Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Chủ nghĩa hậu hiện đại 1. Khái niệm Lịch sử phát triển văn học nhân loại phát triển trải qua những thời kỳ mà ở đó tồn tại những khuynh hướng, những trường phái, những trào lưu khác nhau. Và hậu hiện đại chính là một trong số đó.
Hậu hiện đại là một trào lưu hết sức rộng lớn, ảnh hưởng đến hầu hết các lĩnh vực, trong đó có văn học. Cuối thế kỉ XIX, nhà nghiên cứu người Đức Frietzsche tuyên bố “Chúa đã chết” gây chấn động thế giới. Đến thế kỉ XX, nhân loại sửng sốt khi các nhà nghiên cứu cho rằng “Con người đã chết”. Con người rơi vào nỗi hoang mang khi mà cả chỗ dựa vật chất và tinh thần đều không còn tồn tại.
Tương tự thế, các nhà văn đưa ra một loạt cái chết nữa trong sáng tác văn chương: cái chết của chủ thể, cái chết của người đọc, cái chết của ngôn từ. nhưng thực tế, không hề có cái chết nào cả. Tất cả những tuyên bố ấy đều nhằm mục đích đi tìm căn nguyên, nguồn gốc của con người và vũ trụ. Và chủ nghĩa hậu hiện đại ra đời trong hoàn cảnh đó- vào những giai đoạn lịch sử loài người lâm vào khủng hoảng, là hệ quả tất yếu của thời kì trước đó.
Theo Francois Lyotard, hậu hiện đại và chủ nghĩa hiện đại thế kỉ XX có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Ông cho rằng hậu hiện đại là “xử lí lại một số đặc điểm của hiện đại nhất là tham vọng của nó trong việc đặt cơ sở cho đề án giải phóng toàn bộ nhân loại bằng khoa học kĩ thuật” [21,tr. Cũng theo nhà nghiên cứu này, hoàn cảnh hậu hiện đại là “sự hoài nghi đối với các siêu tự sự. Nó hiển nhiên là kết quả của sự tiến bộ của các khoa học; nhưng sự tiến bộ này đến lượt nó lại tiền giả định sự hoài nghi đó.
Tương ứng với sự già cỗi của cơ chế siêu tự sự trong việc hợp thức hóa là sự khủng hoảng của nền triết học siêu hình học, cũng như sự khủng hoảng của thiết chế đại học phụ thuộc vào nó” [21, tr. Để có được cơ sở lí thuyết hậu hiện đại là kết quả của rất nhiều nhà nghiên cứu lớn của thời đại. “Hậu hiện đại là khái niệm dùng để chỉ một giai đoạn phát triển kinh tế, khoa học kĩ thuật, nghệ thuật cao của nhân loại. Nó ra đời khi các chủ thuyêt hiện đại trở nên già cỗi, đã trở thành những đại tự sự” [12, tr.
8 c Chủ nghĩa hậu hiện đại là “một từ ngữ phức tạp bao hàm một hệ thống tư tưởng được giới nghiên cứu đại học tiếp nhận, khai triển từ những năm giữa thập niên 1980 đến nay. Rất khó có một định nghĩa thật chính xác và hàm súc về chủ nghĩa hậu hiện đại, vì khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại xuất hiện trên nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, bao gồm nghệ thuật, kiến trúc, âm nhạc, phim ảnh, văn chương, chính trị, xã hội, truyền thông, khoa học kỹ thuật và ngay cả thời trang hay các phương tiện giải trí thường ngày như Disneyland chẳng hạn” [31]. Đó là quan niệm của giáo sư Mary Klages được trích lại từ bài nghiên cứu “Chủ nghĩa hậu hiện đại: những khái niệm căn bản” của tác giả Nguyễn Minh Quân. Khái niệm hậu hiện đại là kết quả của một quá trình nghiên, của nhiều nhà nghiên cứu hợp lại.
