Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu về bò sát ở các nước trong khu vực 1. Nghiên cứu tính đa dạng thành phần loài các loài Bò sát Trên thế giới, các nghiên cứu về đa dạng, phân bố các loài BS có khá nhiều các công trình đã được công bố, có thể nói thành phần các loài BS trên trái đất là rất đa dạng, phân bố đủ các châu lục. Theo bộ cơ sở dữ liệu thống kê về bò sát (The Reptile Database), tính đến 31 tháng 12 năm 2023, trên toàn cầu đã ghi nhận được 12.060 loài bò sát phân bố rộng khắp ở các châu lục, tuy nhiên Châu Á và Châu Phi là hai châu lục ghi nhận được nhiều loài bò sát nhất (Uetz et al.
Số loài BS ghi nhận mới được tăng theo năm, trong vòng 5 năm trở lại đây, số loài tăng từ 10.060 loài, trung bình 1 năm số loài BS mới được ghi nhận trên toàn cầu là 250 loài (Uetz et al. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của đề tài luận án này, chúng tôi chỉ tập trung tổng hợp, phân tích thông tin về đa dạng, nhân tố đe dọa tới quần thể các loài BS ở một số quốc gia lân cận với Lào. Tại Châu Á, các nghiên cứu về thành phần loài và đã có những phát hiện các loài BS mới đã phát triển mạnh, nổi bật có các công trình như: Ở Thái Lan, vào năm 2002, Pauwels et al [151]. đã công bố tài liệu nhận dạng 110 loài bò sát.
Đến năm 2015, số loài đã tăng lên đáng kể, và đã tổng hợp, công bố tài liệu nhận dạng 352 loài BS ở Thái Lan bởi Chanard et al [41]. Thái Lan có biên giới tiếp giáp phía Tây với Lào. Việc nghiên cứu về các loài BS của Thái Lan đã được thực hiện tương đối đầy đủ, hiện tại các nhà nghiên cứu đã công bố các loài BS ở Thái Lan được ghi nhận là 501 loài (Uetz et al., 2023) [192], số các loài BS so với một số nước lân cận với Thái Lan là khá cao, đây là hướng đi rất tích cực trong điều tra, phát hiện thành phần các loài BS nói riêng của Thái Lan. Tính riêng trong năm 2019, tại Thái Lan các nhà khoa học 6 đã công bố 05 loài BS mới (01 loài rắn và 04 loài thằn lằn) gồm: Cnemaspis adangrawi Ampai, Rujirawan, Wood, Stuart & Aowphol, 2019 [29]; Cnemaspis tarutaoensis Ampai, Rujirawan, Wood, Stuart & Aowphol, 2019 [29]; Gekko cicakterbang (Grismer, Wood, Grismer, Quah, Thy, Phimmachak, Sivongxay, Seateun, Stuart, Siler, Mulcahy, Anamza & Brown, 2019) [74]; Gekko flavimaritus Rujirawan, Fong & Aowphol, 2019 [170]; Lycodon gibsonae Vogel & David, 2019 [196].
Ở Mi-an-ma, vào năm 2008, Wogan et al. đã ghi nhận 29 loài bò sát, đây là quốc gia có đường biên phía Nam tiếp giáp với Lào, là quốc gia được đánh giá có hệ động, thực vật phong phú, nhất là lớp bò sát [214]. Tương tự các quốc gia Đông Nam Á khác, Mi-an-ma tập trung nghiên cứu đa dạng thành phần các loài BS. Những năm gần đây, công trình nghiên cứu được coi là tổng quát nhất về lương cư, bò sát tại Mi-an-ma là của tác giả Zug (2022) [207], công trình đã thống kê khá đầy đủ, chi tiết về đặc điểm và phân bố của các loài bò sát trên toàn quốc, theo đó tính đến hết năm 2020, Mi-an-ma ghi nhận được 44 loài BS.
Các loài BS của quốc gia này phân bố rộng, từ đồng bằng đến đồi núi, từ vùng nông thôn đến rừng núi. BS tại Myanmar cũng không ngừng được phát hiện mới, những năm đầu của thế kỷ 19. Tính đến thời điểm hiện tại, Mi- an-ma đã ghi nhận được hơn 300 loài BS (Uetz et al. Ở Trung Quốc: Vào năm 2008, Yang & Rao đã mô tả 162 loài BS có phân bố ở tỉnh Vân Nam [199].
