Chương 1. Tổng quan nghiên cứu liên quan đến cơ chế thử nghiệm Trình bày tổng quan những nghiên cứu, đánh giá liên quan đến vấn đề cơ chế thử nghiệm trên thế giới. Nhận định về tình hình nghiên cứu cơ chế thử nghiệm và các kết quả nghiên cứu tại Việt Nam, qua đó đưa ra những khoảng trống trong nghiên cứu mà đề tài có thể khai thác. Cơ sở lý luận về cơ chế thử nghiệm và hoạt động Fintech Chương này trình bày quá trình phát triển, hệ thống lý thuyết về cơ chế thử nghiệm và khái niệm Fintech, giúp người đọc hiểu ban chất của van dé nghiên cứu.
Quá trình hình thành cơ chế thử nghiệm trong hoạt động Fintech tại Việt Nam Phân tích thực trạng phát triển và quản lý hoạt động Fintech, từ đó nêu ra sự cấp thiết trong triển khai cơ chế thử nghiệm tại Việt Nam. Trọng tâm chương phân tích những thuận lợi, thách thức và bất cập trong quá trình xây dựng cơ chế thử nghiệm tại Việt Nam. Cuối cùng là dự báo ảnh hưởng tích cực và rủi ro tiềm ân đối với Việt Nam khi cơ chế thử nghiệm được chính thức được áp dung > Chương 4. Kinh nghiệm quốc tế trong quá trình xây dựng cơ chế thử nghiệm và dé xuất giải pháp cho Việt Nam Đưa ra những minh chứng về tác động tích cực khi áp dụng cơ chế thử nghiệm trên thế giới, cùng với kinh nghiệm của Trung Quốc, Indonesia và một số quốc gia thành công trong quá trình áp dụng.
Từ đó đề xuất biện pháp phù hợp với Việt Nam dé sớm hoàn thiện và áp dụng hiệu quả cơ chế thử nghiệm trong hoạt động Fintech. TONG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN DEN CO CHE THU NGHIEM 1. Tông quan nghiên cứu ngoài nước Thời gian qua, các nghiên cứu về cơ chế thử nghiệm — Sandbox gia tăng đáng bởi hiệu quả của nó trong quản lý các hoạt động đổi mới sáng tạo ở nhiều nước trên thế giới. Trong bối cảnh hoạt động Fintech phát triển mạnh mẽ, các nhà hoạch định chính sách nhận ra những lợi ích Fintech mang lại, tuy nhiên sự tăng trưởng quá nhanh lại có khả năng gây ra sự rối loạn trong thị trường tài chính vốn dé cao tính 6n định (Lev Bromberg và cộng sự, 2017).
Với nỗ lực thúc đây hoạt động Fintech, đồng thời ngăn ngừa rủi ro và bảo vệ người tiêu dùng, Cơ quan quản lý tài chính Vương quốc Anh (FCA) đã tạo ra Cơ chế thử nghiệm (Regulatory Sandbox) vào năm 2015. Sandbox cung cấp cho các công ty Fintech một môi trường thử nghiệm được kiểm soát, trong đó họ có thể phát triển sản phẩm của mình và phát hành cho một số lượng khách hàng nhất định (Aldasoro và cộng sự, 2020). Quá trình phát triển trong Sandbox được cơ quan quản lý giám sát chặt chẽ, nhưng các Fintech cũng được tạo điều kiện về mặt pháp lý, chính sách hỗ trợ và lộ trình phát triển trong tương lai. Mặt khác, cơ quan quản lý sử dụng Sandbox như một công cụ dé tìm hiểu về các thức vận hành, tác động tích cực cũng như xác định rủi ro từ các Fintech trước khi hợp pháp hóa và sản phẩm được tung ra thị trường (Giulio Cornelli và cộng sự, 2020).