Mặc dù khái niệm này không còn quá xa lạ với người Việt Nam nhưng để hiểu nó một cách cụ thể, chính xác lại không hề đơn giản. Giáo sư Lê Huy Bắc trong công trình nghiên cứu của mình đã đưa ra cách hiểu về chủ nghĩa hậu hiện đại như sau: “bắt đầu từ cuối thập niên 1910 với thơ Đa Đa (1916), văn xuôi Franz Kafka (Biến dạng, 1915) và kịch của Samuel Beckett (Chờ đợi ở Godot, 1952) chủ nghĩa hậu hiện đại đã tồn tại song song với chủ nghĩa hiện đại cho đến đầu thập niên 1950 và thực sự phát triển mạnh từ 1960 trở đi. Đây là khuynh hướng đối nghịch với chủ nghĩa hiện đại về bản chất, ở chỗ chấp nhận tình hư vô, hỗn độn, trò chơi và liên văn văn bản của tồn tại, hòng giải quyết những vướng mắc của chủ nghĩa hiện đại với tham vọng dùng khoa học để giải phóng tối đa con người thoát khỏi cuộc sống và những tín điều tăm tối. Chủ nghĩa hậu hiện đại gắn với sự bùng nổ của cuộc cách mặng công nghệ thông tin, của sự phát triển kinh tế, khoa học kĩ thuật vượt bậc, của thành tựu đô thi hóa,.
được thể hiện ở cả ba phương diện thơ, kịch, văn xuôi với các đặc điểm chính: đa trị, huyền ảo, lắp ghép mảnh vỡ, cực hạn, phi trung tâm, phi mạch lạc, hạn chế tôi đa vai trò thống trị của người kể chuyện, không quan tâm đến côt truyện, kịch và văn xuôi mang nhiều đặc điểm của thơ.32] Như vậy, có thể thấy sự ra đời của chủ nghĩa hậu hiện đại là kết quả tất yếu của lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử loài người nói riêng. Hậu hiện đại ra đời có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hầu hết các lĩnh vực trong đó có văn học. Hậu hiện đại không chỉ là phương tiện, cách thức mà còn thể hiện ở nội dung của tác phẩm. Hậu 9 c hiện đại cùng với những đặc trưng của nó sẽ góp phần đắc lực vảo việc phản ánh hiện thực xã hội với đầy những biến động.
Đặc trưng của chủ nghĩa hậu hiện đại Với tư cách là một trào lưu, một khuynh hướng văn học, hậu hiện đại cũng giống như các trào lưu văn học khác đều có những hình thức đặc trưng vô cùng phong phú và đa dạng có thể kể đến nổi bật như: chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, mảnh vỡ, cực hạn, nhại, giả trinh thám, mờ hóa, mã kép, đa điểm nhìn, nghịch lí, hỗn độn,. Một tác phẩm hậu hiện đại không chỉ được sáng tác theo một đặc trưng mà là sự kết hợp của nhiều đặc trưng để tạo ra nó. Sau đây, chúng tôi xin tổng hợp các khái niệm của một số đặc trưng của chủ nghĩa hậu hiện đại. Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo: theo các nhà nghiên cứu, hiện thực huyền ảo ra đời thực chất là khẳng định tính chất của chủ nghĩa hiện thực thế kỉ XX, một hiện thực trở thành cái bóng không đủ sức ám ảnh mà trở thành hiện thực có sự kết hợp của những yếu tố huyền ảo để phản ánh xã hội, con người.
Huyền ảo phát triển mạnh mẽ trên thế giới, đặc biệt là khu vực Mĩ Latinh từ những năm 60 của thế kỉ trước, thế nhưng, kì ảo lại là yếu tố có nguồn gốc từ rất lâu trước đó. Các nhà văn sáng tác theo khuynh hướng này thường sử dụng những yếu tố hoang đường trong phản ánh hiện thực có thể kể đến một số tên tuổi của thế kỉ XIX như Ban dắc, Poe. Tuy nhiên, trong hiện thực huyền ảo của hậu hiện đại, các yếu tố ma quái, yếu tố kinh dị đã được hạn chế đến mức tối đa, không gây tâm lí sợ hãi cho độc giả. Thay vào đó, các tác giả hậu hiện đại sử dụng các hình ảnh siêu nhiên, phi thường gắn với các thành tựu khoa học kĩ thuật và đương nhiên chúng gần gũi hơn với con người.
