Đặt vấn đề Nước ta là một nước nông nghiệp. Bên cạnh trồng trọt, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng chiếm một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Chăn nuôi cung cấp nguồn thực phẩm quan trọng cho con người, là cung protein cho chúng ta, ngoài ra còn cung cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt và một số sản phẩm phụ cho ngành công nghiệp chế biến. Chính vì thế, Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm tới phát triển chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng nhằm không ngừng nâng cao năng suất, hiệu quả chăn nuôi, cải thiện đời sống nhân dân.
Trong những năm gần đây, sự du nhập các giống mới, đặc biệt là các giống nhập nội có năng suất cao đã làm suy giảm nguồn gen của các giống bản địa và gây nên những tổn thất nguồn gen rất đáng tiếc trong bảo tồn đa dạng sinh học. Thực tiễn tại nước ta, việc mở rộng giao lưu, giao thông, giao thương và phát triển khá mạnh mẽ các chương trình khuyến nông đã mang đến các giống/ dòng vật nuôi mới có năng suất cao đã gây áp lực rất lớn với những giống nội địa với năng suất bị giảm dần, hoặc đang dần tuyệt chủng hoặc bị lai tạp. Gà Cáy Củm là một giống gà địa phương mới được phát hiện tại vùng sâu vùng xa của miền núi, theo người dân địa phương thì đây là giống gà không có phao câu, thịt thơm ngon nhưng lại ít người biết đến. Hiện nay, giống gà này có mặt tai xã Đức Xuân, huyện Hòa An và một vài hộ ở xã Lưu Ngọc, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng và đang được nuôi nghiên cứu ở Thái Nguyên.
Gà Cáy Củm đang ngày càng giảm dần về số lượng, còn lại rất ít được nuôi rải rác tại một số hộ dân của người dân tộc H’mông ở vùng sâu, vùng xa địa hình hẻo lánh. Để chăm sóc tốt giống gà Cáy Củm, tăng số lượng giống gà này thì chúng ta cần biết về đăc tính sinh sản của giống gà này và quy trình phòng trị bệnh cho để đạt được hiệu quả chăn nuôi tốt nhất. e 2 Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sản xuất, nhằm khai thác và phát triển nguồn gen, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản và đánh giá hiệu quả dùng vaccine trong phòng bệnh cho gà Cáy Củm sinh sản’’ 1. Mục đích nghiên cứu - Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản của gà Cáy Củm giai đoạn 20 - 44 tuần tuổi tại điều kiện Thái Nguyên.
- Đánh giá hiệu quả của vaccine phòng bệnh Cáy Củm giai đoạn sinh sản. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài sẽ đóng góp vào nghiên cứu phương thức phòng trị bệnh cho gà Cáy Củm phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tri thức bản địa của khu vực miền núi. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học cho người chăn nuôi áp dụng các phương pháp phòng trị bệnh đạt hiệu quả cao, góp phần xóa đói, giảm nghèo cho đồng bào vùng cao.
e 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài 2. Đặc điểm về giố ng gà Cơ sở nghiên cứu về giống gà: Các tính trạng ngoại hình gia cầm bao gồm: Màu sắc lông, da, mỏ, chân, màu mắt, dái tai, kiểu mào, màu mỏ, qua đó chia ra những màu sắc và hình dạng đặc trưng cho từng giống gà, kèm theo đó là sự khác biệt giữa gà trống và gà mái với từng chỉ tiêu đó. Kết quả nghiên cứu của Đặng Hữu Lanh và cộng sự, (1999) [9] cho biết màu sắc da, lông là tín hiệu để nhận dạng một số gia cầm.
Đây là đặc điểm quan tâm hàng đầu của người tiêu dùng khi thu mua gia cầm, nó đã đi vào khía cạnh thẩm mỹ của con người và gà ta có màu của lá chuối khô, da vàng, chân vàng sẽ được ưu tiên. Tính trạng ngoại hình còn là chỉ tiêu đánh giá phẩm giống, nếu màu lông của đàn gà có sự đồng nhất cao cho thấy giống gà đó thuần, theo đánh giá của Johansson (1972) [8]. Sắc tố da, lông ở gia cầm được xác định bởi hai yếu tố Melanin và Xantophyl. Xantophil là sắc tố ở dạng tinh thể màu vàng, nằm ở da, mỏ và chân.
Melanin tồn tại dạng hạt, có ở da và gốc lông, sự xuất hiện của Melanin không phụ thuộc vào lứa tuổi. Đầu: Cấu tạo xương đầu được coi như có độ tin cậy cao nhất trong việc đánh giá đầu gia cầm. Da mặt và các phần phụ của đầu cho phép rút ra kết luận và sự phát triển của mô đỡ và mô liên kết. Gà trống có ngoại hình đầu giống gà mái sẽ có tính dục kém, gà mái có ngoại hình của gà trống sẽ không cho năng suất cao, trứng thường không phôi.
Mào là đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp có thể phân biệt trống mái. Mào gà có hình thái rất đa dạng cả về hình thái, kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng cho từng giống. Hình dáng của mào, mào dưới và mào tai có thể biết được sức khỏe và điều kiện sống của chúng. Bộ lông: Lông là 1 dẫn suất của da, thể hiện đặc điểm di truyền của giống và có ý nghĩa quan trọng trong việc phân loại.
