CHƯƠNG I. Tổng quan về công nghệ, sản phẩm và thiết kế miết Miết là một phương pháp gia công kim loại bằng áp lực để tạo hình chi tiết rỗng từ phôi phẳng hoặc phôi rỗng dưới tác dụng của lực công tác làm biến dạng dẻo cục bộ theo quỹ đạo xác định trên phôi quay. Công nghệ miết ép tạo hình được biết đến từ nhiều thế kỷ trước. Ban đầu những người thợ thủ công sử dụng các thiết bị thô sơ để miết tạo hình các tấm kim loại mỏng để tạo ra các đồ mỹ nghệ, vật dụng dạng tròn xoay như nồi, bình hoa.
Người ta sớm thấy rằng các sản phẩm tròn xoay rỗng bằng vàng, bạc, đồng… được làm bằng cách này rất dễ dàng thực hiện, người thợ kim hoàn đã truyền cảm hứng nghệ thuật vào việc tạo hình mà không cần qua nhiều khuôn mẫu. Công nghệ miết ép được áp dụng nhiều vào đồ dân dụng, công nghiệp, đặc biệt là những năm thế kỷ 19. Vật liệu sử dụng chế tạo sản phẩm lúc này đã xuất hiện cả hợp kim nhôm, thép, các hợp kim có độ bền cao… Ngày nay, công nghệ miếp ép đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực công nghiệp khác nhau: hóa dầu, chế tạo máy, hàng dân dụng… sản phẩm được chế tạo từ công nghệ này rất đa dạng, từ các chi tiết rộng nhỏ vài mm đến các đáy bình áp suất đường kính 3/4m. Các chi tiết có hình dạng từ tròn xoay tới hình dạng rất phức tạp, trong công nghiệp hóa chất, hóa dầu, hàng không vũ trụ… cũng đã thực hiện bằng công nghệ miết ép.
Sản phẩm miết rất đa dạng và phong phú về chủng loại, hình dáng và kính thước, cũng như vật liệu của sản phẩm. Các ngành công nghiệp ứng dụng công nghệ miết là: công nghệ sản xuất hàng tiêu dùng, công nghệ sản xuất ô tô, công nghệ quốc phòng… Do đặc điểm của công nghệ miết là biến dạng cục bộ từng phần của sản phẩm nên công suất đòi hỏi của thiết bị miết nhỏ hơn rất nhiều so với công suất của thiết bị khác dùng để chế tạo (bằng phướng pháp biến dạng) cùng một số loại sản phẩm đó. Miết cũng áp dụng trong sản xuất loại nhỏ vì khi chế tạo khuôn dập vuốt mất nhiều thời gian và hiệu quả kinh tế không cao. Máy miết vạn năng có thể thực hiện các nguyên công sau.
- Miết chi tiết dạng rỗng dạng tròn xoay (biến mỏng và không biến mỏng) - Là phẳng bề mặt chi tiết 4 Luan van Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TPHCM GVHD: Ths. Trần Mai Văn Khoa Chất Lượng Cao - Miết cổ hẹp của các phôi trụ rỗng - Cắt và cuốn mép Ống thành mỏng độ bền cao chịu áp lực lớn được dụng nhiều trong công nghiệp hàng không, quân sự, chế tạo thiết bị thủy lực… Để ống chịu được áp lực cao, vật liệu cần được chế tạo để có tổ chức phù hợp có độ bền kết cấu lớn, thớ kim loại hình thành theo chiều xoắn hướng tiếp tuyến của ống. Các ống chế tạo bằng phương pháp miết ép thỏa mãn các yêu cầu trên với giá thành không quá đắt. Do ống có kết cấu với độ bền cao, nhẹ, nên đã được dùng nhiều trong chế tạo các chi tiết quan trong trong tên lửa, máy bay, vũ khí.
