CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC SOẠN THẢO VÀ BAN HÀNH VĂN BẢN CỦA ĐẢNG 1. Khái quát về văn bản của Đảng 1. Khái niệm văn bản và văn bản của Đảng 1. Khái niệm về văn bản Hoạt động giao tiếp của nhân loại được thực hiện chủ yếu bằng ngôn ngữ.
Phương tiện giao tiếp này được thực hiện ngay từ buổi đầu của xã hội loài người. Với sự ra đời của chữ viết, con người đã thưc hiện được những không gian cách biệt qua nhiều thế hệ. Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ luôn luôn được thực hiện qua quá trình phát và nhận các ngôn bản. Theo nghĩa rộng, văn bản là “bản viết hoặc in, mang nội dung là những gì cần được ghi để lưu lại làm bằng chứng” hoặc “chuỗi kí hiệu ngôn ngữ hay nói chung những kí hiệu thuộc một hệ thống nào đó, làm thành một chỉnh thể mang một nội dung ý nghĩa trọn vẹn” [1,1078].
Với cách hiểu này, bia đá, hoành phi, câu đối ở đền, chùa; chúc thư, văn khế, thư lịch cổ; tác phẩm văn học hoặc khoa học, kỹ thuật; công văn, giấy tờ, khẩu hiệu, băng ghi âm, bản vẽ. ở các cơ quan, tổ chức được gọi chung là văn bản. Khái niệm này được sử dụng một cách phổ biến trong nghiên cứu về văn bản, ngôn ngữ học, văn học,. từ trước đến nay ở nước ta.
Dưới góc độ văn bản học và hành chính học, tác giả Vương Đình Quyền có đề cập đến khái niệm này trong cuốn sách Lý luận và phương pháp công tác văn thư như sau1: “Dưới góc độ văn bản học, văn bản được hiểu theo nghĩa rộng tức là: “Văn bản được hiểu là vật mang tin được ghi bằng ký hiệu ngôn ngữ nhất định”. Dưới góc độ hành chính học thì văn bản được hiểu theo nghĩa hẹp hơn: “Khái niệm dùng để chỉ công văn, giấy tờ hình thành trong hoạt động của cơ quan, tổ chức”. 7 Luan van Theo Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2020 của Chính phủ về công tác văn thư, “Văn bản” là thông tin thành văn được truyền đạt bằng ngôn ngữ hoặc ký hiệu, hình thành trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức và được trình bày đúng thể thức, kỹ thuật theo quy định [25,1]. Với nghĩa này, các loại giấy tờ dùng để quản lý, điều hành hoạt động của các cơ quan, tổ chức như Nghị quyết, Quyết định, Chỉ thị, Báo cáo, Tờ trình, Đề án.
đều được gọi là văn bản. Khái niệm này được sử dụng rộng rãi trong các cơ quan, tổ chức. Khái niệm văn bản của Đảng Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam bao gồm Bộ máy được thiết lập với hệ thống các cấp uỷ, tổ chức, cơ quan từ trung ương đến cơ sở. Đây là hệ thống lớn, tồn tại song song với các cấp chính quyền và trong hoạt động của mình, các cấp uỷ, cơ quan, tổ chức Đảng cũng như các cơ quan chính quyền phải ban hành nhiều văn bản để thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo, điều hành.
Quy định số 66 - QĐ/TW ngày 06/02/2017 của Ban Bí thư xác định: “Văn bản của Đảng là loại hình tài liệu được thể hiện bằng ngôn ngữ tiếng Việt để ghi lại hoạt động của các tổ chức Đảng, do các cấp uỷ, tổ chức, cơ quan có thẩm quyền của Đảng ban hành (hoặc phối hợp ban hành) theo quy định của Điều lệ Đảng và của Trung ương” [28,1]. Trong quy định trên, Ban Bí thư Trung ương Đảng xác định thẩm quyền ban hành, hình thức ban hành, mục đích ban hành văn bản của Đảng. Với việc ban hành văn bản, lãnh đạo các cấp uỷ, cơ quan, tổ chức Đảng có thể thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo, điều hành một cách thuận lợi trong khuôn khổ quy định của Điều lệ Đảng và các quy định của cơ quan trung ương của Đảng. Chức năng văn bản của Đảng - Chức năng thông tin: Chức năng thông tin là chức năng vốn có của mọi loại văn bản.
Trong hoạt động quản lí của cơ quan Đảng, cùng với xu hướng hội nhập, việc giao dịch giữa các cơ quan diễn ra hàng ngày với nội dung đa dạng và tính chất phức tạp. Mặc dù, các nhà lãnh đạo đã sử dụng các phương thức liên lạc, kỹ thuật công nghệ tiên tiến để truyền dạt thông tin phục vụ cho hoạt động giao dịch (điện thoại, thư fax, thư điện tử, v.v…) nhưng việc truyền đạt thông tin bằng 8 Luan van văn bản vẫn chiếm ưu thế quan trọng hàng đầu. Điều này là bởi vì văn bản hóa thông tin không chỉ đạo thuật thuận lợi để tiếp nhận thông tin cho mọi đối tượng nó còn là bằng chứng nhận xét cho những thông tin quản lý của lãnh đạo. Các thông tin trong văn bản của Đảng gồm 3 dạng với những đặc điểm riêng: • Thông tin quá khứ đó là các thông tin liên quan đến những sự việc đã được giải quyết trong quá trình hoạt động của cơ quan Đảng; • Thông tin hiện tại đó là các thông tin liên quan đến những sự việc đang diễn ra trong hoạt động quản lý của cơ quan Đảng; • Thông tin tương lai đó là các thông tin mang tính dự báo cần thiết cho lãnh đạo để xây dựng kế hoạch hành động trong thời gian sau đó nhằm định hướng cho từng lĩnh vực hoạt động của cơ quan Đảng.
