Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Khái niệm về chuyển giao tiến bộ KHKT Chuyển giao tiến bộ KHKT nông nghiệp tới nông dân theo ý hiểu chung là quá trình đưa các tiến bộ KHKT và công nghệ đã được khẳng định là đúng đắn trong thực tiễn áp dụng vào sản xuất tại nông hộ. Khái niệm trên bao gồm nhiều thành phần cơ bản [10].
Chuyển giao là một quá trình: gồm nhiều bước, nhiều giai đoạn đòi hỏi tiêu tốn một khoảng thời gian nhất định. Thời gian không chỉ dành cho việc xác lập các mối quan hệ, định hướng hành vi đối tác, mà còn phụ thuộc vào thời gian sinh trưởng và phát dục của đối tượng sinh học, thường chiếm phần lớn nội dung của quá trình chuyển giao. Chuyển giao thông qua nhiều kênh giao tiếp, và mỗi kênh lại liên quan đến nhiều đối tác tham gia khác nhau, với cơ chế vận hành và kiểm soát khác nhau. Đề cập tới vấn đề này, cần vận dụng tốt kết quả của các nghiên cứu về hành vi ứng xử con người, giúp cho việc vận hành hệ thống hoàn hảo.
Đối tượng chuyển giao đa dạng, không chỉ là những tiến bộ KH&CN đã được khẳng định tính đúng đắn do các tổ chức KH&CN nghiên cứu và phát triển, mà còn bao gồm cả những tiến bộ do nông dân tự thân đúc rút tổng kết từ kinh nghiệm thực tiễn. Mặc dù đối tượng chuyển giao rất đa dạng song có cùng chung một điều kiện cần thiết là cần phải được kiểm chứng tính đúng đắn bằng thực nghiệm, trước khi chuyển giao tới người nông dân. Trên thực tế, đã xảy ra việc chuyển giao một số đối tượng chưa được kiểm chứng thực nghiệm đầy đủ nên đã gây nên tác động tiêu cực tới sản xuất nông nghiệp và môi trường, ví dụ trước đây đã có một thời khuyến khích nông dân nuôi ốc bươu vàng để phát triển kinh tế hộ, mà chưa được kiểm chứng đầy đủ, đã gây nên nạn ốc bươu vàng tàn phá mùa màng và môi trường nông nghiệp nông c 5 thôn. Vì vậy, đặc điểm chung này của các tiến bộ KH&CN đem đi chuyển giao cần thiết phải được quan tâm đầy đủ trong quá trình thiết kế chương trình chuyển giao.
Đề cập tới khía cạnh quyền sở hữu và quyền sử dụng công nghệ, khái niệm chuyển giao được phát biểu một cách chặt chẽ hơn, tập trung vào quyền hạn của đối tác tham gia chuyển giao đối với đối tượng chuyển giao là công nghệ. “Chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ” (Luật chuyển giao công nghệ, điều 3, khoản 8). Như vậy, khi đối tượng tiến bộ KH&CN đã được đăng kí quyền sở hữu và quyền sử dụng trước pháp luật thì sẽ chịu chi phối bởi khái niệm này. Trên thực tế, khi đối tác tham gia vào quá trình chuyển giao này là các công ty và tổ chức có tư cách pháp nhân thì họ thường tìm tới hình thức chuyển giao mà bản chất của việc chuyển giao được mô tả qua khái niệm ở trên.
