Chương 1 khái quát về lịch sử nước Mỹ và các lý thuyết liên quan đến nội dung đề tài; chương 2 trình bày các nội dung chính trong tất cả các bài diễn văn nhậm chức Tổng thống Mỹ từ vị Tổng thống đầu tiên - Goerge Washington (1789) đến Tổng thống Barack Obama (2009 - 2012); chương 3 trình bày các đặc điểm ngôn ngữ và các biện pháp tu từ được sử dụng trong tổng số 55 bài diễn văn. Bài viết “Đặc điểm của lập luận trong diễn văn chính trị tiếng Việt” Vũ Ngọc Hoa Số 10/2014 VN Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Hà Nội [36] đã chỉ ra vai trò quan trọng của lập luận trong việc thể hiện quan điểm của các chính trị gia về một vấn đề chính trị nhằm tác động, định hướng tư tưởng, cảm xúc, thái độ và hành động của người tiếp nhận. Để tạo nên tính thuyết phục của diễn văn chính trị, các chính trị gia đã sử dụng đa dạng các phương pháp lập luận như diễn dịch, quy nạp, 18 (LUAN.Viet) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Viet) so sánh, nhân quả, phản đề. Kết luận trong diễn văn chính trị có ý nghĩa đặc biệt, thể hiện tư tưởng chính trị của một giai cấp, Đảng phái thậm chí là tư tưởng của cả một dân tộc hoặc giá trị tinh thần mang tính phổ quát của nhân loại.
Như vậy, nhận định ban đầu của chúng tôi về sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu về diễn văn chính trị cũng như DVCTTV là có căn cứ. Đây hứa hẹn là một địa hạt nghiên cứu thú vị cho những ai có quan tâm. Cơ sở lý luận áp dụng nghiên cứu chức năng tác động của diễn văn chính trị tiếng Việt 1. Một số khái niệm công cụ: diễn ngôn, diễn văn chính trị, diễn văn chính trị tiếng Việt Diễn ngôn (discourse) Các nhà ngôn ngữ học đã tiến hành định nghĩa khái niệm diễn ngôn theo nhiều cách khác nhau.
Foucault gắn khái niệm diễn ngôn với cách kiến tạo tri thức, cùng với thực tiễn xã hội, những hình thái khách quan và quan hệ quyền lực gắn với các tri thức và quan hệ giữa chúng [99]. Widdowson [137] đồng nghĩa diễn ngôn với cách dùng chuỗi các câu để tạo các đơn vị giao tiếp lớn hơn. Crystal [94] cũng nhấn mạnh tính kéo dài liên tục của đơn vị ngôn ngữ lớn hơn câu trong diễn ngôn. Halliday & Hasan [106] chỉ đơn giản định nghĩa diễn ngôn gắn với chức năng giao tiếp của nó, đó là “văn bản (hay diễn ngôn) là ngôn ngữ có tính chức năng”.
Fairclough [97] cho rằng: "Diễn ngôn về cơ bản là ứng dụng xã hội của ngôn ngữ đặt trong bối cảnh xã hội. Tuy vậy, thuật ngữ này thường được sử dụng với những ý nghĩa khác nhau, thậm chí ngay cả trong bản thân cách tiếp cận đặc biệt của chúng tôi đối với CDA. Nó thường mang ý nghĩa là (a) biểu hiện của quá trình xã hội; (b) ngôn ngữ liên quan đến một lĩnh vực xã hội hoặc trong một thực tiễn xã hội cụ thể (ví dụ như “diễn ngôn chính trị”), (c) một cách phân tích các khía cạnh của thế giới dựa trên một quan điểm xã hội cụ thể (ví dụ như một “diễn ngôn tân tự do về toàn cầu hoá”). Ngay trong định nghĩa về diễn ngôn này của Fairclough đã cho thấy ông đứng trên nền tảng phản ánh luận của chủ nghĩa Mác.Viet) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Viet) Cook, G [93] cho rằng: "Diễn ngôn là một chuỗi ngôn ngữ được nhận biết là có ý nghĩa, thống nhất và có mục đích".
