Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu sử dụng cây thuốc trên thế giới Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) đánh giá cho đến nay 80% dân số trên thế giới dựa vào nền y học cổ truyền để đáp ứng cho nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu, trong đó chủ yếu là thuốc từ cây cỏ [27]. Sự quan tâm về các hệ thống y học cổ truyền và đặc biệt là các loại thuốc dược thảo, thực tế là đã ngày càng gia tăng tại các nước phát triển và đang phát triển trong hơn hai thập kỷ qua. Các thị trường dược thảo quốc gia và toàn cầu đã và đang tăng trưởng nhanh chóng, và hiện đang mang lại rất nhiều lợi nhuận kinh tế.
Theo Ban Thư ký Công ước về đa dạng sinh học, doanh số toàn cầu của các sản phẩm dược thảo ước tính tổng cộng có đến 80 tỷ USD vào năm 2002 và chủ yếu ở thị trường Châu Mỹ, Châu Âu và Châu Á. Vì vậy quốc gia nào cũng có chương trình điều tra và tái điều tra nguồn tài nguyên dược liệu trong kế hoạch bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học của đất nước mình. Đối với những nước vốn có nền y học cổ truyền như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước thuộc khu vực Đông Nam Á vẫn thường xuyên có những kế hoạch điều tra và tái điều tra với các quy mô, phạm vi và mục tiêu khác nhau. Thế giới ngày nay có hơn 35.000 loài thực vật được dùng làm thuốc.500 cây thuốc được buôn bán trên thế giới.000 loài ở Trung Quốc.
Trong đó, có đến 90% thảo dược thu hái hoang dại. Do đòi hỏi phát triển nhanh hơn sự gia tăng sản lượng, các nguồn cây thuốc tự nhiên bị tàn phá đến mức không thể cưỡng lại được, ước tính có đến 50% đã bị thu hái cạn kiệt. Hiện nay, chỉ có vài trăm loài được trồng, 20-50 loài ở Ấn Độ, 100-250 loài ở Trung Quốc, 40 ở Hungari, 130-140 ở Châu Âu. Những phương pháp trồng truyền thống đang dần được thay thế bởi các phương pháp công nghiệp ảnh hưởng tai hại đến chất lượng của nguồn nguyên liệu này [28].
4 Những ghi chép đầu tiên về cây thuốc đã được tìm thấy cách đây khoảng hơn 5. Đó là những ghi chép bản khắc trên đất sét của người Sumeria, thuộc Mesopotamia cổ xưa (Iraq ngày nay), đề cập tới một toa thuốc sử dụng cây Carum (Carum carvi) và cây Húng tây (Sweet basil). Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy rễ cây Thục quỳ (Althaea officinalis), cây Lan dạ hương (Hyacinthus sp.) và cây Cỏ thi (Achillea millefolium) được tìm thấy quanh bộ xương người có niên đại đồ đá ở Iraq [17]. Những kiến thức về thảo mộc của người Hy Lạp và người Roma gắn liền với nền văn minh phát triển từ rất sớm của họ.
Hy Lạp cổ đại chịu ảnh hưởng lớn từ Babaylon, Ai Cập và một phần Ấn Độ và Trung Hoa. Hippocrat (460-377 TCN), thầy thuốc nổi tiếng người Hy Lạp vốn được mệnh danh là “cha đẻ của nền y học hiện đại” đã từng là một nhà nghiên cứu về thảo mộc. Ông luôn nhắc đến câu “Hãy để thức ăn của bạn là thuốc và chính thuốc là thức ăn của bạn” [17]. Năm 2735 trước công nguyên, hoàng đế Thần nông của Trung Hoa đã sưu tầm và ghi chép lại 365 vị thuốc đông y trong cuốn “Mục lục thuốc thảo mộc”.
