CHƯƠNG 1: CÁC HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI 1. Các hoạt động khoa học và công nghệ của giảng viên, nghiên cứu viên Với mục tiêu gia tăng hàm lượng ứng dụng công nghệ vào các hoạt động giảng dạy của mình, Trường Đại học Mở Hà Nội đang triển khai rất nhiều các hoạt động Khoa học và Công nghệ. Các hoạt động này đã thu hút được sự quan tâm và tham gia của rất nhiều giảng viên trong các Khoa, Phòng và Trung tâm. Với những chính sách hỗ trợ hiệu quả nên số lượng các hoạt động Khoa học và Công nghệ của cán bộ, giảng viên trong Trường ngày càng gia tăng về số lượng và chất lượng.
Nhằm quản lý tốt hơn các hoạt động này đã có nhiều quy định được ban hành vì vậy số lượng các minh chứng cho từng hoạt động cũng gia tăng. Hơn nữa, số lượng các hoạt động cũng ngày càng tăng khi số lượng giảng viên, nghiên cứu viên của Trường tăng lên nhờ có chính sách thu hút nhân tài của nhà Trường. Những khó khăn trong việc lưu trữ minh chứng Hiện nay, các hoạt động Khoa học và Công nghệ mà cán bộ, giảng viên trong Trường đang thực hiện: - Các chương trình, đề án NCKH và phát triển công nghệ, đề tài NCKH cấp Quốc gia, cấp Bộ và tương đương, đề tài NCKH cấp Trường. - Tham gia tuyển chọn chủ trì nhiệm vụ KHCN - Biên soạn bài giảng, xây dựng nội dung học liệu điện tử, tài liệu tham khảo, bài tập, hướng dẫn thí nghiệm.
Biên soạn giáo trình in nội bộ. - Biên soạn giáo trình xuất bản, tái bản có bổ sung; Biên soạn sách chuyên khảo. - Công bố kết quả nghiên cứu trên các kỷ yếu, tạp chí. - Thẩm định nội dung học liệu điện tử, phản biện bài báo trên tạp chí Khoa học Viện Đại học Mở Hà Nội.
- Thẩm định giáo trình và phản biện các nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ. 10 - Hướng dẫn sinh viên NCKH. - Tham gia hội thảo cấp Khoa, cấp Trường, trong nước và quốc tế. Với rất nhiều các hoạt động Khoa học và Công nghệ được triển khai tại các Khoa, Phòng và Trung tâm thì việc quản lí các minh chứng liên quan đến các hoạt động này gặp phải các vấn đề: - Số lượng các minh chứng là rất lớn.
Mỗi một hoạt động Khoa học và Công nghệ yêu cầu rất nhiều tài liệu kèm theo để báo cáo kết hoạt, ghi nhận các hoạt động đã thực hiện. Các minh chứng này bao gồm: o Các tài liệu trong khâu chuẩn bị thực hiện: tờ trình, giấy mời tham dự, thuyết minh đề tài, o Các quyết định thành lập hội đồng tuyển chọn cá nhân thực hiện hoạt động Khoa học và Công nghệ, quyết định giao đề tài. o Các biên bản, o Các báo cáo thực hiện/triển khai o Các hợp đồng thuê khoán, thanh lý chuyên môn. - Chủng loại minh chứng là rất đa đạng, có thể là các bản quét của các tài liệu được lưu dưới dạng các ảnh số hoặc định dạng PDF (portable document format, một định dạng tệp tin văn bản phổ biến được phát triển bởi Adobe Systems).
Các minh chứng khi lưu trữ dưới dạng các định dạng tệp có thể bị thay đổi mà không thể xác định được những thay đổi đó do không có bản gốc để đối sánh. - Việc quản lý các minh chứng của các hoạt động Khoa học và Công nghệ gặp nhiều khó khăn ngay cả đối với cán bộ (là người sở hữu các minh chứng). Các minh chứng này cần được phân loại, đánh số và sắp xếp theo thời gian. Vì vậy, nếu không có cách thức tổ chức lưu trữ một cách khoa học thì việc tra cứu khi cần sẽ mất rất nhiều thời gian.