Từ năm 2019 đến năm 2022 có một số loài mới được mô tả với mẫu vật thu ở hai tỉnh Quảng Tây và Vân Nam, Trung Quốc giáp ranh với Lào gồm 07 loài (05 loài thằn lằn và 02 loài rắn) như: Acanthosaura tongbiguanensis Liu & Rao, 2019 [106]; Diploderma drukdaypo (Wang, Ren, Jiang, Zou, Wu, Che & Siler, 2019) [208]; Diploderma swild Wang, Wu, Jiang, Chen, Miao, Siler & Che, 2019 [210]; Gloydius huangi Wang, Ren, Dong, Jiang, Shi, Siler & Che, 2019 [210]; Takydromus yunkaiensis Wang, Lyu & Wang, 2019 [209]; Achalinus yunkaiensis Wang, Li 7 & Wang, 2019 [209]; Trimerodytes yapingi (Guo, Zhu & Liu, 2019) [77]. Tính đến thời điểm hiện tại, Trung Quốc đã ghi nhận được hơn 600 loài BS (Uetz et al. Ở Cam-pu-chia: Stuart (1998) [181] ghi nhận 48 các loài BS ở khu vực miền núi thuộc phía Đông Cam-pu-chia, giáp ranh với biên giới Việt Nam. Grismer et al.
(2008) [73] nghiên cứu ở dãy núi Cardamom đã ghi nhận 96 các loài BS. Hartmann et al. (2013) [81] ghi nhận 33 các loài BS ở khu vực Tây Bắc Cam-pu-chia. Hiện nay đã ghi nhận tổng số loài 200 các loài BS ở Cam- pu-chia (Uetz et al.
07 loài thằn lằn mới được mô tả năm 2019 ở Cam-pu-chia như: Cyrtodactylus auralensis Murdoch, Grismer, Wood, Neang, Poyarkov, Tri, Nazarov, Aowphol, Pauwels, Nguyen & Grismer, 2019 [125]; Cyrtodactylus bokorensis Murdoch, Grismer, Wood, Neang, Poyarkov, Tri, Nazarov, Aowphol, Pauwels, Nguyen & Grismer, 2019 [125]; Cyrtodactylus cardamomensis Murdoch, Grismer, Wood, Neang, Poyarkov, Tri, Nazarov, Aowphol, Pauwels, Nguyen & Grismer, 2019 [125]; Cyrtodactylus laangensis Murdoch, Grismer, Wood, Neang, Poyarkov, Tri, Nazarov, Aowphol, Pauwels, Nguyen & Grismer, 2019 [125]; Cyrtodactylus thylacodactylus Murdoch, Grismer, Wood, Neang, Poyarkov, Tri, Nazarov, Aowphol, Pauwels, Nguyen & Grismer, 2019 [125]; Gekko tokehos (Grismer, Wood, Grismer, Quah, Thy, Phimmachak, Sivongxay, Seateun, Stuart, Siler, Mulcahy, Anamza & Brown, 2019) [74]; Sphenomorphus preylangensis Grismer, Wood, Quah, Anuar, Poyarkov, Thy, Orlov, Thammachoti & Seiha, 2019 [75]. Ở Việt Nam: Việt Nam có đường biên giới chung với Lào, nằm ở phía Đông của Lào, kéo dài từ tỉnh Phosaly, Bắc Lào đến tỉnh Champhasack, Nam Lào. Hệ sinh thái, địa lý sinh vật của Việt Nam có thể nói khá tương đồng với Lào. Tuy nhiên, nghiên cứu đa dạng các loài BS tại Việt Nam được thực hiện khá sớm, từ những năm đầu của thế kỉ 19 và khá toàn diện trên phạm vi toàn quốc.
Cho đến nay, đã có khá nhiều các công trình công bố về bò sát của các 8 tác giả, các công bố theo những hướng nghiên cứu và vùng nghiên cứu khác nhau, các công trình của các tác giả như: Nguyễn Văn Sáng (2007) [17]; Nguyen et al. (2009) [137], Hoàng và cs. (2012) [12], Nguyễn và cs. (2016) [18], Đồng và cs.
