ĐẶT VẤN ĐỀ Cây lúa (Oryza sativa L.) là cây lƣơng thực chính của hơn một nửa dân số thế giới, tập trung tại các nƣớc châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Lúa gạo có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lƣơng thực và ổn định xã hội. Thế giới đang có nguy cơ thiếu hụt lƣơng thực do dân số tăng nhanh, biến đổi khí hậu toàn cầu ngày càng nghiêm trọng: tình trạng nắng nóng, khô hạn kéo dài, bão lụt., quá trình đô thị hoá ngày càng nhanh đã làm giảm đáng kể diện tích sản xuất lúa. Việt Nam là quốc gia xuất khẩu lúa đứng thứ hai thế giới.
Giá trị kinh tế của cây lúa không chỉ làm lƣơng thực cho con ngƣời, thức ăn cho gia súc, gia cầm, mà nó còn cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp khác nhau nhƣ: Công nghệ dƣợc phẩm, công nghiệp chế biến bia, rƣợu, cồn, sơn, mỹ phẩm, xà phòng… Ngoài ra, còn có sản phẩm phụ (rơm, rạ) dùng trong sản xuất giấy, nấm ăn, nấm dƣợc liệu, phân hữu cơ, biochar và là nguồn thức ăn không thể thiếu cho ngành chăn nuôi. Tuy vậy, một vấn đề đặt ra là ngƣời sản xuất lúa gạo phải làm sao cho năng suất cao nhất đó là trở ngại, băn khoăn hiện nay. Dù biết rằng năng suất lúa đƣợc quyết định bởi bốn yếu tố chính là giống, phân bón, nguồn nƣớc và khâu chăm sóc, cùng với mức độ thâm canh cao, tăng mùa vụ thì sự xuất hiện dịch hại ngày càng nghiêm trọng, nhất là cỏ dại ngày càng khó phòng trừ. Cỏ dại đƣợc xem là một trong bốn nhóm dịch hại quan trọng nhất trên ruộng lúa, cùng với sâu hại, bệnh hại và chuột.
Cỏ dại cạnh tranh ánh sáng, dinh dƣỡng và nƣớc với cây lúa, là nơi trú ngụ, lƣu tồn và lan truyền nhiều loại sâu, bệnh hại khác nguy hiểm. Cỏ dại cũng là nơi trú ẩn của chuột phá hại lúa. Hạt cỏ lẫn trong lúa sau thu hoạch làm giảm chất lƣợng và giá trị của lúa gạo. Thiệt hại do cỏ dại gây đối với lúa là rất lớn.
Theo thống kê ở các nƣớc trồng lúa châu Á, cỏ dại có thể làm giảm tới 60% năng suất lúa, trong đó nhóm cỏ chác lác chiếm trên 50% thiệt hại (Nguyễn Mạnh Chinh và Mai Thành Phụng, 1999). Ở nƣớc ta có nhiều yếu tố làm ảnh hƣởng đến năng suất lúa, trong đó thiệt hại do cỏ dại là một trong những nhân tố chính. Trung bình cỏ dại làm giảm năng suất lúa sạ khoảng 46% (Dƣơng Văn Chín, 2000). Việc quản lý cỏ dại trên ruộng lúa đã đƣợc các nhà khoa học nhiều nƣớc trên thế giới quan tâm nghiên cứu nhằm góp phần khắc phục thiệt hại về năng suất cho nhiều vùng trồng lúa khác nhau.
Những năm gần đây, cỏ dại trên ruộng lúa đã trở thành một trong những dịch hại quan trọng nhất tại Việt Nam nói chung và ở các tỉnh miền Trung nói riêng. Ở Quảng Nam cỏ dại trên ruộng lúa hầu nhƣ khó kiểm soát triệt để, điều này hằng năm đã làm ảnh hƣởng đến năng suất đáng kể. Toàn tỉnh diện tích lúa cả năm Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 2 khoảng 42.000 ha/năm, nơi đây có điều kiện về đất đai, con ngƣời, khí hậu và có nguồn nƣớc dồi dào, hệ thống thuỷ lợi từ các con sông lớn nhƣ: sông Thu Bồn, sông Vu Gia và các hồ đập lớn nhƣ: Hồ thủy điện Sông Tranh 2, hồ Phú Ninh, hồ Đông Tuyển, hồ Phƣớc Hà,. kết hợp với nhiều hệ thống kênh mƣơng đạt chuẩn đã cung cấp lƣợng nƣớc lớn tƣới tiêu hàng năm đầy đủ, kịp thời nhất tạo điều kiện cho nông dân thâm canh cây lúa nƣớc.
