CHƯƠNG 1.1 TỔNG QUAN VỀ CÂY NHÀU Tên khoa học: Morinda citrifolia L. Tên khác: cây Ngao, Nhàu núi, Giầu, M. litoralis Blanco,Dâu tằm Ấn Độ, Bengkudu, Mengkudu (Mã Lai).1 Phân loại khoa học Giới (regnum): Plantae Bộ (ordo): Gentianales Họ (familia): Rubiaceae Chi (genus): Morinda Loài (species): Morinda Citrifolia 1.2 Đặc điểm thực vật [1] - Cây gỗ nhỏ, mọc đứng. - Thân: Cây cao 4-8 m.
Thân có màu lục hoặc nâu nhạt.Cành non mập màu xanh, tiết diện vuông, có rãnh, nhẵn; cành già tiết diện tròn, màu nâu xám. -Lá: Lá mọc đối, hình bầu dục dài 12 -30 cm, rộng 6 -15 cm, mép uốn luợn, lá màu xanh bóng đậm ở mặt trên, mặt dưới nhạt hơn. Gân lá hình lông chim, nổi rõ ở mặt dưới, 6-7 cặp gân phụ. Cuống lá dài 1-2 cm.
-Hoa: Cụm hoa hình tròn hay hơi bầu dục, ở ngoài nách lá. Trục cụm hoa hình trụ, màu xanh, nhẵn, dài 1-2 cm. Đáy cụm hoa có 3 phiến hẹp, dài 5-8 mm. Hoa đều, lưỡng tính.
Đài hoa là một gờ tròn, ống tràng hình phễu, màu xanh nhạt, cao 7-12 mm; bên trong có nhiều lông trắng; thùy dài khoảng 5-8 mm, màu trắng, hình bầu dục đầu nhọn, đỉnh có phụ bộ là một mấu nhỏ cong vào trong. Khi hoa nở các thùy cong xuống phía dưới; tiền khai van. Nhị bằng nhau, rời, gắn ở phần loe của ống tràng xen kẽ với các cánh hoa, chỉ nhị rất ngắn. Bao phấn hình đầu tên, màu vàng nhạt, dài khoảng 4 mm; 2 ô mở dọc, hướng trong, đính gốc.
Hạt phấn rời, hình hình cầu, màu vàng nhạt. Lá noãn, ở vị trí trước sau, bầu dưới, 2 ô, mỗi ô 1 noãn, đính trung trụ. Vòi nhụy dạng sợi màu xanh nhạt, dài 5 mm; 2 đầu nhụy dạng phiến mỏng, dài 3 mm, màu xanh. Đĩa mật dày, hình khoen, màu vàng.
1 -Cây ra hoa quanh năm, tập trung nhiều nhất vào khoảng tháng 11-2, cho quả vào khoảng tháng 3-5. -Quả: Quả hạch kép do bầu noãn và một phần lá đài của các hoa trên cụm hoa dính nhau tạo thành. Quả còn non màu xanh nhạt, dài 5-7 cm, rộng 3-4 cm. Quả già màu ngà vàng, nhẵn bóng, mùi khai, trên quả còn vết tích các đĩa mật.
Quả thịt, hình trứng gồm nhiều quả hạch dính vào nhau, khi chín màu vàng, chứa cơm mềm, ăn được. -Hạt: Hạt nhiều, hình bầu dục, một đầu nhọn, màu nâu đen. Hình thái tự nhiên của cây Nhàu [A], trái Nhàu[B]. Chụp bởi tác giả tại vườn bảo tồn gen và giống cây thuốc các tỉnh phía Nam.
Phân bố sinh thái [1] Cây Nhàu có nguồn gốc vùng nhiệt đới thuộc Châu Á và Châu Úc. Loài cây này phân bố nhiều ở vùng Đông Nam Á,Trung Quốc và Ấn Độ. Ở Việt Nam, cây mọc hoang và được trồng khắp nơi, cây thường dựa vào mép nước. Ở Việt Nam cây Nhàu có nhiều ở Miền Nam, ngoài ra còn có ở các tỉnh Miền Trung như Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế và vài nơi thuộc đồng bằng Bắc Bộ.
