ĐẶT VẤN ĐỀ: Năng lƣợng, đặc biệt là điện năng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Điện năng đƣợc sản xuất từ các dạng năng lƣợng khác nhau nhƣ: cơ năng của dòng nƣớc, nhiệt năng của than đá, dầu mỏ… các nhà máy điện thƣờng đƣợc xây dựng tại nơi có các nguồn năng lƣợng để đảm bảo tính kinh tế và trong sạch về môi trƣờng. Do đó, xuất hiện vấn đề tải điện đi xa và phân phối điện đến nơi tiêu thụ. Trong quá trình truyền tải và phân phối điện năng đã phát sinh sự tổn thất khá lớn.
Đây là một bộ phận cấu thành chi phí lƣu thông quan trọng của ngành điện. Trong các biện pháp nhằm giảm giá thành điện, giảm tổn thất điện năng là một biện pháp quan trọng mang lại hiệu quả kinh tế cao không chỉ đối với ngành điện mà còn đối với cả xã hội. Thật vậy, ngành điện là ngành độc quyền, nên việc giảm tổn thất điện năng giúp cho nhà nƣớc không phải bù lỗ, Ngân sách Nhà nƣớc đƣợc đảm bảo, đƣợc sử dụng vào các mục đích khác có lợi hơn. Về phía doanh nghiệp, sẽ khai thác, sử dụng vào tối ƣu nguồn điện, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho ngành.
Đối với ngƣời tiêu dùng, đƣợc sử dụng điện với chất lƣợng cao, giá điện vừa phải, phù hợp với mức sinh hoạt. Trong trƣờng hợp lƣợng điện tổn thất với tỷ lệ cao. Do đây chính là một bộ phận cấu thành nên chi phí sản phẩm, nên khi tỷ lệ tổn thất cao tất yếu sẽ dẫn đến giá thành điện cao. Công ty kinh doanh điện muốn có lợi nhuận để thực hiện tái đầu tƣ thì giá bán phải cao hơn giá thành sản phẩm, giữa giá bán và giá thành là mối quan hệ tỷ lệ thuận.
Giá bán điện cao, theo quy luật cung - cầu, dẫn đến sản lƣợng điện tiêu thụ giảm. Đối với ngành điện, đây là một thiệt hại lớn, ngành sẽ thu hồi vốn lâu, nhƣ vậy, việc sử dụng đồng vốn không hiệu quả, tất yếu dẫn Học viên: Nguyễn Thị Phƣợng 15 Chuyên ngành KTĐ-TBĐ 10-12 Luận văn thạc sĩ khoa học Trƣờng đại học Bách Khoa Hà Nội đến phá sản. Nền kinh tế quốc dân cũng bị thiệt hại rất lớn, bởi ngành điện có một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, khi ngành điện không tự mình phát triển đi lên thì Nhà nƣớc phải bù lỗ bằng Ngân sách Chính phủ, mà nguồn ngân sách Chính phủ đƣợc thu từ các thành phần kinh tế.
Vậy, gánh nặng ngân sách buộc các thành phần kinh tế muốn tồn tại phải tăng giá bán sản phẩm của mình, dẫn đến tình trạng hạn chế tiêu dùng. Đây không phải là điều mong muốn của thị trƣờng, của các doanh nghiệp. Điều này làm cho nền kinh tế bị đình trệ, sản phẩm hàng hoá không đƣợc lƣu thông. Vậy tổn thất điện năng vô hình chung đã kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội.
Ngƣợc lại, tỷ lệ tổn thất điện năng thấp sẽ mang lại lợi ích hết sức to lớn cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung và ngành điện nói riêng. Theo số liệu tính toán và thống kê năm 2003, nếu giảm tổn thất điện năng xuống 0,5% thì sẽ tiết kiệm đƣợc trên 100 triệu KWh, tƣơng đƣơng 5 vạn tấn nhiên liệu tiêu chuẩn không phải đốt và ít nhất tiết kiệm đƣợc hàng trăm triệu đồng cho Nhà nƣớc. Giảm đƣợc tổn thất điện năng tức là giảm đƣợc tỷ lệ thiết bị phát điện của nhà máy, đồng thời giảm đƣợc nhiên liệu tiêu hao,…Điều đó ảnh hƣởng trực tiếp đến việc cải thiện đời sống nhân dân, góp phần vào việc giảm chi phí cho toàn bộ quá trình sản xuất, tạo điều kiện hạ giá thành bán điện cho các hộ dùng điện, kích thích tiêu dùng. Đối với các hộ sử dụng điện để sản suất, giá điện giảm sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng thêm thu nhập thực tế.