Quảng Nam có hai vụ lúa chính trong năm vụ Hè Thu từ tháng 5 đến tháng 9, vụ Đông Xuân từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Thời gian triển khai giữa vụ Hè Thu và Đông Xuân dài thuận lợi cho việc chuẩn bị đất, vệ sinh đồng ruộng, giống. Tuy nhiên bên cạnh những điều kiện thuận lợi vẫn còn có những mặt hạn chế khi tiến hành làm đất cày ải, cách quản lý nguồn nƣớc,…thời gian cho nƣớc không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, cộng với sự tích lũy mật số cỏ dại trong đất qua nhiều vụ liên tục đã làm cỏ dại ngày càng phát triển mạnh gây thiệt hại đáng kể đến năng suất lúa. Đặc biệt, trong vụ Đông Xuân, cỏ dại phát triển mạnh do khoảng cách thời vụ kéo dài, lƣợng cỏ dại rơi rụng sau thu hoạch lớn nên cỏ mọc lại để gây hại, nên nông dân sử dụng nhiều lần thuốc trừ cỏ (từ 2 đến 3 lần/vụ) làm tăng chi phí ph ng trừ cỏ dại mà hiệu quả không cao.
Việc phòng trừ cỏ dại hại lúa ở các tỉnh miền Trung nói chung và tại Quảng Nam nói riêng còn lạm dụng về thuốc trừ cỏ. Đặc biệt thuốc trừ cỏ có chứa hoạt chất pretilachlor đã đƣợc sử dụng tại Quảng Nam cũng trên 20 năm. Quan sát từ thực tiễn sản xuất cho thấy năng suất lúa giảm, tăng chi phí sử dụng thuốc trừ cỏ để phòng trừ, tỉ lệ cỏ dại mọc trong ruộng lúa gia tăng. Điều này đặt ra giả thuyết, liệu các quần thể cỏ dại ở tỉnh Quảng Nam có thể đã làm ảnh hƣởng đến năng suất lúa và phát triển tính kháng thuốc trừ cỏ.
Chính vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu Đề tài: “Điều tra tình hình cỏ dại hại lúa và nghiên cứu khả năng kháng thuốc trừ cỏ chứa hoạt chất pretilachlor đối với cỏ lồng vực ở tỉnh Quảng Nam” là hết sức cần thiết. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI Xác định tình trạng gây hại, biện pháp phòng trừ cỏ dại hại lúa tại tỉnh Quảng Nam và tính kháng thuốc trừ cỏ chứa hoạt chất pretilachlor đối với cỏ lồng vực. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 3. Ý NGHĨA KHOA HỌC Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp những dẫn liệu khoa học nhằm bổ sung các thông tin về tác hại của cỏ dại và góp thêm cơ sở cho việc xây dựng biện pháp phòng trừ cỏ dại hại lúa.
Ý NGHĨA THỰC TIỄN - Đề tài cung cấp những dẫn liệu nhằm bổ sung các thông tin về việc phòng trừ cỏ dại hại lúa ở tỉnh Quảng Nam. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 3 - Xác định tính kháng thuốc trừ cỏ chứa hoạt chất pretilachlor của cỏ lồng vực ở tỉnh Quảng Nam. - Giúp ngƣời dân hiểu nhiều hơn về mối nguy hại từ cỏ dại và cách quản lý cỏ dại hiệu quả nhất. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tầm quan trọng và giá trị kinh tế của cây lúa 1. Giá trị dinh dưỡng Gạo là thức ăn giàu dinh dƣỡng, so với lúa mì, gạo có thành phần tinh bột và protein thấp hơn, nhƣng năng lƣợng tạo ra cao hơn do chứa nhiều chất béo hơn (Bảng 1.