Theo Phan Ngọc "Diễn ngôn chỉ một sản phẩm giao tiếp trong ngữ cảnh". (Dẫn theo Lê Thị Phượng [66]) Bright (1992) cho rằng: "Diễn ngôn là một chuỗi ngôn từ liên tục lớn hơn một câu, thường tạo nên một đơn vị có tính mạch lạc. Sự nghiên cứu các đơn vị này thường được gọi là phân tích diễn ngôn, còn gọi là ngôn ngữ học diễn ngôn). Theo nghĩa rộng, hiểu biết về DN bao gồm một tổng thể, những chuẩn mực, sự ưa chuộng và sự mong đợi liên kết ngôn từ với ngữ cảnh.
Nhờ chúng, những người sử dụng ngôn ngữ tạo nên và thuyết giải các cấu trúc diễn ngôn của ngôn từ của mình (như tự sự, hội thoại, thỉnh cầu, lập luận, .)" (Dẫn theo Lê Thị Phượng [66]) Đỗ Hữu Châu [12] cho rằng: "Diễn ngôn là thuật ngữ chung để chỉ tất cả các đơn vị lời nói phù hợp với những tiêu chuẩn nêu trên. Tùy theo đường kênh hay dạng ngôn ngữ được sử dụng mà ta có diễn ngôn nói hay diễn ngôn viết. Diễn ngôn có thể là một phát ngôn mà cũng có thể là một chuỗi gồm nhiều phát ngôn. Diễn ngôn có mặt động và mặt tĩnh: Diễn ngôn là một quá trình sản sinh ra và liên kết các phát ngôn thành một chỉnh thể, đồng thời, đó cũng là tên gọi của sản phẩm ngôn từ do chính quá trình đó tạo nên".
Như vậy, các định nghĩa về diễn ngôn đều tập trung vào các khía cạnh chuỗi nhiều câu liên tục và chức năng giao tiếp của ngôn ngữ của văn bản đó. Chúng tôi chọn định nghĩa diễn ngôn của Đỗ Hữu Châu làm khái niệm công cụ cho luận án. Trong các định nghĩa về diễn ngôn có chứa cách phân loại diễn ngôn. Nếu căn cứ vào hình thức thể hiện, diễn ngôn được chia thành diễn ngôn nói, diễn ngôn viết; Nếu căn cứ vào dung lượng, diễn ngôn được chia thành diễn ngôn dài, diễn ngôn ngắn, siêu ngắn; Nếu căn cứ vào nội dung được biểu đạt, diễn ngôn được chia thành diễn ngôn kinh tế, văn hóa, an ninh, chính trị, v.
Căn cứ vào các định nghĩa về diễn ngôn nêu trên, có thể nhận định diễn văn là một loại diễn ngôn.Viet) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Viet) Theo “Từ điển Tiếng Việt” [71] thì diễn văn được định nghĩa như sau: Diễn văn là “Bài phát biểu tương đối dài được đọc trong dịp long trọng. Diễn văn khai mạc đại hội”. Theo [1] Diễn văn là “Loại văn bản dùng để trình bày trước một cuộc hội nghị, đại hội, một cuộc mít tinh; trước đông đảo quần chúng và khách quí trong nước, nước ngoài, hoặc để khai mạc hội chợ, triển lãm, thi đấu thể dục thể thao”. Tác giả Lương Khắc Hiếu [34] cho rằng: Diễn văn là bài phát biểu đề cập đến các vấn đề, các sự kiện chính trị đã hoặc đang diễn ra nhằm tập trung sự chú ý của đông đảo người nghe về vấn đề, sự kiện ấy, định hướng dư luận xã hội về vấn đề, sự kiện ấy.
Trong nhiều hội nghị, hội thảo, khai mạc triển lãm, khai trương… người ta gọi là bài phát biểu, lời phát biểu, nhưng thực ra đó cũng là bài diễn văn. Ví dụ: gần đây, tại các Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Tổng bí thư phát biểu khai mạc và phát biểu bế mạc Hội nghị. Bài phát biểu này, thực chất là bài diễn văn rất quan trọng. Chính trị với tư cách là một danh từ có mấy nét nghĩa như sau: Thứ nhất, chính trị là những vấn đề về tổ chức và điều khiển bộ máy nhà nước trong nội bộ một nước, và về quan hệ chính thức giữa các nước với nhau.