Thời gian tra cứu có thể tăng lên khá nhiều khi chủ sở hữu của các minh chứng không thực hiện số hoá các minh chứng. - Khi số hoá các minh chứng của các hoạt động Khoa học và Công nghệ để lưu trữ và quản lý, thì không gian lưu trữ cũng sẽ là một vấn đề lớn khi mà dung lượng để lưu trữ các minh chứng sẽ lớn dần theo thời gian. 11 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ CHUỖI KHỐI Công nghệ chuỗi khối (blockchain) là một sổ cái mở và phân tán. Nó sử dụng một cấu trúc dữ liệu chỉ bổ sung (thêm mới), nghĩa là các giao dịch và dữ liệu mới có thể được thêm vào một chuỗi khối, nhưng dữ liệu cũ thì không thể bị xoá.
Điều này giúp tạo ra một bản ghi dữ liệu và giao dịch vĩnh viễn và có thể kiểm chứng giữa hai hoặc nhiều bên. Từ đó giúp tăng tính minh bạch, trách nhiệm cho các hệ thống kinh tế và xã hội. Lịch sử và tổng quan về công nghệ chuỗi khối 2. Lịch sử hình thành và phát triển Vào năm 2009 khi Bitcoin gia nhập thị trường với giá trị là 0.06 đô la Mỹ cho một Bitcoin, lúc này không nhiều người quan tâm đến loại tiền kỹ thuật số/mật mã này.
Khi giá của một bitcoin tăng lên đến 19,000 đô la Mỹ vào tháng 12 năm 2017, công nghệ chuỗi khối (công nghệ được sử dụng để tạo ra bicoin) đã trở thành từ khoá được tìm kiếm nhiều nhất trên Internet và tạo nên một cơn bão thu hút rất nhiều nhà đầu tư trên thế giới. Lịch sử của bitcoin được bắt đầu vào năm 2008, trong thời kỳ khủng hoảng tiền tệ toàn cầu (GFC – Global Financial Cristic), một người được biết đến với cái tên Satoshi Nakamoto đã công bố một bài báo khoa học, Bitcoin: Một hệ thống tiền điện tử dạng đồng đẳng (A peer to peer Electronic Cash System). Một hệ thống cung cấp cơ chế cho phép thực hiện các thanh toán trực tuyến giữa hai bên tham gia mà không cần sự chứng thực của bên thứ ba [8]. Tác giả Satoshi đã đưa ra các giải quyết vấn đề chi lặp lại/chi kép (double spending) trong các hệ thống tiền kỹ thuật số và thanh toán trực tuyến.
Đây là lỗ hổng đã tồn tại rất lâu trong các hệ thống tiền kỹ thuật số, cho phép một thông tin về một khoản tiền kỹ thuật số có thể được sử dụng để chi trả hai lần. Điều này đến từ thực tế là tiền kỹ thuật số khác với tiền mặt khi có thể được nhân bản hoặc làm sai lệch. Bằng cách đưa ra cơ chế chống giả mạo khi thực hiện liên kết mọi giao dịch với giao dịch trước đó. Năm 2014 đánh dấu sự phát triển mới của công nghệ chuỗi khối khi mà công nghệ này đã được ứng dụng vào nhiều công nghệ khác, vượt ra khỏi ứng dụng ban đầu 12 là tiền mật mã (cryptocurrency).
Công nghệ chuỗi khối đã được ứng dụng cả vào lĩnh vực tài chính, đặc biệt là trong các ngân hàng để bảo vệ các giao dịch của khách hàng. Hiện nay, công nghệ này đã được phát triển với nhiều phiên bản khác nhau: Công nghệ blockchain 1.0 (tiền điện tử và thanh toán): với việc ứng dụng trong tiền mật mã Bitcoin, hỗ trợ mọi giao dịch liên quan đến chuyển đổi tiền tệ, kiểu hối và thanh toán kỹ thuật số trong phạm vi tiền điện tử. Công nghệ blockchain 2.0 (tài chính và thị trường): với sự ra đời của hợp đồng thông minh (smart contract) giúp giảm bớt sự trung gian, tăng mức độ tin tưởng. Công nghệ blockchain 3.0 (thiết kế và giám sát hoạt động): blockchain được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khác như y tế, giáo dục, chính phủ hay nghệ thuật.