Ngoài ra, nếu tính trên đơn vị 1 hecta, gạo cung cấp nhiều calo hơn lúa mì do năng suất lúa cao hơn nhiều so với lúa mì. Thành phần hóa học của lúa gạo so với 3 loại hạt ngũ cốc Chỉ tiêu Gạo lúa Bắp Cao lƣơng Gạo lứt (Tính trên trọng lƣợng khô) mì Protein N x 6,25% 12,3 11,4 9,6 8,5 Chất béo % 2,2 5,7 4,5 2,6 Chất đƣờng bột % 81,1 74,0 67,4 74,8 Chất xơ % 1,2 2,3 4,8 0,9 Tro % 1,6 1,6 3,0 1,6 Năng lƣợng Calo/100g 436 461 447 447 Thiamin (B1) (mg/100g) 0,52 0,37 0,38 0,34 Riboplavin ( B2) (mg/100g) 0,12 0,12 0,15 0,05 Niacin( B3) (mg/100g) 4,3 2,2 3,9 4,7 Fe (mg/100g) 5,0 4,0 10,0 3,0 Zn (mg/100g) 3,0 3,0 2,0 2,0 Lysine ( g/16g N) 2,3 2,5 2,7 3,6 Threonine ( g/16g N) 2,8 3,2 3,3 3,6 Methionine + Cystine ( g/16g N) 3,6 3,9 2,8 3,9 Tryptophan ( g/16g N) 1,0 0,6 1,0 1,1 Nguồn: Mccanco và Widdowson,1960, Khan và Eggum,1978 và Eggum,1979 Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 1. Giá trị sử dụng và thương mại Giá trị sử dụng Ngoài cơm ra, gạo còn dùng để chế biến nhiều loại bánh, làm môi trƣờng để nuôi cấy niêm khuẩn, men, cơm mẻ,…cất rƣợu, cồn,…Ngƣời ta không thể nào thống kê hết công dụng của nó. Cám hay đúng hơn là các lớp vỏ ngoài của hạt gạo do chứa nhiều protein, chất béo, chất khoáng, vitamin, nhất là vitamin nhóm B, nên đƣợc dùng làm bột dinh dƣỡng trẻ em và điều trị ngƣời bị bệnh phù thủng.
Cám là thành phần cơ bản trong thức ăn gia súc, gia cầm và trích lấy dầu ăn,… Trấu ngoài công dụng làm chất đốt, chất độn chuồng còn dùng làm ván ép, vật liệu cách nhiệt, cách âm, chế tạo carbon và silic,… Giá trị thương mại Trên thị trƣờng thế giới, giá gạo xuất khẩu tính trên đơn vị trọng lƣợng cao hơn rất nhiều so với các loại hạt ngũ cốc khác. Nhìn chung, giá gạo xuất khẩu cao hơn gạo lúa mì từ 2- 3 lần và hơn bắp hạt từ 2 - 4 lần. Thời điểm khủng hoảng lƣơng thực trên thế giới vào khoảng những năm 1970 đã làm giá cả các loại ngũ cốc trên thị trƣờng thế giới tăng vọt đột ngột: Giá gạo từ 147 USD/tấn (1972) tăng lên đến 350 USD/tấn (1973), lúa mì từ 69 (1972) lên 137 USD/tấn (1973) và bắp từ 56 (1972) lên 98 USD/tấn (1973). Giá gạo đạt đỉnh cao vào năm 1974 là 542 USD/tấn, trong khi gạo thơm đặc sản Basmati (gạo số 1 thế giới) lên đến 820 USD/tấn.
Sau đó, giá gạo giảm dần và tăng lên trở lại trên 430 USD/tấn trong những năm 1980 - 1981 để rồi giảm xuống và có khuynh hƣớng ổn định ở khoảng 200 - 250 USD/tấn, tức vẫn ở mức gấp đôi giá lúa mì và gấp 3 bắp. Nhìn chung, từ năm 1975 - 1995 giá gạo thế giới biến động khá lớn và ở mức cao. Giá gạo thế giới trong những năm 90 biến động khá lớn, trong đó năm 1993 thấp nhất, sau đó tăng dần lên và tƣơng đối ổn định từ năm 1997-1998. Giá gạo Việt Nam (5% tấm) bán trên thị trƣờng thế giới ở mức trung bình từ 220-290 USD/tấn.
Từ năm 2000 trở đi, giá gạo thế giới tăng đều và ổn định ở mức 10% năm. Đầu năm 2016 giá gạo trên thị trƣờng thế giới tiếp tục tăng và ổn định. Giá gạo Thái Lan bán trên thị trƣờng thế giới ở mức trung bình từ 390-400 USD/tấn, Ấn Độ (5% tấm) 370-380 USD/tấn, Pakistan (5% tấm) 345-355 USD/tấn, Campuchia (5% tấm) 445-455 USD/tấn, Myanmar (5% tấm) 415-425 USD/tấn, Mỹ (4% tấm) 430-440 USD/tấn và Việt Nam (5% tấm) trung bình 365-375 USD/tấn (Bảng 1.) Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Bảng 1.