Các nhà văn đặt các yếu tố siêu nhiên bên cạnh các yếu tố hiện thực của đời sống để nâng một sự việc, một hiện tượng lên tầm huyền thoại. Mảnh vỡ là khuynh hướng sáng tác tiêu biểu của chủ nghĩa hậu hiện đại. “Mảnh vỡ là bản thể của hiện tồn hậu hiện đại, khi người ta thôi không còn tin vào những cái tròn trịa, đầy đặn, dễ nắm bắt.thì “vỡ” là tiêu chí bản chất của sự vật” [12, tr. Với tư cách là một kĩ thuật, mảnh vỡ xâm nhập vào tất cả các khuynh hướng sáng tác khác và được khai thác trên cả phương diện nội dung và nghệ thuật.
Kết cấu mảnh vỡ phản ánh hiện thực mảnh vỡ, hình thức mảnh vỡ chứa đựng nội dung mảnh vỡ. 10 c Cực hạn hay còn gọi là chủ nghĩa tối giản hoặc nghệ thuật cực hạn xuất hiện vào những năm 60 của thế kỉ trước trong hầu hết các lĩnh vực thuộc phạm trù nghệ thuật như điêu khắc, hội họa, âm nhạc và văn học. Đây là trào lưu văn học ra đời nhằm chống lại sự thái quá của chủ nghĩa ấn tượng trừu tượng của nghệ thuật hiện đại. Cực hạn có thể hiểu là đơn giản hóa nghệ thuật một cách tối đa, thậm chí khiêm tốn trong trần thuật.
Bản chất của cực hạn trong văn học được hiểu là nói được nhiều từ cái ít. Tác giả không tham vọng bao quát mọi vấn đề hoặc hướng đến một luận triết học có trước mà chỉ phản ánh chân thật những gì đang diễn ra xung quanh một cách chính xác nhất, không hề bày tỏ thái độ trước vấn đề sự kiện được đề cập. Các tác giả cực hạn tôn trọng nguyên tắc ngẫu nhiên của tồn tại mà không hề can thiệp, hoài nghi, định hướng và không đưa ra kết luận cuối cùng. Nổi bật của lối viết này là nhà văn chủ trương hủy bỏ cốt truyện truyền thống.
Một tác phẩm không chỉ có một cốt truyện duy nhất mà có nhiều cốt truyện đan xen, cùng nhau phát triển. Nhại trong văn học là một hình thức phê bình châm biếm hoặc là hình thức chế giễu khôi hài bằng cách bắt chước phong cách, bút pháp của một nhà văn hoặc một nhóm nhà văn để nhấn mạnh đến sự non yếu của nhà văn ấy hoặc những quy ước bị lạm dụng của trường phái ấy. Mờ hóa “là toàn bộ các thủ pháp được sử dụng trong nghệ thuật một cách có chủ định nhằm tạo ra một hiệu quả thẩm mĩ, qua đó đối tượng được miêu tả hiện lên không rõ ràng, cụ thể như ngoài đời hoặc như chúng ta chưa từng gặp trong sáng tạo nghệ thuật. Người viết cố tình xóa mờ các đường viền (lịch sử, quan hệ.), các đặc điểm cá biệt của đối tượng nhằm tạo cho độc giả cảm giác về sự mơ hồ, tối nghĩa.
Muốn hiểu người đọc phải dụng công, phải tích cực tham gia vào quá trình nghệ thuật để chiêm nghiệm, đề xuất cách hiểu của riêng mình” [12, tr. Đa điểm nhìn là cách kể có thể kết hợp cả điểm nhìn bên ngoài lẫn điểm nhìn bên trong. Đa điểm nhìn xuất phát từ nguyên tắc phi trung tâm hóa trần thuật, phá vỡ các đại tự sự, tạo nên tính dân chủ, đa trị trong nghệ thuật kể chuyện nhằm khách quan hóa trần thuật, nắm bắt được bản chất tồn tại của con người. Như đã khẳng định ở trên, đặc trưng của hậu hiện đại rất đa dạng.