Nhiều nghiên cứu cho răng mục tiêu chính của Sandbox là thúc đây các hoạt động đổi mới sáng tạo nói chung và Fintech nói riêng bằng cách gián tiếp giúp các công ty tiếp cận nguôn tài chính ở giai đoạn đầu phát triển. Bởi khi các công ty phát triển sản phẩm hoặc dịch vụ chưa được quy định rõ ràng trong văn bản luật, họ sẽ đối mặt 18 với những thách thức khi tạo sự tin tưởng với nhà đầu tư, khó khăn khi huy động vốn và mở rộng thị trường, dẫn tới sự phát triển yếu kém của lĩnh vực Fintech (Wechsler và cộng sự, 2018; Schizas và cộng sự, 2019). Tuy nhiên, đây chỉ là một trong những mục tiêu của Sandbox. Thực chất mục tiêu cuối cùng được nhiều nhà nghiên cứu và tổ chức quốc tế xác định là tạo lập môi trường pháp lý thử nghiệm cho các công ty cung ứng giải pháp Fintech, qua đó giúp cơ quan quản lý định hình được bản chất, quy trình cũng như các rủi ro tiềm ân của các loại hình dich vụ Fintech, từ những bang chứng thực nghiệm đó có thé ban hành được khuôn khổ pháp lý, quản lý chính thức cho lĩnh vực này (Jayoung James Goo và Joo-Yeun Heo, 2020; World Bank, 2020; CGAP, 2019; FCA, 2015).
Sandbox thường được coi là giải pháp tất yếu dé phát triển Fintech, nhưng thực chất Sandbox là phương tiện để cơ quan quản lý rút ra những thông tin cần thiết, từ đó xây dựng cơ sở pháp lý, quy định điều chỉnh dé toàn bộ thị trường được hưởng lợi (Dan Quan, 2020). Lợi ích của cơ chế thử nghiệm được đề cập trong các văn bản quy định mà các quốc gia áp dụng ban hành, cũng như các nghiên cứu của các tô chức kinh tế trên trên giới. Sandbox cùng các chính sách hỗ trợ tích cực từ cơ quan quản lý được các chuyên gia coi là động lực tăng trưởng quan trọng của lĩnh vực Fintech (Cumming và Schwienbacher, 2018). Nhiều nghiên cứu cho răng sự phát triển của các công ty nhỏ hoặc mới khởi nghiệp bị ảnh hưởng nhiều bởi các quy định Nhà nước, thực tế đa phần doanh nghiệp Fintech sở hữu những công nghệ riêng biệt nhưng lại có quy mô nhỏ.
Do vậy các quốc gia có chính sách thuận lợi sẽ không làm triệt tiêu khả năng sáng tạo hay làm cản trở tốc độ phát triển của Fintech (Mark Brnovich, 2017; EY, 2017). Mặt khác, nhũng quy định khắt khe đôi với các lĩnh vực mới mẻ, băt nguôn từ sự lo lăng của cơ quan quản lý về 19 những rủi ro trong hệ thống tài chính là hoàn toàn hợp lý. Tuy việc này dẫn tới những khó khăn trong hoạt động của doanh nghiệp, nhưng lại giúp bảo vệ các nhà đầu tư và người tiêu dùng trước hàng loạt sản phẩm dich vụ vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro như Fintech (EY, 2017). Sandbox gần như giải quyết đồng thời hai van đề trên, cho phép giảm các rào cản gia nhập thị trường, thúc đây khả năng tiếp cận nguồn vốn và giảm chi phí tư van pháp lý cho các công ty Fintech.
Đồng thời giảm thiểu rủi ro xuống tối thiêu nhờ sự giới hạn về thời gian và quy mô khách hàng sử dụng sản phẩm đó, cho phép các cơ quan quản lý yêu cầu doanh nghiệp phải có biện pháp bảo vệ người tiêu dùng trước khi chúng được đưa ra thị trường đại chúng (CB Insights, 2019). Mặc dù đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới và nhận được sự chú ý của giới lập pháp, nhưng lại có rất ít nghiên cứu định lượng kiểm chứng liệu Sandbox có thực sự mang lại tác động tích cực tới quá trình phát triển Fintech hay không (Giulio Cornelli và cộng sự, 2020; Ross P. Buckley và cộng sự, 2020). Thực tế điều này là hợp lý bởi đa phần các quốc gia cho phép áp dụng Sandbox từ năm 2018, khoảng thời gian cho đến nay là chưa đủ để cơ chế này thực sự phát huy và ảnh hưởng tới thị trường Fintech.