Ông cũng đề cập đến một số công dụng của cây Ma hoàng (Ephedra sp.) điển hình là để chống lại chứng suy hô hấp và nhiều cây thuốc vẫn được sử dụng đến ngày nay như: Cây Gai mèo (Cannabis sp.) được sử dụng làm thuốc chống nôn…, cây Đại phong tử (Hydnocarpus kurzii) là thành phần chính trong thuốc chữa bệnh phong và cây Anh túc (Papaver somniferum) có mặt trong một số loại thuốc giảm đau … [17]. Từ lâu, thuật ngữ “Cây thuốc” đã trở nên quen thuộc, gần gũi. Nó rất cần thiết cho con người và được sử dụng để chăm sóc sức khỏe từ lâu đời. Lịch sử sử dụng cây thuốc bắt nguồn từ thời xa xưa.
Trong quá trình săn bắt và hái lượm, loài người đã biết tránh thứ gì có độc, biết sử dụng cây cỏ làm lương thực - thực phẩm và biết lựa chọn các loại cây cỏ có tác dụng làm khỏi bệnh tật, ốm đau thì gọi là “Cây thuốc”. Phần lớn các loài cây thuốc được sử 5 dụng làm thuốc theo cách truyền thống trong các cộng đồng. Bên cạnh đó, hiện đã có hàng trăm hoạt chất tự nhiên từ cây cỏ, được sử dụng để chế tạo ra các thuốc hiện đại có hiệu lực chữa bệnh cao. Xu thế này hiện vẫn đang được nghiên cứu và xúc tiến ở nhiều quốc gia.
Tình hình nghiên cứu sử dụng cây thuốc ở Việt Nam Việt Nam với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, cộng đồng các dân tộc có nhiều kinh nghiệm sử dụng các loài cây cỏ sẵn có để làm thuốc chữa bệnh, bảo vệ sức khỏe. Từ lâu đời nay, nền y học cổ truyền Việt Nam đã có nhiều bài thuốc, cây thuốc được áp dụng chữa bệnh trong dân gian có hiệu quả. Qua quá trình phát triển của dân tộc, các kinh nghiệm quý báu đó đã dần được đúc kết thành những cuốn sách có giá trị và lưu truyền rộng rãi trong nhân dân ta. Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng lớn về cây thuốc trong khu vực Đông Nam Á.
Điều này thể hiện ở sự đa dạng về loài (trong số hơn 12.000 loài thực vật Việt Nam thì có gần 4.000 loài được sử dụng làm thuốc), vùng phân bố rộng khắp cả nước, có nhiều loài được xếp vào nhóm quý hiếm trên thế giới. Mặc dù có tiềm năng to lớn, song việc phát triển và sử dụng dược liệu trong nước vẫn chưa phát huy được thế mạnh này mặc dù các hoạt động nghiên cứu, điều tra, phát hiện cây thuốc đã được tiến hành khắp miền Bắc vào Nam qua nhiều giai đoạn [25]. Ngay từ thời vua Hùng Vương (2900 năm TCN) qua các văn tự Hán Nôm còn sót lại (Đại Việt sử ký ngoại ký, Lĩnh nam chính qoái liệt chuyện, Long uy bí thư …) và qua các truyền thuyết, tổ tiên ta đã biết dùng cây cỏ làm gia vị kích thích sự ăn ngon miệng và chữa bệnh. Cùng với sự tiến hóa của lịch sử, nền y học cổ truyền Việt Nam cùng với vốn kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của nhân dân cũng dần phát triển, gắn liền với tên tuổi của và sự nghiệp của các danh y nổi tiếng đương thời [15].
Đời nhà Lý (1010-1224) có nhà sư Nguyễn Minh Không (tức Nguyễn Chí Thành) đã dùng nhiều cây cỏ chữa bệnh cho dân và cho nhà Vua, nên 6 được tấn phong là "Quốc sư" triều Lý. Đời nhà Trần (1225-1399) nổi lên sự kiện Phạm Ngũ Lão phụng mệnh Hưng Đạo Vương - Trần Quốc Tuấn, thu thập trồng một vườn thuốc lớn để chữa bệnh cho quân sỹ trên núi gọi là "Dược Sơn", hiện vẫn còn di tích tại xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương [11]. Vào thế kỷ XIII và XIV có hai danh y nổi tiếng là Phạm Công Bân và nhà sư Nguyễn Bá Tĩnh - hiệu Tuệ Tĩnh. Trong nhiều bộ sách quý của ông về sau bị quân Minh thu gần hét, nay chỉ còn sót lại bộ "Nam Dược Thần Hiệu" đề cập 496 vị thuốc nam; "Tuệ Tĩnh y thư", "Tam thập phương gia giảm" và "Thương hàn tam thập thất trùng pháp".