Khi mới nở, gia cầm non được lông tơ che phủ, trong quá trình phát triển lông tơ sẽ dần dần được thay thế bằng lông cố định. Giới thiệu về giống gà Cáy Củm Gà Cáy Củm hay còn gọi là gà cúp (gà không có phao câu). Gà Cáy Củm là tên gọi theo dân tộc Tày, đây là một giống gà nội được nuôi từ rất lâu đời không rõ nguồn gốc xuất xứ từ đâu, ngoại hình, màu lông da, phẩm chất thịt thơm ngon, giòn hơn giống gà ri, mang hương vị đặc trưng, khả năng đề kháng rất cao, được người dân coi đây là giống gà quý của địa phương. Theo báo Tiền phong, 2014 [1]: Gà Cáy Củm đã được nuôi từ lâu đời tại xã Đức Xuân và Ngũ Lão (huyện Hòa An) và xã Lưu Ngọc (huyện Trà Lĩnh, Cao Bằng) và rải rác tại một số xã thuộc huyện Hoàng Su Phì (Hà Giang), từng được dùng cúng lễ cầu may mắn và là vật linh thiêng trong nhà người H’Mông.
Hiện nay, giống gà này giảm số lượng và chỉ được nuôi xen kẽ rất ít ở các hộ người H’Mông, vì theo quan niệm của người địa phương, những ngày giỗ, tết phải ăn và biếu bố mẹ gà trống thiến to béo. Gà Cáy Củm không đạt yếu tố thẩm mỹ. - Đặc điểm ngoại hình và tập tính + Ngoại hình - Lông: 15 Màu sắc của lông đa dạng giống gà Ri: Màu lông nâu, xám, hoa mơ, vàng có sọc đen, ánh xanh cánh sả, đen… Lông mượt và nhiều. Lúc mới nở và còn nhỏ con trống và con mái có màu lông giống nhau.
Khi trưởng thành: + Con trống: Màu lông con trống rực rỡ, đẹp mắt. Màu sắc lông đa dạng: Nâu đỏ, xám, nâu, đen, ánh vàng. + Con mái: Màu nâu, xám, vàng nâu, đen. Lông mềm sang có màu nâu, xám, lông trắng sọc đen.
- Đặc biệt là lông đuôi cúp xuống (vì không có phao câu). - Mào: Mào đơn, mào dâu, màu đỏ. - Tầm vóc: Tầm vóc thanh gọn, thân tương đối ngắn, chân cao vừa phải, mào bé, xương nhỏ, lông xếp xít vào thân. - Màu mắt: Đen, nâu.
- Màu dái tai: Trắng đỏ, trắng. - Màu sắc chân: Chủ yếu có màu vàng, có một số màu đen, nâu. - Phao câu: Không có. e 5 * Đặc điểm về tập tính Sống theo đàn, tính tình hiền lành, linh hoạt, nhanh nhẹn.
- Khả năng sản xuất Khối lượng gà trưởng thành: Con trống: 2,0 – 2,5 kg. Tuổi thành dục: Trống : 150 ngày Mái: 130 ngày Tuổi đẻ lứa đầu: 150 ngày Sản lượng trứng: 13 – 16 quả/lứa, 130 – 150 quả/năm. Trọng lượng trứng: 35 – 45 gam/ quả. Vỏ trứng thường có màu trắng, một số ít có màu nâu.
Khoảng cách lứa đẻ: Trung bình 20 ngày. Thời gian ấp nở: 21 ngày Tỷ lệ ấp nở là: 80%. * Khả năng sản xuất Khái niệm sinh trưởng: Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở đặc tính di truyền từ thế hệ trước. “Thực chất của sinh trưởng chính là tăng trưởng và phân chia của các tế bào trong cơ thể.
Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992) [11] đã khái quát: “Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ thông qua trao đổi chất, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể trên cơ sở tính di truyền có từ đời trước”. + Sinh trưởng tuyệt đối: Là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn cơ thể hay từng bộ phận cơ thể tăng lên trong một đơn vị thời gian. +Sinh trưởng tương đối: Là phần khối lượng kích thước, thể tích của toàn cơ thể hay từng bộ phận cơ thể tại thời điểm sinh trưởng sau tăng lên so với thời điểm sinh trưởng trước. e 6 - Khái niệm phát dục: Phát dục là một quá trình thay đổi về chất lượng tức là sự thay đổi, tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của cơ quan, bộ phận trong cơ thể, nhờ vậy vật nuôi hoàn thiện được các chức năng của cơ thể sống.
* Đặc điểm phát triển cơ quan tiêu hóa Theo Nguyễn Duy Hoan, 1998 [4]: Tiêu hóa là quá trình phân giải các chất dinh dưỡng trong thức ăn từ những hợp chất hóa học phức tạp thành những hợp chất đơn giản mà cơ thể gia cầm có thể hấp thu và lợi dụng được. Cơ quan tiêu hóa gồm: Khoang miệng, hầu, thực quản trên, diều, thực quản dưới, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, manh tràng, trực tràng và lỗ huyệt, đồng thời có sự tham gia của gan và tụy. Gà không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ chỉ có vai trò lấy thức ăn chứ không có tác dụng nghiền nhỏ. Mỏ chia làm 3 phần: Đầu mỏ, thân mỏ và gốc mỏ.
Hầu ở giữa khoang miệng và thực quản trên. Khoang mũi và miệng thông về phía hầu, phía trước hầu có khe hô hấp của thanh quản. Thực quản chia làm 2 phần: Phần trên bắt đầu từ hầu và tận cùng là ở diều, phần dưới từ diều đến dạ dày tuyến. Thực quản có dạng ống, đường kính gà trưởng thành khoảng 7 - 9 mm.
Diều là khoảng mở rộng của thực quản ở khoang ngực.