Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH THÁI – THỂ LỰC CỦA CON NGƯỜI Các chỉ số thể lực của con người phản ánh mức độ phát triển tổng hợp của các hệ cơ quan trong cơ thể hoàn chỉnh, thống nhất, thể lực là một trong những thông số cơ bản phản ảnh sự phát triển sinh học của cơ thể. Nó có mối liên quan nhất định với tình trạng sức khỏe và khả năng lao động của con người. Chính vì vậy, cùng với sự phát triển của y học và sinh học người, việc nghiên cứu thể lực ngày càng phát triển mạnh mẽ và các chỉ số này từ lâu đã được nhiều nhà khoa học quan tâm.
Các thông số hình thái, thể lực được coi là thước đo sức khỏe và khả năng lao động của con người. Sự tăng trưởng về hình thái và thể lực là kết quả của sự sinh trưởng, phát triển của cơ thể sống [3], [5]. Hình thái và thể lực của con người thể hiện qua các thông số cơ bản như chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực, và chỉ số BMI, ….Chúng tôi chỉ nghiên cứu một số chỉ tiêu cơ bản. Chiều cao là một trong các chỉ số quan trọng trong việc đánh giá thể lực con người.
Chiều cao phản ánh sự phát triển chiều dài của xương, biểu hiện tầm vóc của con người và nó mang tính chất đặc trưng cho chủng tộc, giới tính. Sự phát triển chiều cao của con người chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như dinh dưỡng, môi trường sống [7], [16], [30]. Cân nặng cũng là một trong những chỉ tiêu hình thái cơ bản sau chiều cao, là đại lượng biểu thị mức độ và tỷ lệ giữa quá trình tiêu hao và hấp thu năng lượng. Do đó, cân nặng ít bị phụ thuộc bởi yếu tố di truyền mà chủ yếu bị ảnh hưởng bởi chế độ dinh dưỡng [2],[36].
Cân nặng cũng thay đổi theo lứa tuổi và không đồng đều trong quá trình phát triển. Từ khi sinh ra cân nặng 5 cơ thể tăng nhanh và đạt đến tối đa ở tuổi trưởng thành sau đó có thể tiếp tục tăng hoặc giảm tùy thuộc vào thể trạng từng người [13]. Vòng ngực là một trong những chỉ tiêu đặc trưng của cơ thể người. Ở mỗi lứa tuổi có một tỷ lệ cân đối giữa chiều cao đứng và đường kính ngang ngực.
Sự tăng trưởng của vòng ngực có liên quan mật thiết với sự tăng trưởng khối lượng cơ thể. Ngoài ra, mức độ tăng trưởng của lồng ngực có liên quan đến hoạt động hô hấp và sức khỏe của mỗi người [40]. BMI (Body Mass Index) thể hiện mối tương quan giữa chiều cao và cân nặng của cơ thể. Chỉ số này cho phép đánh giá mức độ dinh dưỡng và khả năng hấp thu của cơ thể, qua đó biết được mức độ gầy hay béo của một người [27], [29], [30].
Nhược điểm duy nhất của BMI là không thể tính được lượng chất béo trong cơ thể - yếu tố tiềm ẩn các nguy cơ liên quan đến sức khỏe tương lai. Nghiên cứu các chỉ số về hình thái- thể lực ở thế giới. Trên thế giới, việc nghiên cứu hình thái thể lực đã được con người tiến hành từ khi con người biết đo chiều cao, cân nặng của mình. Thế kỷ XIII, Tenon đã xem cân nặng là một chỉ số quan trọng để đánh giá thể lực.
Nhưng mãi đến đầu thế kỷ XVIII, nghiên cứu hình thái sinh lý mới trở thành một ngành khoa học thực sự và được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Mối liên hệ giữa hình thái và môi trường sống cũng đã được nghiên cứu từ rất sớm, đại diện là các nhà nhân trắc học Ludman, Nold và Volanski. Sau này các nhà giải phẫu học kiêm họa sỹ thời phục hưng như Leonard de Vinci, Miken Langielo, Raphael…đã tìm hiểu kỹ cấu trúc và mối tương quan giữa các bộ phận trong cơ thể người để đưa lên tác phẩm hội họa của mình. Người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại là nhà nhân trắc học người Đức Rudolf Martin qua 2 tác phẩm nổi tiếng “Giáo trình về nhân trắc học” và “Kim chỉ nam đo đạc cơ thể và xử lý thống kê”.