(2017) [11], Luu et al. Năm 2020 các nhà khoa học công bố 11 loài mới bao gồm (08 loài thằn lằn và 03 loài rắn), một số loài BS tiêu biểu như: Cyrtodactylus culaochamensis Tri, Grismer, Thai & Wood, 2020 [72]; Cyrtodactylus phumyensis Ostrowski, Do, Le, Ngo, Pham, Nguyen, Nguyen & Ziegler, 2020) [149]; Acanthosaura 9 prasina Ananjeva, Ermakov, Nguyen, Nguyen, Murphy, Lukonina & Orlov, 2020 [31]; Achalinus tranganensis Luu, Ziegler, Ha, Lo, Hoang, Ngo, Le, Tran & Nguyen, 2020 [115]; Achalinus zugorum Miller, Davis, Luong, Do, Pham, Ziegler, Lee, De Queiroz, Reynolds & Nguyen, 2020 [124]. Từ năm 2021 đến nay, Việt Nam đã ghi nhận mới đóng góp khá nổi bật với 28 loài mới cho khoa học được mô tả bao gồm (17 loài thằn lằn và 11 loài rắn), một số loài BS được các tác giả ghi nhận mới như: Ahaetulla rufusoculara Lam, Thu, Nguyen, Murphy & Nguyen, 2021 [96]; Cyrtodactylus chungi Ostrowski, Le, Ngo, Pham, Phung, Nguyen & Ziegler,2021 [149]; Cyrtodactylus ngati Le, Sitthivong, Tran, Grismer, Nguyen, Le, Ziegler & Luu, 2021 [100]; Pareas kuznetsovorum Poyarkov, Yushchenko & Nguyen, 2022 [162]; Xenopeltis intermedius Orlov, Snetkov, Ermakov, Nguyen & Ananjeva, 2022 [148]; Achalinus quangi Pham, Pham, Le, Ngo, Ong, Ziegler & Nguyen, 2023 [159]; Dixonius fulbrighti Luu, Grismer, Hoang, Murdoch & Grismer, 2023 [116]; Dixonius gialaiensis Luu, Nguyen, Le, Grismer, Ha, Sitthivong, Hoang & Grismer, 2023 [113]; Hemiphyllodactylus cattien Yushchenko, Grismer, Bragin, Dac & Poyarkov, 2023 [200]; Rhabdophis hmongorum Kane, Tapley, La & Nguyen, 2023 [90]; Dibamus deimontis Kliukin, Bragin, Van Nguyen, Le,Tran, Gorin & Poyarkov, 2024 [93]. Nghiên cứu về đặc điểm phân bố của các loài bò sát Nghiên cứu nổi bật về đa dạng, phân bố của các loài bò sát theo các khu vực địa lý tại Đông Dương trong những năm gần đây là của tác giả Bain & Nguyen (2004) và Bain & Hurley (2011), hai công trình của các tác giả này đưa ra các dẫn liệu về thành phần loài, phân bố và vùng địa lý sinh vật chính của các loài bò sát và lưỡng cư ở ba nước Đông Dương (Cam-pu-chia, Lào và Việt Nam) [34],[33].
Các tác giả đã phân chia Đông Dương thành 19 tiểu vùng khác nhau. Có thể kể đến 5 tiểu vùng có số các loài bò sát đa dạng nhất bao gồm: Tiểu vùng núi cao Tây Bắc NWU (vùng thượng du phía Tây sông Hồng, phía 10 Đông sông Cửu Long và Bắc sông Cả thuộc tỉnh Nghệ An-Việt Nam và tỉnh Xiêng Khoảng - Lào, tiểu vùng này cũng bao gồm khu vực Tây Bắc và phía Tây Bắc của Bắc Trung Bộ Việt Nam). Tổng diện tích khoảng 132,140 Km2, khu vực này được cho là đa dạng các loài bò sát nhất với 158 loài, trong đó có 12 loài là đặc hữu Đông Dương. VQGNEPL cũng nằm trong tiểu vùng này, do vậy có thể nhận định rằng khu vực này chứa đựng sự đa dạng cao về các loài bò sát.
Tiếp theo là tiểu vùng núi cao Đông Bắc NEU (vùng núi cao phía đông sông Hồng của Việt Nam, tương đương với vùng Đông Bắc của Việt Nam) với 147 các loài bò sát, trong đó có 14 loài đặc hữu Đông Dương. Tiểu vùng Trung Trường Sơn (vùng núi cao giữa sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị và sông Đà Rằng gần biên giới phía nam tỉnh Gia Lai, Việt Nam và các tỉnh giáp ranh của Xê Kông, phía đông sông Kông, Attapu, Saravan, và Sa Van Na Khệt, Lào và Rattanakiri của Cam-pu-chia. Tiểu vùng này bao gồm Cao nguyên Kon Tum ở Việt Nam và Lào, Cao nguyên Pleiku ở Việt Nam, Cao nguyên Ratanakiri và Dãy núi Virachey ở Cam-pu-chia, và Dãy núi Đồng Phu Viêng ở Lào) đứng thứ ba với 133 loài bò sát, trong đó có 34 loài đặc hữu Đông Dương. Xếp thứ tư về mức độ đa dạng các loài rắn là Tiểu vùng đất thấp Đông Bắc NEL (khu vực đất thấp Bắc Việt Nam kéo dài đến sông Thạch Hãn, Quảng Trị và khu vực đất thấp của Lào tại lưu vực của sông Hồng) với 136 loài bò sát, trong đó có 17 loài đặc hữu Đông Dương.
Xếp thứ năm về mức độ đa dạng loài là Tiểu vùng Bắc Trường Sơn NAN (khu vực núi cao của Việt Nam ở giữa sông Cả, Nghệ An và sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị và khu vực núi cao của tỉnh Xiêng Khoảng, Lào ở phía nam sông Cả, Viêng Chăn, Bolikhamxay, Khăm Muộn, Sa Van Na Khệt ở phía bắc sông Thạch Hãn) với 116 loài bò sát, trong đó tiểu vùng này có 13 loài đặc hữu của Đông Dương (Bain & Hurley, 2011) [33].