Công nghệ blockchain 4.0 (doanh nghiệp và ứng dụng giao dịch): giúp tạo ra các ứng dụng giao dịch hoạt động nhanh chóng và hiệu quả. Công nghệ chuỗi khối có thể được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm máy tính, cơ sở dữ liệu, mật mã, hệ thống tiền tệ và hệ thống thanh toán, và các mạng lưới thông tin. Các đặc điểm nền tảng của công nghệ chuỗi khối 2. Phi tập trung Trước khi công nghệ chuỗi khối được hình thành, tất cả các hệ thống đều lưu trữ thông tin và hoạt động một cách tập trung.
Chẳng hạn như các ngân hàng, nơi lưu giữ tiền và tất cả các khách hàng muốn thực hiện các giao dịch phải thông qua các dịch vụ được cung cấp bởi ngân hàng. Các dịch vụ tập trung có nhiều ưu điểm nhưng cũng bộ lộ một số nhược điểm: § Dữ liệu được lưu trữ tập trung tại một nơi khiến nó trở thành một mục tiêu dễ dàng cho những kẻ tấn công. § Nếu một hệ thống tập trung thực hiện việc nâng cấp, nó sẽ tạm dừng toàn bộ các hoạt động của hệ thống. Đây là vấn đề thường thấy trong các hệ thống ngân hàng, các giao dịch sẽ bị ngưng khi hệ thống thực hiện việc bảo trì hoặc nâng cấp.
§ Nếu một hệ thống tập trung bị tắt một cách đột ngột, không người dùng nào có thể truy nhập được thông tin bên trong hệ thống. 13 § Nếu hệ thống tập trung xảy ra lỗi, có thể toàn bộ dữ liệu sẽ bị mất mát. Đối với hệ thống blockchain phi tập trung thì dữ liệu sẽ được phân tán trên toàn mạng lưới. Mỗi một nút trong mạng sẽ lưu trữ thông tin riêng và có thể truy cập mà không cần đến bên thứ ba làm trung gian.
Minh bạch Sự minh bạch trong blockchain thể hiện một cách hạn chế. Ở đây minh bạch không được hiểu theo nghĩa là bất kỳ ai cũng có thể nhìn thấy được các hoạt động hay dữ liệu bên trong các hệ thống. Mà là blockchain cũng cấp quyền riêng tư cho người dùng và che giấu danh tính của họ bằng cách sử dụng các kỹ thuật mật mã phức tạp và chỉ hiển thị địa chỉ công khai của họ. Vì vậy, danh tính thực của người dùng được bảo vệ nhưng những người khác sẽ nhìn thấy được tất cả các hoạt động (giao dịch) được thực hiện bởi địa chỉ công khai của người dùng.
Mức độ minh bạch này chưa bao giờ tồn tại trong một hệ thống tài chính truyền thống. Chẳng hạn như trong hệ thống ngân hàng, hai khách hàng thực hiện việc chuyển tiền cho nhau thì chỉ có ngân hàng là có thể nhìn thấy được các giao dịch này. Hoặc trong hệ thống bỏ phiếu điện tử truyền thống, chỉ có người quản trị viên mới có thể nhìn thấy được ai là người đã bỏ phiếu hay cử tri cụ thể nào đã thực hiện bỏ phiếu. Đối với hệ thống được xây dựng dựa trên công nghệ blockchain thì những người trong hệ thống sẽ nhìn thấy các thành viên trong hệ thống (thông qua địa chỉ công khai của họ) và thấy được việc họ đã bỏ phiếu hay chưa.
Tất nhiên, họ sẽ không thể biết được kết quả của phiếu được bỏ mà chỉ có thể giám sát được những ai đã bỏ phiếu những ai chưa.