Trong các công trình 6 này, ông đã đề xuất một số phương pháp và dụng cụ đo đạc các kích thước của cơ thể, cho đến nay vẫn được sử dụng. Sau Rudolf Martin đã có nhiều công trình bổ sung và hoàn thiện thêm các đề xuất của ông cho phù hợp với từng nước. Vấn đề nhân trắc học còn được thể hiện qua các công trình của P. Baskirov – “Nhân trắc học”.
Evan Dervael - “Nhân trắc học”, công trình của Bunak, A. Song song với sự phát triển bộ môn di truyền, Sinh lý học, Toán học…việc nghiên cứu nhân trắc học ngày càng hoàn chỉnh và đa dạng hơn. Vấn đề này được thể hiện qua các công trình của X. Galperin, Tomiewicz, Tarasov, Tommer, M.
Nghiên cứu cắt ngang là một hướng đi sâu nghiên cứu sự tăng trưởng về mặt hình thái, đó là nghiên cứu sự tăng trưởng của cơ thể và các đại lượng có thể đo lường được bằng kỹ thuật nhân trắc trong cùng một thời điểm [52]. Công trình đầu tiên trên thế giới cho thấy sự tăng trưởng hoàn chỉnh ở các lớp tuổi từ 1 đến 25 là luận án tiến sĩ của Christian Fridrich Jumpert người Đức vào năm 1754. Công trình này được nghiên cứu theo phương pháp cắt ngang (Cross – sectional study) được dùng phổ biến do có ưu điểm là rẻ tiền, nhanh và thực hiện trên nhiều đối tượng cùng một lúc [41]. Nghiên cứu dọc của Philibert Guéneau de Montbeilard thực hiện trên con trai mình từ năm 1759 đến năm 1777.
Đây là phương pháp rất tốt đã được ứng dụng cho đến ngày nay. Năm 1977 Hiệp hội các nhà tăng trưởng học đã được thành lập đánh dấu một bước phát triển mới của việc nghiên cứu vấn đề này trên thế giới. Cuối thế kỷ XIX, trong cuốn “Các yếu tố nhân trắc học đại cương”, Geogres Olivier và Topinard (1885) là những người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “Nhân trắc học cơ thể”, đánh dấu một mốc quan trọng trong nghiên cứu nhân trắc học [36]. 7 Từ thế kỷ XX, việc nghiên cứu thể lực đã được nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới như Liên Xô, Pháp, Đức, Trung Quốc, Mỹ,Rumani…Các công trình đều cho thấy, tốc độ phát triển thể lực diễn ra mạnh nhất vào tuổi dậy thì do ảnh hưởng của các tuyến nội tiết trong thời kỳ chín sinh dục.
Tốc độ tăng trưởng và thời gian tăng trưởng phụ thuộc vào yếu tố xã hội và môi trường sống [11]. Nghiên cứu các chỉ số về hình thái- thể lực ở Việt Nam. Hình thái – thể lực con người Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vào năm 1875 do Mondiere thực hiện trên trẻ em. Vào những năm 30 của thế kỷ XX tại Viện Viễn Đông Bác cổ, sau đó là tại trường Đại họcY khoa Đông Dương (1936- 1944) đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về vấn đề này.
Tác phẩm “Những đặc điểm nhân chủng và sinh học của người Đông Dương” của P.Huard và Đỗ Xuân Hợp được xem là công trình nghiên cứu đầu tiên về hình thái người Việt Nam. Tuy nhiên số lượng chưa nhiều nhưng tác phẩm này đã nêu được các đặc điểm nhân trắc của người Việt Nam đương thời [41]. Bigot đã cho ra đời tác phẩm “Những đặc điểm nhân chủng và sinh học của người Đông Dương”. Huard và Đỗ Xuân Hợp (1939) đã nghiên cứu trên 897 nữ sinh Hà Nội từ 5 đến 18 tuổi và cho ra đời tác phẩm “Hình thái học người và giải phẫu thẩm mỹ học”.
