvarezii, Caulerpa lentillifera bing hình thức trồng trên nền đáy, dây hoặc lưới + Trong hỗ, bể chứa: mô hình trồng rong trong hỗ hoặc bẻ chứa (bằng bê tổng hoặc composi) được áp dụng từ những năm 70 ở Canada và Hoa Kỳ [24], hiện nay đã mở rộng ra nhiều nước khác như Israel, Mexico, Đức, Trung Quốc, Nhật Bản [29] + Trồng rong biển kết hợp nuôi các loài hải sản khác: phương pháp nuôi ghép các đối tượng hai sản (thường là tôm, cá, thân mêm) đề nâng hiệu quả nuôi trồng Các chất hữu cơ dư thừa trong quá trình nuôi (amoni, nirat và phosphaD) là nguồn hữu cơ cung. cấp cho rong biển, rong biến hấp thụ những chất này và làm môi trường vùng nuôi trở nên trong sạch hơn.
Như vậy, không những chỉ tăng hiệu quả kinh tế trong nuôi trồng mã còn góp phân bảo vệ. cải tạo môi trường nước biển, giảm ô nhiễm vì thể có thê duy trì cân Đăng tự nhiên trong các vùng nuôi tập trung, mật độ cao [30, 31] 1. Sử dụng rong biên Từ lâu rong biển được sử dụng trong nhiều lĩnh vực: làm nguyên liệu cho sản xuất thuốc; chiết một số loại keo (agar, alginate. sản xuất khí đốt, phân bón, xử lý môi trường và làm thức ăn như một dạng thực phẩm xanh cho con người [32, 33] Ding làm dược liệu ‘Mac di rong biên đã được sử dụng trong dân gian từ rất lâu nhưng trong khoảng ba thập kỷ gần đây mới được nghiên cứu sâu hơn [33] Rong biển có chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học cao như các sắc tố, các polysaccharid, lipit dy trữ, các vitamin.
có tiêm năng ứng dụng cao trong lĩnh vực y được. Một số vùng ven biển, người dân đã biết sử dụng rong biển như một loại được liệu thông thường để chữa một số bệnh đơn giản hay dùng để bồi bổ sức khỏe (tăng tuân hoàn thận, bài tiết thấm thấu độc tổ, chông đông máu, chống tạo huyết khối. Ngoài các nhóm có hoạt tính sinh học cao như trên, trong rong biển còn chứa nguồn polysaccharit (alginate, agar và carrageenan) rất có ý nghĩa 5 trong ngành y được agar là môi trường nuôi cấy vi khuẩn, sản xuất thuốc nhuận trằng, làm. vỏ bọc cho những loại thuốc khó uống.; alginates được sử dụng trong điều trị bệnh tim mạch, chống đông máu, chống oxy hóa và hạ huyết áp.; carrageenan hoạt động như một dang sợi hòa tan.
hấp thụ nước và làm châm lại sự rổng của dạ day giúp chữa tiểu đường. kiểm nghiệm các loại thuốc mới. Từ rong biên có thể sản xuất một số loại thuốc (chữa lao, viêm khớp, cảm lạnh, cúm, giun sản dịch chiết tir hai loai Dumontiaceae sp. Trung Quốc là nước đã có nhiều kinh nghiệm dân gian trong việc sử dụng rong biển làm thuốc chữa bệnh.
Một số loài rong biển thường được sử dụng (Saccharina japonica - tên thương phẩm: [aminaria hoặc haidai; Eckionia kurome; mét số loài thuéc chi Sargassum — haizao) và Porplnra có tác dụng để điều trị ung thư (ức chế khối u bang polysaccharides mach dai): Saccharina khô dùng đề làm giãn cô tử cung. Một số loài khác có thể hỗ trợ điều trị sưng các mô mềm (u nang buông trứng, khối u ở vú, sưng hạch bạch huyết.) [24] Làm nguyên liệu chiết các loại keo (là các polysaccharit) Chiết alginate: Phân lớn các loài rong Nâu, đặc biệt các loài thuộc chi Sargassum được dùng làm nguyên liệu chiết alginate. Hign tai, trén thé giới đã phát hiện được khoảng. 400 loài Sargassum, phân bố rất rộng rãi ở các vùng khí hậu khác nhau nhưng các loài ở vùng nước lạnh (Bắc và Nam bán Câu) có giá trị hơn ở các vùng nước ấm.
Một số chị khác (Turbinaria, Chnoospora) cing được dùng để chiết alginate nhưng không nhiễu. Hầu các loài rong Nấu dùng để chiết alginate 14 loai tự nhiên (chưa nuôi trồng được trừ Sargassum japonica) [24] Chiết agar (nhóm agarophytes): Nhóm này gồm các chỉ Gelidium, Geiidielia, Gracilariopsis va Gracilaria, trong đó Gelidium có giá trị cao hơn.