Công nghệ này thay thế cho việc dùng các vật liệu hợp kim đặc biệt với những công nghệ phức tạp. Các phương pháp tạo hình tấm truyền thống Phương pháp biến dạng kim loại bằng áp lực, hay công nghệ biến dạng tạo hình là một phương pháp công nghệ, vừa là công nghệ chuẩn bị - tạo phôi cho công nghệ cơ khí vừa là công nghệ tạo hình sản phẩm cuối cùng, không những cho phép tạo ra hình dáng, kích thước sản phẩm mà còn cho sản phẩm kim loại một chất lượng cao về tính chất cơ – lý – hóa, tiết kiệm nguyên vật liệu, và cho năng suất lao động cao, từ đó hạ giá thành sản phẩm. Là dạng công nghệ duy nhất cùng một lúc biến đổi hình dáng kích thước và tổ chức kim loại, nên chúng được ứng dụng khi yêu cầu chất lượng sản phẩm cao. Trong điều kiện biến dạng và xử lý nhiệt nhất định, tổ chức kim loại thay đổi: phá bỏ tổ chức đúc, tạo tổ chức thớ, làm nhỏ hạt tinh thể, tạo tectua, phá vỡ và làm phân tán các hạt tạp chất, nhờ đó làm tăng tính bền, độ dai va đập, khả năng chịu mỏi, chịu va đập, tăng tuổi thọ sản phẩm.
Sản phẩm của Công nghệ áp lực rất đa dạng, gia công nhiều loại vật liệu. Có thể tạo ra trạng thái siêu dẻo, gia công với biến dạng lớn hoặc gia công các vật liệu khó biến dạng. Trải qua một thời gian phát triển lâu dài, ngành công nghệ kim loại mới được các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết, phân loại dựa trên các đặc điểm về gia công tạo hình. Các công nghệ gia công áp lực cổ điển như: Cán, Kéo, Ép, Rèn, Dập, chiếm trên 80% tổng sản lượng các sản phẩm kim loại tấm và đang tiếp tục hoàn thiện công nghệ, bảo đảm năng suất chất lượng sản phẩm.
Mặt khác, cùng với thế mạnh về công nghệ so với các phương pháp sản xuất cơ khí khác như dập vuốt, miết dựa trên sự biến dạng cục bộ từng phần của sản phẩm nên lực 5 Luan van Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TPHCM GVHD: Ths. Trần Mai Văn Khoa Chất Lượng Cao công nghệ yêu cầu nhỏ hơn rất nhiều, dẫn đến yêu cầu về trang thiết bị nhỏ gọn hơn do đó phù hợp với sản xuất loạt nhỏ, hay đơn chiếc. Hiện nay trên thế giới, các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Nga, Đức… đã đạt được rất nhiều thành tựu trong việc áp dụng công nghệ miết để chế tạo những chi tiết khó, phức tạp. Họ cũng đã sản xuất được các máy miết hiện đại được điều khiển theo chương trình số có công suất lớn ứng dụng mạnh mẽ vào công nghiệp nặng.
Các máy miết chuyên dụng được thiết kế để chế tạo một số chủng loại sản phẩm xác định có kiểu dáng kích thước phù hợp với chủng loại sản phẩm đó. Tuy nhiên trong tình hình phát triển công nghệ miết mạnh mẽ trên thế giới như vậy, thì với điều kiện sản xuất của nước ta, các cơ sở sản xuất cơ khí chưa thể chế tạo ra các máy miết chuyên dụng hiện đại, mà chủ yếu hoạt động trên các máy CNC công suất vừa và lớn được điều khiển theo chương trình số đều được nhập từ nước ngoài với giá thành rất cao. Chính điều đó đã hạn chế rất lớn đến việc ứng dụng, phát triển công nghệ miết ở nước ta hiện nay. Đồng thời đặt ra cho các nhà khoa học hoạt động trong lĩnh vực cơ khí nước nhà bài toán cần đi tìm lời giải là làm sao ứng dụng, phát huy được công nghệ miết với những ưu thế vượt trội vào điều kiện sản xuất của nước ta hiện nay.2 Giới thiệu về công nghệ tạo hình gia tăng (Incremental Sheet Forming - ISF) 1.