Các nghiên cứu định lượng chủ yếu chọn đối tượng là những quốc gia có thời gian áp dụng Sandbox từ 3 năm trở lên. Bằng cách thu thập số liệu về lượng vốn do các Fintech tại Vương quốc Anh trong giai đoạn 2014 — 2019, trên cả hai nhóm công ty tham gia và không tham gia Sandbox, Giulio Cornelli và cộng sự (2020) đã xác định sự ảnh hưởng của Sandbox tới khả năng tiếp cận vốn của các Fintech. Nghiên cứu khăng định Fintech tham gia Sandbox có sự gia tăng 15% tổng số vốn huy động được so với các công ty không tham gia, xác suất huy động vốn cũng cao hơn đáng ké lên tới 50%. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với những điều kiện 20 thuận lợi mà môi trường Sandbox mang lại, như là giảm thiểu thông tin bất cân xứng, giảm chỉ phí thủ tục và sự không chắc chắn trong các quy định điều chỉnh.
Một nghiên cứu khác với quy mô và số lượng quốc gia nghiên cứu rộng hơn của Jayoung James Goo và Joo-Yeun Heo (2020) cũng khăng định việc áp dụng Sandbox đóng vai trò quan trọng trong sự gia tăng dòng vốn đầu tư mạo hiểm vào hệ sinh thái Fintech. Nghiên cứu lựa chọn nhóm 9 quốc gia dé phân tích hồi quy và so sánh quy mô đầu tư với nhóm 9 quốc gia khác, kết quả cho thấy tổng số tiền đầu tư trung bình của các nước áp dụng Sandbox tăng lên trong những năm gần đây và cao hơn nhóm nước chưa áp dụng. Những kết quả nghiên cứu trên chính là bằng chứng quan trọng giải thích tác động tích cực của Sandbox đối với hoạt động Fintech, giúp các nhà hoạch định chính sách có cơ sở dé lựa chọn giải pháp này. Nhận định của giới nghiên cứu đối với cơ chế thử nghiệm là rất tích cực, nhưng cũng có những quan điểm khác về hiệu quả và ảnh hưởng chúng tới hoạt động đổi mới sáng tạo (Dan Quan, 2020; Allen, 2019).
Ví dụ như Hester (2018) cho rằng Sandbox có thể trở thành rào cản, thậm chí làm chậm đi quá trình đổi mới sáng tạo. Một nghiên cứu khác thì cho răng cơ chế này có thể tạo ra một cuộc chơi không công bằng với các doanh nghiệp được cấp phép tham gia và những doanh nghiệp năm ngoài Sandbox, thậm chí ảnh hưởng tiêu cực với người tiêu dùng (Jemima Kelly, 2018). Số lượng sản phẩm hoặc dịch vụ tham gia Sandbox thành công ít hơn nhiều so với những trường hợp không được cấp phép ra thị trường, khiến cho các cơ quan quản lý không chấp nhận rủi ro, lo sợ về những thất bại hoặc không có sự linh hoạt trong sự thay đôi cơ chế quản lý thường sẽ không muốn áp dụng Sandbox (Dan Quan, 2020). 21 Ap dung hiệu qua cơ chế thử nghiệm đòi hỏi cơ quan quản lý phải có hiểu biết vững chắc về thị trường Fintech vốn có nhịp độ thay đổi nhanh.
Điều này không thể có được nếu chỉ thông qua những nghiên cứu lý thuyết đơn thuần, mà cần sự chia sẻ thông tin từ các doanh nghiệp Fintech. Cơ quan quản lý còn nhận được phản hôi chính sách từ doanh nghiệp, từ đó đưa ra các quyết định sáng suốt hơn (Dan Quan, 2020). Kết hợp với văn bản hướng dẫn tham gia rõ ràng, điều kiện thầm định dự án minh bạch sẽ tạo ra cơ sở cho một Sandbox thành công (Giulio Cornelli và cộng sự, 2020). Tuy nhiên các cơ quan quản lý không nên coi Sandbox là con đường duy nhất dé khuyến khích đổi mới sáng tạo.