Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở trên Thế giới Nền trí thức bản địa của nhân loại từ thời thượng cổ đến nay, con người vẫn luôn coi trọng cây cỏ như một nguồn thuốc chủ yếu để chữa bệnh và bảo vệ sức khoẻ. Lịch sử dùng cỏ cây làm thuốc của các dân tộc vùng lãnh thổ được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra các bằng chứng xác thực.
Trong cuốn "Lịch sử niên đại cây cỏ" ấn hành năm 1878, Charles Pikering đã chỉ rõ: ngay từ năm 4271 trước Công nguyên người dân khu vực Trung Cận Đông đã sử dụng nhiều loài cây (sung, vả, cau dừa,.) để làm lương thực và chữa bệnh [30]. Dựa trên các bằng chứng khảo cổ, Borisova chỉ ra rằng, vào khoảng 5.000 năm trước Công nguyên, cây thuốc được sử dụng rộng rãi và vì vậy là mục tiêu chiếm đoạt trong những cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc. Như vậy, tầm quan trọng của các cây thuốc được loài người nhận thức rất sớm; việc thu thập, nhập nội các giống cây thuốc quí hiếm được thực hiện ngay từ thời cổ đại bởi các chiến binh. Dược thảo ở châu Âu rất đa dạng và phần lớn dựa trên nền tảng của y học truyền thống cổ điển.
Người đầu tiên phải kể đến là Galen, một thầy thuốc của Hoàng đế La Mã. Ông đã viết hàng trăm cuốn sách và đã được áp dụng trong ngành Y châu Âu hơn 1500 năm [1]. Ở châu Phi, sự đa dạng của ngành dược thảo cổ truyền lớn hơn bất kì châu lục nào khác. Những bản viết tay có từ thời Ai Cập cổ đại (1950 trước Công nguyên) đã liệt kê hàng loạt cây thuốc và công dụng của chúng.
Viêc 5 mua bán dược thảo giữa các vùng Trung Đông, Ấn Độ và Đông Bắc châu Phi đã có ít nhất từ 3000 năm trước. Từ thế kỷ V đến thế kỉ XIII sau Công nguyên, các thầy thuốc Ả Rập là những người có công đầu tiên trong sự tiến bộ của ngành Y. Vào giữa thế kỷ XIII, nhà thực vật học Ibn EI Beitar đã xuất bản cuốn" Các vấn đề y khoa" thống kê chủng loại cây thuốc ở Bắc Phi [1]. Các nhà thực vật người Pháp được coi là những người đầu tiên của châu Âu nghiên cứu về thực vật Đông Nam Á, với họ sau những cánh rừng nhiệt đới còn tiềm ẩn rất nhiều giá trị.
Vào những năm đầu thế kỉ XX, trong chương trình nghiên cứu về thực vật Đông Dương, Prosea công bố 1.000 loài cây và dược liệu tại Đông Nam Á đã được kiểm chứng và gần đây (1985) tổng hợp thành cuốn sách" Medicinal plans of East and Sontheast Asia" [31]. Nói đến thảo dược châu Á không thể thiếu hai quốc gia có nền y học cổ truyền lâu đời là Trung Quốc và Ấn Độ. Lịch sử Y học Trung Quốc đầu thế kỉ thứ II đã biết dùng thuốc là các loài cây cỏ để chữa bệnh như: sử dụng nước chè (Thea sinensis L) để rửa vết thương và tắm ghẻ [24]. Trong cuốn sách " Cây thuốc Trung Quốc" (1985) đã liệt kê một loạt các cây cỏ chữa bệnh như: Rễ gấc (Momordica cochinchinensis) chữa nọc độc, viêm tuyến hạch, hạt gấc trị sưng tấy, đau khớp, sốt rét, vết thương tụ máu; Cải xoong (Nasturtium officinade) giải nhiệt, chữa lở mồm, chảy máu chân răng, bướu cổ.