2 Cây mọc hoang và được trồng nhiều ở các tỉnh phía Nam, lá được dùng làm rau phổ biến ở nông thôn.4 Thành phần hóa học của lá cây Nhàu Các nghiên cứu hóa học của loài cho thấy gần 200 hợp chất đã được xác định và tách chiết từ những phần khác nhau của cây Nhàu. Trong đó: Lá có chứa glicosid tim, tannin, terpenoid, alkaloid, polysaccharid, quercetin 3,7- O-dimethylether ,quercetin 3-O-methylether, quercetin-3-O-rutinosid, saponin, alanin, phenyl alanin, tryptophan, threonin, cystein, lucin, acid (S)-2-amino-5- guanidinopentanoic, acid 2-aminopentanedioic, serin, tyrosin, valin, histidin, acid 2- amino-4-(methylthio)butanoic, proline, acid 2-aminobutanedioic [2]. Thân, rễ chứa anthraquinon, glicosid tim, flavonoid, coumarin, acid octadecadienoic, pentose, hexose. Quả chứa chủ yếu vitamin, flavonoid, alizarin, acid hexanoic, acid octanoic, acid hexanoic, acid (3R,4S,5R,6R)-6-(hydroxymethyl)oxan-2,3,4,5-tetrol, gluconic, ethyl caproat, ethyl caprylat, methyl octanoat, methyl decanoat.
Các thành phần hoạt tính như flavonoid, saponin, alkaloids, iridoid glycosides, terpenoid và tannin có tác dụng chống viêm, chống vi khuẩn và chất chống oxy hóa để đẩy nhanh quá trình chữa lành vết thương [2]. Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy các bộ phận của cây Nhàu thể hiện nhiều tác dụng như kháng khuẩn, kháng viêm, kháng nấm, kháng oxy hóa, kháng ung thư, giảm đau, điều hòa miễn dịch, làm lành vết thương, các tác dụng trên xương,… Các công bố trước đây cho thấy flavonoid góp phần vào sự đa dạng các tác dụng của Nhàu[3]. Tuy nhiên, các nghiên cứu tập trung vào quả hơn là rễ, thân, lá và hiện nay một số chế phẩm được nghiên cứu sản xuất từ quả, rễ, thân hơn là lá. Rutin, còn được gọi là rutosid, quercetin-3-O-rutinosid và sophorin, là glycosid kết hợp quercetin flavonol và rutinose disaccharide (α-L-rhamnopyranosyl- (1 → 6) - β-D-glucopyranose).
Nó là một flavonoid cam quýt được tìm thấy trong nhiều loại thực vật bao gồm cả trái cây họ cam quýt. Công thức cấu tạo của Rutin Hầu hết các polyphenol đều có khả năng kháng khuẩn. Các nghiên cứu về cơ chế tác dụng kháng sinh của flavonoid còn rất ít và có thể theo một số giả thiết sau: - Flavonoid ức chế transpeptidare làm cho mucopeptid – yếu tố đảm bảo cho thành tế bào vi khuẩn vững chắc không tổng hợp được. - Gắn lên màng nguyên sinh chất của vi khuẩn, làm thay đổi tính thẩm thấu chọn lọc của màng nguyên sinh chất.
Vì vậy làm cho một số chất cần thiết cho đời sống vi khuẩn như nucleoid, pyrimidin, purin lọt qua màng nguyên sinh chất ra ngoài. - Tác động lên quá trình tổng hợp protein của vi khuẩn theo hai kiểu: phong tỏa mạch peptit của vi khuẩn bằng cách phong tỏa transferare chuyển acid amin từ RNA vào mạch làm mạch không kéo dài thêm được hoặc tạo ra protein bất thường không có tác dụng đối với đời sống của vi khuẩn, làm chúng không sử dụng được. - Ức chế tổng hợp acid nucleic. - Flavonoid có thể tác dụng vào DNA khuôn, ức chế tổng hợp RNA của vi khuẩn.5 Công dụng và bộ phận dùng Giống cây này có rất nhiều ứng dụng trong đời sống con người và có thể được coi là thực phẩm chức năng với nhiều hoạt chất sinh học, tính sinh dược học cao cụ thể như [1] : - Hiệu quả trong việc chữa trị vết loét, ngừa phát ban.
- Chữa tiêu chảy - Chữa mất ngủ, suy nhược thần kinh, huyết áp cao, loại bỏ độc tố: Tăng khả năng hấp thụ, tiêu hóa, sử dụng vitamin, thảo dược và khoáng chất. - Có khả năng chống oxy hóa cao giúp ngăn chặn sự hủy hoại những gốc tự do. - Giảm đau: Chữa những cơn đau trong cơ thể như đau lưng, cổ, đau cơ, thần kinh và những cơn đau như căng thẳng, đau nửa đầu. - Giảm sưng vết thương triệu chứng như vết thâm tím, căng da và bỏng.