Tuệ Tĩnh là bậc danh y kỳ tài trong lịch sử nền y học dân tộc nước ta. Chính ông là người Việt Nam đầu tiên nêu phương châm "Nam dược trị nam nhân" (Thuốc nam chữa bệnh cho người Việt Nam) [11]. Sau Tuệ Tĩnh, mãi đến thời Dụ Tông xuất hiện Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác (1721-1792). Ông là người am hiểu về y học, sinh lý học, đọc nhiều sách thuốc và đã viết bộ "Lãn Ông tâm lĩnh" gồm 66 quyển đề cập tới nhiều vấn đề về y dược.
Ngoài sự kế thừa "Nam dược thần hiệu" của Tuệ Tĩnh, Ông đã bổ sung thêm 329 vị thuốc mới. Hải Thượng Lãn Ông cũng đã mở trường đào tạo Y sinh, truyền bá tư tưởng và hiểu biết của mình về y học. Do vậy, Ông được mệnh danh là ông tổ sáng lập ra nghề thuốc Việt Nam [15]. Đời Tây Sơn và nhà Nguyễn (1788-1883) có Nguyễn Quang Tuân với các bộ sách "Nam dược", "Nam dược chỉ danh truyền", "La Khê phương dược".
Trong các bộ sách trên, tác giả đã đề cập đến 500 vị thuốc nam trong dân gian dùng để chữa bệnh. Ngoài ra, trong thời kỳ này còn có Lê Đức Huệ với "Nam thiên Đức Bảo toàn thư", đề cập 511 vị thuốc nam và bệnh học [15]. Đến Thế kỷ 21, công trình đầu tiên phải kể đến là "Produits medicinaux" (1928) của Crevost - nhà thực vật người Pháp, trong đó ông đã mô tả 368 cây thuốc và vị thuốc là các loài thực vật có hoa. Đến năm 1952, 7 Petelot đã bổ sung và xây dựng thành bộ "Les plantes medicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam" gồm 4 tập, đã thống kê 1482 vị thuốc thảo mộc ở 3 nước Đông Dương [15].
Các công trình sau này có "Bắc Nam dược tính" (1937) của Vũ Như Lâm; "Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam" (1957) của GS. Đỗ Tất Lợi, mô tả và nêu công dụng của hơn 100 loài cây thuốc nam [15]. Đỗ Tất Lợi lại cho xuất bản cuốn "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam", trong đó đã giới thiệu hơn 500 vị thuốc có nguồn gốc thảo dược; qua nhiều lần tái bản, đến năm 2005, số loài cây thuốc được giới thiệu đã lên tới 792 loài. Trong nhiều công trình công bố sau này, đáng chú ý nhất là bộ "Từ điển cây thuốc Việt Nam" (2012) của Võ Văn Chi.
Trong công trình này đã mô tả kỹ gần 4700 loài cây thuốc Việt Nam. Đây là một công trình có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn, phục vụ cho ngành Dược và các nhà thực vật học [10]. Trong số đó trên 90% là cây hoang dại và có 144 loài đã được đưa vào “Cẩm nang Cây thuốc cần bảo vệ ở Việt Nam” [18]. Điều này cho thấy tiềm năng cây thuốc rất phong phú mà chúng ta vẫn chưa phát hiện hết trong tự nhiên và việc sử dụng chúng trong dân gian cũng như từ những nền y học cổ truyền khác của thế giới.
Hơn 20 năm qua với những thay đổi lớn về điều kiện kinh tế - xã hội như: chia tách tỉnh, tốc độ công nghiệp hóa của cả nước, diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp do nạn khai thác gỗ bừa bãi, phá rừng làm nương rẫy, trồng cây công nghiệp (Cà phê, Cao su) hoặc xây dựng các công trình dân sự.