Đối với nông dân, với đặc điểm sản xuất nhỏ lẻ, manh mún và có xuất phát điểm đầu tư thấp, bản chất của việc chuyển giao tiến bộ KH&CN tới hộ không hoàn toàn là một thương vụ mà ở đó quyền sở hữu và quyền sử dụng cần phân biệt rõ ràng, mà bản chất sự việc thường được hiểu như là một trong những biện pháp xúc tiến phát triển sản xuất và khuyến khích hướng dẫn người dân phát huy tối đa hiệu quả sản xuất của họ. Các phương thức chuyển giao tiến bộ KHKT Chuyển giao tiến bộ KHKT là một quá trình trao đổi phát sinh trong đời sống kinh tế của con người, đã trải qua một thời gian dài phát triển và có một cơ sở lý luận phong phú và hệ thống. Quá trình này đã phát triển qua nhiều phương thức chuyển giao khác nhau bao gồm: chuyển giao công nghệ (TOT), chuyển giao công nghệ ứng dụng (Adoptive Technology Transfer- ATT), nghiên cứu hệ thống nông nghiệp (Farming System Research-FSR) (Ellis, 1992). Gần đây, một phương thức chuyển giao mới đã hình thành từ c 6 thực tế đòi hỏi, đó là phương thức chuyển giao nghiên cứu có sự tham gia của người dân (Farmer Participatory Research-FPR) (Daniel, 1997).
Hầu hết các phương thức chuyển giao này đều hình thành và phát triển theo tư duy lý luận của con người và thực tiễn của phát triển yêu cầu. Tổng kết lại các phương thức này sử dụng các cách tiếp cận tiêu biểu. Cách tiếp cận thứ nhất là theo kiểu chuyển giao từ trên xuống (top-down), mang tính tuyến tính, một chiều với công nghệ chuyển giao từ các tổ chức nghiên cứu, trường đại học. tới nông dân.
Cách tiếp cận này bản thân nó đã bộc lộ cách thức áp đặt một chiều, nhiều khi không giải quyết triệt để các vấn đề cụ thể của thực tiễn cơ sở. Cách tiếp cận thứ hai là từ dưới lên (bottom-up), thường được hiểu ngược lại với cách tiếp cận top- down. Mặc dù cách tiếp cận này có thể giải quyết trực tiếp từng vấn đề nhỏ song chính như vậy lại làm cho mọi thức trở nên phức tạp, thiếu đi yếu tố tổng thể vĩ mô và thường chắp vá. Vì vậy, phối hợp cả 2 cách tiếp cận trên, một cách tiếp cận hỗn hợp đã ra đời, trong đó hướng tới việc khai thác tốt nhất lợi thế của các đối tác tham gia từ tổ chức nghiên cứu cho tới chính người nông dân.
Mặc dù theo cách tiếp cận này, mọi thứ trở nên đắt đỏ bởi chi phí vận hành và kết nối các đối tác khá cao, song với yêu cầu của thị trường đối với sản phẩm nông nghiệp ngày càng cao, cạnh tranh trên thị trường ngày càng khốc liệt, đòi hỏi một nền sản xuất ngày càng phải được chuyên môn hóa cao và hiện đại hóa trong mọi khâu. Xem xét cách tiếp cận của các phương thức chuyển giao tiến bộ kỹ thuật tới nông dân, chúng ta có thể nhận thấy, phương thức chuyển giao công nghệ TOT, ATT áp dụng cách tiếp cận top-down, và phương thức nghiên cứu hệ thống nông nghiệp FSR thiên về cách tiếp cận từ dưới lên bottom-up trong khi phương thức nghiên cứu có sự tham gia của người dân áp dụng các tiếp cận hỗn hợp (Ellis, 1992). Khái niệm về khuyến nông Khuyến nông hiểu theo nghĩa rộng: Khuyến nông là khái niệm chung để chỉ tất cả những hoạt động hỗ trợ sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn. c 7 Khuyến nông hiểu theo nghĩa hẹp: Khuyến nông là một tiến trình giáo dục không chính thức mà đối tượng của nó là nông dân.
Tiến trình này đem đến cho nông dân những thông tin và những lời khuyên nhằm giúp họ giải quyết những vấn đề hoặc những khó khăn trong cuộc sống. Khuyến nông hỗ trợ phát triển các hoạt động sản xuất, nâng cao hiệu quả canh tác để không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống của nông dân và gia đình họ [4]. Như vậy khuyến nông là cách giáo dục không chính thức ngoài học đường cho nông dân, là cách đào tạo người lớn tuổi. Khuyến nông là quá trình vận động quảng bá, khuyến cáo cho nông dân theo các nguyên tắc riêng.