Các sản phẩm hàng hoá đƣợc kích thích tiêu dùng hơn do giá bán thấp, sức mua tăng lên. Đối với Nhà nƣớc, tổn thất điện năng giảm, ngành điện tiêu thụ đƣợc nhiều điện, có lợi nhuận nên Nhà nƣớc không phải bù lỗ, Ngân sách Nhà nƣớc đƣợc sử dụng đầu tƣ vào các công việc có ích khác, tạo sự phát triển đồng đều cho xã hội. Ngƣời dân, hộ sử dụng điện đƣợc dùng điện với giá thấp, chất lƣợng cao: điện áp cố định, tần số ổn định do hệ thống điện đƣợc đầu tƣ mới, không còn hiện tƣợng câu móc điện làm cho điện sử dụng bị sụt tải,…nên độ bền của các Học viên: Nguyễn Thị Phƣợng 16 Chuyên ngành KTĐ-TBĐ 10-12 Luận văn thạc sĩ khoa học Trƣờng đại học Bách Khoa Hà Nội máy móc, thiết bị cao hơn. Không còn xảy ra các tình trạng tai nạn về điện đáng tiếc do vi phạm sử dụng điện, sự cố do điện gây ra: phóng điện, chập điện,… Từ nhiều năm qua, ngành điện đã quan tâm phấn đấu giảm tổn thất điện năng, và đã đạt đƣợc những kết quả rất đáng khích lệ.
Nhƣng ngành điện là ngành sản xuất kinh doanh chủ chốt, ngành động lực cho nền kinh tế quốc dân, đặc biệt trong tình hình đất nƣớc đang thiếu điện nghiêm trọng. Phấn đấu giảm đến thấp nhất tổn thất điện năng trở thành nhu cầu cấp bách không chỉ của ngành điện mà của toàn xã hội. Ngày 31/08/1991, Chủ tịch Hội đồng bộ trƣởng đã ra chỉ thị số 256 – CT và giao cho B ộ Năng lƣợng cùng một số cơ quan chức năng Nhà nƣớc xây dựng và chỉ đạo chƣơng trình giảm tổn thất điện năng. Bộ trƣởng Bộ Năng lƣợng có quyết định thành lập Ban chủ nhiệm chƣơng trình giảm tổn thất điện năng (TTĐN) của Bộ năng lƣợng có sự tham gia của Văn phòng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ, Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trƣờng, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Toà àn nhân dân tối cao.
Dƣới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ trƣởng Bộ Năng lƣợng, Ban chủ nhiệm chƣơng trình giảm TTĐN, bộ máy lãnh đạo quản lý của ngành điện Trung ƣơng đến các cơ sở, toàn thể cán bộ công nhân viên ngành điện cùng với các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể các tỉnh, thành phố và địa phƣơng trong cả nƣớc đã nỗ lực phấn đấu bằng mọi biện pháp kinh tế- kỹ thuật, tổ chức quản lý, pháp luật, trật tự an ninh,…tuyên truyền vận động và cƣỡng chế, thực hiện thành công chƣơng trình giảm TTĐN, phấn đấu giảm TTĐN đến mức thấp nhất có thể đạt đƣợc. Theo EVN, năm 2003 Việt Nam giảm đƣợc 1% điện năng tổn thất sẽ tiết kiệm đƣợc 237.400MW, tƣơng ứng với gần 179 tỷ đồng (tổng sản lƣợng điện phát ra năm 2003 là 7. Việc giảm tổn thất điện năng có ý nghĩa rất lớn đối với toàn xã hội từ Nhà nƣớc đến ngành điện, các hộ tiêu dùng. Chính vì lẽ đó nên tổn thất điện năng đã, đang và sẽ còn là vấn đề quan trọng, là mục tiêu số một của ngành điện cần đƣợc giải quyết.