- Chức năng quản lý: Chức năng quản lý của văn bản đảng được thể hiện ở vai trò là phương tiện truyền đạt các thông tin, quyết định quản lý của lãnh đạo đến các đối tượng quản lý. Nhờ việc văn bản hóa thông tin mà phát lãnh đạo của các cơ quan đại có thể quản lý điều hành các hoạt động của cơ quan một cách thuận lợi trong phạm vi không gian và thời gian. - Chức năng định hướng chính trị: Là chức năng đặc thù của văn bản của Đảng. Thực chất, đó là chức năng lãnh đạo được thể hiện qua vai trò lãnh đạo của Đảng.
Theo quy định của pháp luật Đảng Cộng sản Việt Nam Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị Việt Nam, trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Lãnh đạo thực hiện mục tiêu chính trị của đất nước các tổ chức chính trị xã hội tham gia vào quá trình lãnh đạo của Đảng để thực hiện mục tiêu chính trị của đất nước, đồng thời lãnh đạo thực hiện mục tiêu chính trị của mỗi tổ chức. Với chức năng định hướng chính trị, các văn bản của Đảng là cơ sở dữ liệu để các cơ quan của Đảng và Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội tổng hợp, nghiên cứu và làm căn cứ xây dựng văn bản phục vụ cho hoạt động quản lý điều hành cơ quan tổ chức mình. 9 Luan van - Một số chức năng khác - có thể kể đến như chức năng thống kê chức năng văn hóa xã hội hay chức năng thống kê, cụ thể là: Văn bản của Đảng cũng như nhiều loại văn bản khác là sản phẩm sáng tạo của con người, được hình thành trong quá trình nhận thức lao động, để tổ chức xã hội.
Do đó, nó mang nhiều yếu tố văn hóa xã hội, phản ánh nguồn gốc hoạt động của xã hội và trong nhiều trường hợp, nó còn thể hiện chức năng văn hóa xã hội. Để tổng kết kinh nghiệm diễn lưu giữ lịch sử hình thành và phát triển xã hội của tổ chức, các nhà lãnh đạo các cơ quan Đảng còn sử dụng văn bản với mục đích thống kê. Trong các hoạt động của cơ quan thống kê cán bộ, bộ máy tổ chức, v. nhờ có số liệu thống kê qua các văn bản mà các nhà lãnh đạo quản lý có thể theo dõi một cách có hệ thống mọi hoạt động trong cơ quan tổ chức mình.
Đồng thời, nhờ có số liệu thống kê mà người dân có thể theo dõi được quá trình hoạt động của đảng trong trường hợp này chức năng thống kê của văn bản của Đảng được thể hiện rõ nét. Ý nghĩa của văn của Đảng - Ý nghĩa về phương diện chính trị: Với chức năng định hướng chính trị, văn bản của Đảng được ban hành có ý nghĩa chính trị, thể hiện được vai trò lãnh đạo thực hiện mục tiêu chính trị của đất nước. Với vai trò là lực lượng lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và xã hội, các cơ quan Đảng lãnh đạo bằng cách đề ra các chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội và chỉ đạo các lực lượng xã hội khác, mà trực tiếp là Đảng thực hiện các chủ trương đường lối đó. Như vậy, có nghĩa là, nếu văn bản chủ trương đường lối của Đảng đúng đắn, sẽ là phương tiện để Đảng và các lực lượng xã hội khác thực hiện có kết quả, đưa quốc gia phát triển phù hợp với xu hướng chung của thời đại.
Đồng thời, việc Nhà nước triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng xét cho cùng cũng là thực hiện mục tiêu chính trị của đất nước. - Ý nghĩa về phương diện quản lý: Theo đó thông qua việc ban hành văn bản, Các đã truyền đạt các thông tin, 10 Luan van quyết định quản lý của mình đến các đối tượng quản lý, giúp các nhà lãnh đạo có thể quản lý, hoạt động của cơ quan một cách thuận lợi trong phạm vi không gian và thời gian. Khi các nhà lãnh đạo thực hiện được mục đích quản lý của mình thông qua các văn bản ban hành, có ý nghĩa rất lớn. Xét phương diện quản lý, đó là hoạt động không thể thiếu, quan trọng bậc nhất trong mỗi cơ quan của Đảng.
- Ý nghĩa về phương diện xã hội: Văn bản của Đảng có ý nghĩa xã hội, thông qua chức năng văn hoá – xã hội của nó. Nghĩa là, với đặc trưng là sản phẩm sang tạo của con người, được hình thành trong quá trình nhận thức, lao động để tổ chức xã hội. Văn bản của Đảng mang yếu tố văn hoá – xã hội và làm một loại văn bản được thừa nhận trong hệ thống văn bản quản lý của các tổ chức tham gia quản lý xã hội trong thế giới đương đại. Như vậy, văn bản của Đảng không chỉ có ý nghĩa trên phương diện quản lý với vai trò là phương tiện truyền đạt cho thông tin phục vụ cho hoạt động quản lý, điều hành của lãnh đạo, mà nó còn là sản phẩm xã hội hiện hữu được đặc trưng bởi sự sáng tạo của con người trong các hoạt động xã hội.