Đây là một quá trình tiếp thu dần dần và tự giác của nông dân. Nói cách khác, khuyến nông là những tác động vào quá trình sản xuất kinh doanh của người nông dân, giúp họ sản xuất đạt hiệu quả cao nhất. Nội dung của hoạt động khuyến nông phải khoa học, kịp thời và thích ứng với điều kiện sản xuất của người nông dân. Nội dung và vai trò của hoạt động khuyến nông 1.
Nội dung hoạt động khuyến nông Nghị định 02/2005/NĐ-CP của Chính phủ ra ngày 26/4/2005 về công tác khuyến nông, khuyến ngư cũng nêu rõ 5 nội dung bao gồm: (1) Thông tin, tuyên truyền; (2) Bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo; (3) Xây dựng mô hình và chuyển giao KHCN; (4) Tư vấn và dịch vụ; (5) Hợp tác quốc tế về khuyến nông, khuyến ngư. Nghị định 02/2010/NĐ-CP của chính phủ ra ngày 08/01/2010 về công tác khuyến nông thay cho Nghị định 56 cũng nêu rõ 5 nội dung như sau: (1) Bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo; (2) Thông tin, tuyên truyền; (3) Trình diễn và nhân rộng mô hình; (4) Tư vấn và dịch vụ khuyến nông; (5) Hợp tác quốc tế về khuyến nông. Vai trò của hoạt động khuyến nông * Vai trò trong chuyển giao công nghệ Các tiến bộ kỹ thuật thường được phát minh bởi các nhà khoa học thuộc các trung tâm, các viện nghiên cứu, các trường. Người nông dân rất muốn nắm bắt kịp thời những tiến bộ đó.
Nhờ có có cán bộ khuyến nông mà tiến bộ đó được chuyển dần đến nông dân qua nhiều cách khác nhau. Trong thực tiễn đời sống cho thấy nghiên cứu chỉ có hiệu quả khi nó có tính khả thi cao và được áp dụng có hiệu quả trong thực tiễn đời sống, do đó khuyến nông là yếu tố trung gian để khâu nối các mối quan hệ đó. Nhờ có các hoạt động khuyến nông mà tiến bộ khoa học kỹ thuật được chuyển giao tới bà con nông dân và nhờ có khuyến nông nhà khoa học hiểu được nhu cầu của nông dân. * Vai trò đối với nhà nước Khuyến nông, khuyến lâm là một trong những tổ chức giúp nhà nước thực hiện các chính sách, chiến lược về phát triển Nông lâm nghiệp, Nông thôn và Nông dân.
Vận động nông dân tiếp thu và thực hiện các chính sách về nông lâm nghiệp. Trực tiếp hoặc góp phần cung cấp thông tin về những nhu cầu, nguyện vọng của nông dân đến cơ quan nhà nước, trên cơ sở đó nhà nước hoạch định, cải tiến đề ra được những chính sách phù hợp. * Vai trò trong sự nghiệp phát triển nông thôn Trong sự nghiệp phát triển nông thôn, có thể coi khuyến nông là đòn bẩy cho sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn và là một mắt xích không thể thiếu để tạo nên sự phát triển bền vững cho nông thôn Việt Nam. * Khuyến nông góp phần giúp nông dân “xóa đói, giảm nghèo tiến lên khá và giàu” Phần lớn hộ nông dân nghèo là do thiếu kiến thức kỹ thuật để áp dụng vào sản xuất mà khuyến nông có nhiệm vụ truyền bá, kiến thức, kỹ thuật, kinh nghiệm vào sản xuất, nâng cao dân trí từ đó thúc đẩy sản xuất.