Giảm tổn thất điện năng là một vấn đề cần thiết không chỉ đối với ngành điện, không chỉ đối với riêng Điện Việt Nam mà đối với ngành điện các Học viên: Nguyễn Thị Phƣợng 17 Chuyên ngành KTĐ-TBĐ 10-12 Luận văn thạc sĩ khoa học Trƣờng đại học Bách Khoa Hà Nội nƣớc trên thế giới. Giảm tổn thất điện năng có một ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế quốc dân và ngành điện. Làm thế nào để giảm tổn thất điện năng đến mức thấp nhất có thể vẫn là một câu hỏi rất lớn và là mục tiêu hàng đầu của toàn ngành điện. Trong đánh giá về tình hình tiêu thụ điện năng thì tính toán tổn thất điện năng là quan trọng và không thể thiếu đƣợc.
Đặc biệt là tính toán tổn thất điện năng của máy biến áp. Máy biến áp là thiết bị quan trọng trong hệ thống truyền tải và phân phối điện. Nhờ có máy biến áp mà việc truyền tải điện từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ rất kinh tế, hiệu quả, giảm tổn hao năng lƣợng trên đƣờng truyền, tiết kiệm trọng lƣợng và chi phí dây dẫn. Mỗi ngày trên thế giới có hàng chục triệu máy biến áp phân phối điện hoạt động.
Các máy biến áp đó làm nhiệm vụ cấp điện áp thích hợp cho các phụ tải. Công suất của các máy biến áp có thể từ vài chục cho với vài nghìn kVA. Máy biến áp phân phối ở nƣớc ta thƣờng có cấp điện áp là 35kV, 22kV, 10kV, 6kV/0,4kV để cấp điện cho đa số các thiết bị điện công nghiệp và dân dụng. Khi MBA làm việc, có hai loại tổn hao chính là: Tổn hao sắt và tổn hao đồng.
Trong trƣờng hợp gần đúng coi tổn hao sắt là tổn hao không tải. Tổn hao không tải là tổn hao trong lõi dẫn từ. Tổn hao trong lõi dẫn từ bao gồm tổn hao dòng xoáy và tổn hao từ trễ. - Tổn hao dòng xoáy + tỉ lệ thuận với: B - cảm ứng từ d - độ dày của lá thép f - tần số từ trƣờng xoay chiều + tỉ lệ nghịch với: γ - Khối lƣợng riêng vật liệu ρ - điện trở suất.
Muốn giảm tổn hao dòng xoáy thì vật liệu dẫn từ phải đƣợc chế tạo thành các lá thép mỏng, điện trở suất cao và dùng ở tần số thấp. Học viên: Nguyễn Thị Phƣợng 18 Chuyên ngành KTĐ-TBĐ 10-12 Luận văn thạc sĩ khoa học Trƣờng đại học Bách Khoa Hà Nội - Tổn hao từ trễ đƣợc đặc trƣng bởi đƣờng cong từ trễ của vật liệu và thông số quan trọng tạo ra chu trình trễ là lực kháng từ Hc, lực kháng từ Hc càng nhỏ thì tổn hao từ trễ sẽ nhỏ. Sự phát triển của Khoa học - công nghệ đã có nhiều loại vật liệu từ mềm với đặc tính ngày càng tốt hơn và tổn hao ít hơn. Sau đây, là một số vật liệu từ mềm : - Tôn silic: Là hợp kim của sắt (khoảng 85%), với Silic (Si), hoặc chứa thêm khoảng 5,4% nhôm (Al), còn đƣợc gọi là hợp kim Sendust, là một trong những vật liệu sắt từ mềm đƣợc dùng phổ biến nhất có độ cứng cao, có độ từ thẩm cao và tổn hao trễ thấp.
Tuy nhiên, vật liệu này trên nền kim loại, nên có điện trở suất thấp. - Hợp kim Permalloy: Là hợp kim của niken (Ni) và sắt (Fe), có lực kháng từ rất nhỏ, độ từ thẩm rất cao (vật liệu Ni 75Fe25 có độ từ thẩm ban đầu lớn tới 10000), có độ bền cơ học và khả năng chống ăn mòn cao. Tuy nhiên, permalloy có từ độ bão hòa không cao. - Hợp kim FeCo: là các hợp kim từ mềm có từ độ bão hòa cao, nhiệt độ Curie cao.