Mặc dù số lượng chưa nhiều nhưng các tác phẩm này đã nêu được các đặc điểm nhân trắc của người Việt Nam đương thời và có giá trị để so sánh với các nghiên cứu sau này [9]. Từ năm 1954 trở về sau, các công trình điều tra về con người ở Vệt Nam được thực hiện nhiều và tương đối về mọi mặt, trong đó phải kể đến các tác giả điển hình như Đỗ Xuân Hợp, Nguyễn Quang Quyền, Nguyễn Thị Lê, Chu 8 Văn Tường, Trần Tích Cảnh… Các công trình này tập trung nghiên cứu các đặc điểm và sự phát triển qua các giai đoạn của người Việt Nam [26]. Đến năm 1975, cuốn “Hằng số sinh học của người Việt Nam” do Nguyễn Tấn Gi Trọng [51] chủ biên được công bố, đây là một công trình khá hoàn chỉnh các thông số về sinh học, sinh lý, hóa sinh của người Việt Nam ở mọi lứa tuổi. Tuy mới là chỉ số sinh học của người miền Bắc, song nó thực sự là chỗ dựa đáng tin cậy cho các nghiên cứu sau này trên người Việt Nam.
Năm 1991, Đào Huy Khuê [19] đã nghiên cứu 36 chỉ tiêu kích thước về sự tăng trưởng và phát triển của cơ thể của 1478 học sinh từ 6-17 tuổi ở thị xã Hà Đông cho rằng hầu hết các thông số về hình thái tăng dần theo lứa tuổi nhưng nhịp tim không đều, tốc độ phát triển tối đa các thông số của nam thường ở lứa tuổi 14- 16, nữ: 11 -15. Từ 6 -9 tuổi kích thước của nam và nữ không có sự khác biệt rõ rệt, từ 10- 15 tuổi kích thước nữ thường vượt trội hơn nam và từ 16 -17 tuổi kích thước của nam lại vượt trội hơn nữ. Năm 1992, Thẩm Thị Hoàng Điệp [8] đã nghiên cứu dọc trên 101 học sinh Hà Nội từ 6- 17 tuổi với 31 chỉ tiêu sinh học. Tác giả đã rút ra được nhiều kết luận như chiều cao của học sinh phát triển mạnh nhất lúc 11-12 tuổi ở nữ và 13- 15 tuổi ở nam, còn cân nặng phát triển mạnh nhất lúc 12 -13 tuổi ở nữ và 14 -15 tuổi ở nam.
Năm 1993, Đoàn Yên và các Cs [57] đã nghiên cứu trên trẻ em người Kinh và người Mường ở tỉnh Hà Tây nhận thấy ở độ tuổi 12 -13 các kích thước cơ thể như chiều cao, khối lượng , chỉ số pignet… của nữ lớn hơn nam. Năm 1994, Nguyễn Đức Hồng đã nghiên cứu “Đặc điểm nhân trắc của người Việt Nam lứa tuổi lao động giai đoạn 1981-1985” trên 13223 người thuộc cả 3 miền đã kết luận người Việt Nam trong độ tuổi lao động có chiều cao trung bình là 163cm ở nam và 153cm ở nữ [13]. 9 Năm 1996 Thẩm Thị Hoàng Điệp và Cs (1996) nghiên cứu 8.000 người từ 1 - 55 tuổi ở cả ba miền Bắc, Trung và Nam nhận thấy, chiều cao của nam tăng nhanh đến 18 tuổi và nữ đến 14 tuổi. Các tác giả cho rằng có quy luật gia tăng về chiều cao ở người Việt Nam là cứ 20 năm tăng khoảng 4 cm [9], [18].