- Hỗ trợ hệ miễn dịch: Kích thích việc sản xuất những tế bào T - tế bào đóng vai trò chống viêm: có tác dụng trong việc chữa các bệnh liên quan đến cơ và khớp như bệnh viêm khớp, hội chứng nhức xương cổ tay Các bộ phận của cây nhàu có thể sử dụng để trị liệu các bệnh như sau: - Quả nhàu ăn với muối dễ tiêu, nhuận tràng làm thuốc điều kinh, trị băng huyết, bạch đới, ho cảm, hen, đau gân, đái đường. Nướng chín ăn để chữa lỵ. Vì mùi hăng, nồng và cay nên khó ăn được nhiều. - Lá nhàu: Giã nát đắp chữa mụn nhọt, mau lên da non.
Sắc uống chữa đi lỵ, chữa sốt và làm thuốc bổ, lá nhàu còn dùng nấu canh lươn ăn bổ. - Vỏ cây nhàu: Nấu nước cho phụ nữ sau khi sanh uống bổ máu. - Rễ nhàu: Ngoài công dụng nhuộm màu đỏ quần áo, vải lụa thì thái nhỏ, ngâm rượu uống sẽ chữa nhức mỏi, đau lưng (hoặc dùng quả nhàu non, thái mỏng thay rễ). Rễ nhàu được dùng làm thuốc chữa cao huyết áp, một số hiệu thuốc chế thành cao rễ nhàu.
Liều dùng mỗi ngày uống 30 - 40g, uống như nước chè, sau chừng 15 ngày sẽ có kết quả. Nhân dân miền Nam Việt Nam thường dùng nhàu làm thuốc điều kinh, hạ huyết áp, trị băng huyết, khí hư, bạch đới, viêm phế quản, ho hen, cảm mạo. Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới 1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước Nghiên cứu vào năm 2005 của Nguyễn Trọng Thông và cộng sự nghiên cứu ảnh hưởng của cách dùng thuốc đến tác dụng kích thích miễn dịch của cao quả Nhàu [4], Kết quả đạt được là cao quả Nhàu làm tăng trọng lượng lách và trọng lượng tuyến ức, đồng thời làm tăng số lượng bạch cầu trong máu ngoại vi, tăng bạch cầu lympho, bạch cầu diệt tự nhiên, tăng khả năng đáp ứng miễn dịch dịch thể của các lympho bào B với kháng nguyên đặc hiệu và tăng phản ứng bì với kháng nguyên OA, như vậy làm tăng đáp ứng miễn dịch tế bào do các lympho bào T đảm nhiệm. Nghiên cứu vào năm 2005 của Nguyễn Thị Ngọc Dao và cộng sự nghiên cứu ảnh hưởng của dịch chiết bằng nước của quả Nhàu Việt Nam lên một số các enzym chống oxy hóa và enzym P450 ở gan chuột nhắt trắng [5] .Kết quả đạt được là dịch chiết bằng nước của quả Nhàu Việt Nam có hoạt tính chống oxy hóa hữu hiệu.
Ở nhóm có sử dụng dịch chiết quả nhàu + CCl4, hàm lượng MDA đã giảm 10%, hoạt độ SOD tăng 31% so với nhóm chuột cho uống thuốc gây mô hình đối chứng. Bên cạnh đó cũng thay đổi hoạt tính P450: khi chuột nhiễm độc được bổ sung dịch chiết quả Nhàu hoạt tính đã tăng lên 49,5% so với nhóm được uống CCl4 những vẫn giảm so với nhóm đối chứng 30,3%. Nhóm được uống dịch chiết quả nhàu, hoạt tính P450 tăng 24,8%. Nghiên cứu vào năm 2006 của Anh Kim T.
Bui và cộng sự nghiên cứu thành phần polysaccharide của nước ép trái Nhàu (Noni) gồm các monosaccharide như acid glucuronic, galactos, arabinose và rhamnose với hoạt tính chống khối u trên ung thư phổi Lewis ở chuột [6] Nghiên cứu vào năm 2007 của Phạm Thị Vân Anh và cộng sự nghiên cứu tác dụng chống oxy hóa của cao quả Nhàu trên hai mô hình gây tổn thương gan chuột nhắt trắng bằng carbon tetraclorid (CCl4) và paracetamol [7] Kết quả nghiên cứu cho thấy: - Hoạt độ AST và ALT tăng lên ở lô chuột tiêm CCl4. Cao quả Nhàu liều tương ứng 6g và 12g dược liệu/kg làm giảm mức tăng hoạt độ hai enzym. Tác dụng của cao ở hai liều như nhau và tương đương với silymarin. 6 - Ở lô chuột uống paracetamol 500 mg/kg, hoạt độ AST và ALT tăng lên so với lô chứng.
Cao quả Nhàu liều tương đương 6g và 12g dược liệu/kg làm giảm hoạt độ hai enzym này so với lô mô hình. Tác dụng của cao ở hai liều như nhau và tương đương với silymarin. - Paracetamol và CCl4 làm tăng hàm lượng MDA so với lô chứng.