Từ đời Hán Trung Quốc đã xuất bản cuốn" Thủ hậu bị cấp phương" tác giả đã kê 52 đơn thuốc chữa bệnh từ các loài cây cỏ [24]. Văn minh người Ấn Độ cổ đại phát triển cách đây 5000 năm dọc theo bờ sông Indus ở miền Nam Ấn Độ [1]. Trong bộ sử thi Vedas (1500 trước Công nguyên), chứa đựng những kiến thức phong phú về thảo dược thời đó. Nhiều loài cây được xem như cây thiêng chẳng hạn cây Trái nấm (Aegle marmelos), nó được dùng cho các vị thánh.
Những công dụng của cây thuốc này được ghi lại trong cuốn" Charaka Samhita". Sau này, vào khoảng 100 năm sau Công nguyên, một học giả người 6 Ấn Độ đã mô tả chi tiết 341 loại dược thảo cũng như những loại thuốc có nguồn gốc từ khoáng chất và động vật [1]. Y học dân tộc Bun Ga Ri "Đất nước của hoa hồng" đã coi Hoa hồng là một vị thuốc chữa được nhiều bệnh, người ta đã dùng cả hoa, lá, rễ làm thuốc tan huyết ứ và bệnh phù thũng. Ngày nay người ta đã chứng minh rằng trong cánh Hoa hồng có chứa một lượng tanin, glucosid tinh dầu đáng kể.
Tinh dầu này không chỉ để chế nước hoa mà còn được dùng để chữa nhiều bệnh [24]. Ở Đông Nam Á, người Malaixia sắc lá cây Húng chanh (Coleus amboinicus) cho phụ nữ sau sinh uống hoặc giã lá vắt nước cho trẻ uống trị sổ mũi, đau họng, ho gà…Người ta còn dùng cây Hương nhu tía giã nát đắp trị bệnh ngoài da, nước lá uống trị long đờm, đau bụng, sốt rét. Trong đó ghi nhận người dân Lào dùng vỏ cây Đại với rượu để chữa ghẻ lở, Người dân Campuchia chữa ghẻ dùng khoai Sáp; với người dân Thái Lan, cây Đại lấy nhựa mủ trộn với dầu dừa xoa ngoài da trị viêm khớp. Do tốc độ khai thác quá nhanh, nhiều loài cây hiện tại ở Đông Nam Á đang ở mức nguy cấp.
Loài Ba gạc (Rauvolfia serpentine) đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng do bị khai thác lâu đời ở Ấn Độ, Thái Lan, Srilanka. Chữa bệnh bằng cây cỏ đang dần trở thành xu hướng của thế giới. Trong khoảng gần 30 năm gần đây, Viện Ung thư Hoa Kỳ đã điều tra, sàng lọc hơn 40.000 mẫu cây thuốc, phát hiện hàng trăm cây thuốc có khả năng chữa trị bệnh ung thư, 25% đơn thuốc ở Mỹ sử dụng chế phẩm có dược tính mạnh được điều chế từ một loài Dừa cạn (Cantharanthus roseus). Đặc biệt ở Madagasca, người ta dùng cây này chữa bệnh máu trắng ở trẻ em và rất hiệu quả, làm tăng tỉ lệ sống của trẻ từ 10% lên 90% [22], [23].
Nhận thức rõ giá trị chữa bệnh của các cây thuốc chính là hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học chứa trong nguyên liệu, vì vậy nghiên cứu cây thuốc theo các nhóm hợp chất được tiến hành và đã thu được nhiều kết quả tốt. Tuy nhiên, hướng nghiên cứu này đòi hỏi kinh phí lớn, trang thiết bị hiện 7 đại và đội ngũ chuyên gia có trình độ cao. Do vậy, đây là các nghiên cứu được triển khai ở các nước phát triển và một số nước đang phát triển. Các cây thuốc chứa các nhóm hoạt chất ancanoit, flavonoit, cumarin hiện đang được quan tâm nghiên cứu [28].