Thứ hai, chính trị là những hoạt động của một giai cấp, một chính đảng, một tập đoàn xã hội nhằm duy trì quyền điều khiển bộ máy nhà nước. Thứ ba, chính trị là những biểu hiện về mục đích, đường lối, nhiệm vụ đấu tranh của một giai cấp, một chính đảng nhằm giành hoặc duy trì quyền điều khiển bộ máy nhà nước. Thứ tư, Chính trị là những hoạt động nhằm nâng cao giác ngộ chính trị cho quần chúng, tổ chức quần chúng thực hiện một đường lối, những nhiệm vụ chính trị nhất định [71]. Isabela và Norman Fairclough [97] cho rằng: Diễn văn chính trị là sự kiện chính trị, nó phản ánh thực tiễn đời sống chính trị của một đảng phái, một quốc gia mà nó thuộc về.
Như vậy, theo nghĩa rộng có thể định nghĩa: Diễn văn chính trị là bài phát biểu trƣớc đông ngƣời của chính khách trong việc thực hiện hoạt động của một 21 (LUAN.Viet) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Viet) giai cấp, một chính đảng nhằm giành hoặc duy trì quyền điều khiển bộ máy nhà nƣớc. Theo nghĩa hẹp: Diễn văn chính trị là bài phát biểu trước đông người của chính khách trong dịp quan trọng nhằm nâng cao giác ngộ chính trị cho quần chúng, tổ chức quần chúng thực hiện đường lối, nhiệm vụ của một giai cấp, một chính đảng, một quốc gia nhất định; nó phản ánh thực tiễn đời sống chính trị của giai cấp, đảng phái, quốc gia ấy. Chúng tôi chọn định nghĩa diễn văn chính trị theo nghĩa hẹp làm khái niệm công cụ. Diễn văn chính trị tiếng Việt là bài phát biểu bằng tiếng Việt trước đông người của chính khách Việt Nam trong dịp quan trọng nhằm nâng cao giác ngộ chính trị cho quần chúng, tổ chức quần chúng thực hiện đường lối của Đảng Cộng sảnViệt Nam, chính sách, pháp luật của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; nó phản ánh thực tiễn đời sống chính trị của Việt Nam.
Hai định nghĩa diễn văn chính trị theo nghĩa hẹp và diễn văn chính trị tiếng Việt trên đây là hai khái niệm công cụ của luận án. Chức năng ngôn ngữ và chức năng tác động 1. Quan điểm về các kiểu chức năng của ngôn ngữ K. Bühler được coi là người đại diện cho việc nghiên cứu chức năng ngôn ngữ thời kỳ cấu trúc luận.
Ông tuyên bố trong [88] giao tiếp cũng như ngôn ngữ gồm 3 chức năng quan trọng. Đó là chức năng hướng tới người nói, chức năng hướng tới người nghe và chức năng biểu diễn. Chức năng hướng tới người nói (Speaker-oriented) hay còn gọi là chức năng biểu đạt – express function là sự phản ánh những tình cảm, thái độ, cảm xúc và quan điểm của người nói; Chức năng hướng tới người nghe (Hearer-oriented) là chức năng về thụ cảm ngôn ngữ (conative function), nhờ ngôn ngữ mà người nghe có thể hiểu được ý định thông tin của người nói cũng như những mong muốn của người nói với mình; Chức năng biểu diễn/ biểu hiện (Representative) là chức năng quan trọng nhất xét về mặt giao tiếp. Những thông tin, ước muốn, truyền giao thông tin giữa người nói – người nghe được ngôn ngữ thực hiện thông qua chức năng này.
Roman Jakobson [111] đã trình bày 6 chức năng của ngôn ngữ thay vì 3 22 (LUAN.Viet) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Viet) chức năng như K. Bühler đã tuyên bố. Trong giới ngôn ngữ học, người ta gọi đó là trào lưu hậu cấu trúc luận (post-structuralism). Trong khi trình bày quan điểm về 6 chức năng ngôn ngữ, R.
Jakobson giữ lại 2 chức năng đầu của K. Bühler là xúc cảm và nhận cảm.