Mô tả: ISF là kỹ thuật tạo hình không khuôn cho vật liệu tấm. ISF sử dụng một dụng cụ đầu tròn chạy theo một quỹ đạo xác định được điều khiển bằng chương trình số làm biến dạng tấm kim loại được kẹp chặt trên bàn máy hoặc đồ gá để tạo ra hình dáng sản phẩm mong muốn. Vật liệu tấm có thể là kim loại hoặc polymer. Dụng cụ được gắn trên máy điều khiển số, có thể là máy ISF chuyên dùng hoặc máy CNC ba trục hoặc cánh tay robot.
Từng lớp vật liệu theo phương ngang sẽ biến dạng dẻo cục bộ liên tục trong suốt quá trình gia công để hình thành nên hình dạng cuối cùng của sản phẩm [2]. Bề dày của mỗi lớp phụ thuộc vào bước tiến theo phương thẳng đứng ∆z của quỹ đạo dụng cụ. Các bước trong quy trình ISF được mô tả trong (Hình 1.4): 1) Phôi được kẹp chặt trên đồ gá. 2) Dụng cụ đi xuống và tiếp xúc với phôi.
3) Dụng cụ chuyển động theo quỹ đạo để tạo hình lớp đầu tiên. 6 Luan van Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TPHCM GVHD: Ths. Trần Mai Văn Khoa Chất Lượng Cao 4) Dụng cụ lặp lại chuyển động để tạo hình các lớp tiếp theo cho đến hết quỹ đạo.1 (a): Các bước trong quy trình ISF Với kỹ thuật này, một chi tiết kim loại tấm chỉ được gia công trong thời gian ngắn từ mô hình CAD mà không cần qua các công đoạn làm khuôn và sửa khuôn vốn phức tạp và đắt tiền.1 (b): Quy trình ISF Quy trình ISF được mô tả như hình 1. Mô hình 3D của sản phẩm kim loại tấm được thiết kế trên các phần mềm CAD (AutoCad, Creo, Solidwork hoặc Catia, …), hoặc được xuất ra từ các phần mềm 3D khác theo các chuẩn IGES, STEP.
Từ dữ liệu 3D CAD này, thông qua các ứng dụng CAM (Creo hay Catia, …), quỹ đạo của dụng cụ và các thông số công nghệ (vận tốc vòng của dụng cụ, bước tiến, chiều sâu, …) được thiết lập. Thông tin về quỹ đạo dụng cụ và thông số công nghệ chứa trong tập tin mà máy CNC đọc được. Quá trình gá đặt phôi lên máy CNC được thực 7 Luan van Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TPHCM GVHD: Ths. Trần Mai Văn Khoa Chất Lượng Cao hiện thông qua đồ gá chuyên dùng, đồng thời tiến hành đưa chương trình vào máy và gia công.
Việc chuẩn bị gia công trong phương pháp ISF mất ít thời gian và linh hoạt vì hầu hết các quá trình hiệu chỉnh và thay đổi thiết kế đều được thực hiện trên phần mềm. Mặc dù năng suất không cao bằng phương pháp dập nhưng ISF rất phù hợp trong việc tạo mẫu sản phẩm, trong sản xuất đơn chiếc và sửa chữa. Đặc biệt, ISF có thể được ứng dụng trong y học để tạo ra các mãnh xương nhân tạo bằng thép không gỉ vốn cứng, khó gia công và số lượng rất hạn chế. Trong trường hợp này, ISF được thực hiện kết hợp với gia nhiệt cho chi tiết và công nghệ Scan 3D.3 Phân loại ISF: Phương pháp ISF được phân biệt thành hai hình thức khác nhau là tạo hình gia tăng đơn điểm (Single Point Incremetal Forming – SPIF) và tạo hình gia tăng hai điểm (Two Point Incremental Forming – TPIF) 1.4 SPIF: SPIF được mô tả trên (Hình 1.
Đây là phương pháp tạo hình gia tăng dùng dụng cụ tác dụng lực lên một mặt của tấm vật liệu được kẹp chặt xung quanh còn mặt kia để biến dạng tự do. Dụng cụ vừa quay quanh trục của nó vừa tịnh tiến theo quỹ đạo được lập trình sẵn. Trong quá trình tạo hình, dụng cụ và tấm vật liệu chỉ tiếp xúc với nhau theo một điểm và có chất bôi trơn để giảm ma sát.