Theo WHO thì mức độ sử dụng cây thuốc ngày càng cao, ở các quốc gia đang phát triển có tới 80% dân số sử dụng thuốc dân tộc. Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới và có nền y học dân tộc phát triển, nên trong số cây thuốc đã biết hiện nay có tới 80% số loài được sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền của các dân tộc. Hàng năm, nước này tiêu thụ hết 0,7 - 1,0 triệu tấn dược liệu. Tổng giá trị về thuốc có nguồn gốc thực vật trên thị trường Âu - Mỹ và Nhật Bản vào năm 1985 là hơn 43 tỷ USD.
Tại các nước có nền công nghiệp phát triển từ năm 1976 - 1980 đã tăng từ 335 triệu USD lên 551 triệu USD. Nhật Bản, năm 1979 nhập 21.000 tấn, đến năm 1980 tăng lên 22.640 tấn dược liệu, tương đương 50 triệu USD. Cây thuốc là loài cây kinh tế, nó cung cấp nhiều loài thuốc dân tộc và thuốc hiện đại trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ con người. Tuy nhiên, ngày nay do mưu cầu cuộc sống con người đã và đang gây sức ép lên sự sinh tồn các cây thuốc trên thế giới.
Nhiều loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng. Raven (1987) và Ole Harmann (1998), trong vòng hơn 100 năm trở lại đây, có khoảng 1.000 loài thực vật đang tuyệt chủng, 60.000 loài gặp rủi ro hay sự tồn tại của chúng bị đe doạ trong thế kỉ tới, một tỉ lệ không nhỏ là thực vật làm thuốc [7]. Song song với các nghiên cứu về sử dụng cây thuốc, một vấn đề cấp bách khác được đặt ra đó là việc bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc. Tại hội nghị Quốc tế về Bảo tồn cây thuốc tổ chức tại Chiềng Mai (Thái Lan) năm 1993, một lần nữa các nhà khoa học khẳng định tầm quan trọng và vai trò to lớn của cây thuốc trong sự nghiệm chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.
Đồng thời đưa ra tài liệu "Hướng dẫn bảo tồn cây thuốc"- "Guidelines on the 8 Conservation of Medicinal Plant", kêu gọi các quốc gia có những giải pháp và chương trình hành động thiết thực để bảo tồn cây thuốc [34]. Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy các quần thể của nhiều loài thực vật làm thuốc đang suy giảm trong tự nhiên chính vì vậy các nước trên thế giới đang hướng đến thực hiện chương trình quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát triển cây thuốc. Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Việt Nam Việt Nam là được công nhận là một trong 16 nước đa dạng sinh học nhất thế giới (2014) [38], nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam có một thảm thực vật vô cùng đa dạng với hơn 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch, 800 loài rêu, 600 loài nấm và hơn 2.000 loài thực vật bậc cao dùng làm thuốc [25]. Đó là nguồn tài nguyên cây thuốc rất lớn, góp phần tạo nền y học dân tộc cổ truyền đặc sắc.
Ngay từ thời Vua Hùng dựng nước, qua các văn tự Hán Nôm còn sót lại (Đại Việt sử ký ngoại ký, Lĩnh Nam chích quái liệt truyện, Long Uý bí thư.) và qua các truyền thuyết, tổ tiên ta đã biết dùng cây cỏ làm gia vị kích thích sự ngon miệng và chữa bệnh như ý dĩ (Coix lachryma - jobi (L.)) , Hoắc hương "Pogostemon cablin" (Blanco) Benth…[14], [15], [16], [17]. Đời nhà Lý nhà sư Nguyễn Minh Không đã dùng nhiều cây cỏ chữa bệnh cho dân và nhà vua vì vậy đươc tấn phong" Quốc sư". Dưới thời nhà Trần, nhà thuốc tiêu biểu nổi lên là Tuệ Tĩnh còn gọi là Nguyễn Bá Tĩnh một tiến sĩ hoàng giáp, ông đã biên soạn cuốn "Nam Dược Thần Hiệu" và "Hồng nghĩa giác tư y thư". Trong tài liệu này đã mô tả hơn 630 vị thuốc, 13 đơn thuốc chữa các loại bệnh và 37 đơn thuốc chữa bệnh thương hàn.
Ông được coi là một bậc kỳ tài trong lịch sử y học nước ta, là "Vị thánh thuốc Nam".