Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Ô nhiễm môi trường nước từ các hoạt động công nghiệp là vấn đề nghiêm trọng, trong đó nước thải công nghiệp dệt may là nguồn thải phức tạp do chứa nhiều chất hữu cơ bền vững và khó phân hủy vi sinh. Theo số liệu của Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vinatex, 2009), ngành dệt may có khoảng 2.000 doanh nghiệp, đóng góp khoảng 31% tổng sản lượng công nghiệp, chiếm 19,8% kim ngạch xuất khẩu và giải quyết việc làm cho 2,5 triệu lao động. Tuy nhiên, hàng năm ngành thải ra hàng trăm triệu mét khối nước thải có độ màu và nồng độ ô nhiễm cao.
Thuốc nhuộm hoạt tính (TNHT) là loại thuốc nhuộm được sử dụng phổ biến nhất cho xơ sợi xenlulo nhờ độ bền màu cao thông qua liên kết cộng hóa trị với xơ sợi. Trong quá trình nhuộm, do phản ứng thủy phân cạnh tranh, lượng thuốc nhuộm hoạt tính thất thoát vào nước thải dao động từ 10% đến 50%. Các phương pháp xử lý truyền thống như keo tụ - tạo bông hay sinh học thông thường gặp nhiều hạn chế: keo tụ sinh nhiều bùn thải và hiệu quả thấp với thuốc nhuộm tan, trong khi vi sinh không thể phân hủy trực tiếp các cấu trúc màu bền vững.
Phương pháp oxi hóa pha lỏng có xúc tác sử dụng oxy không khí (Catalytic Wet Air Oxidation - CWAO) là hướng tiếp cận có khả năng xử lý phổ rộng các chất hữu cơ bền mà không tạo sản phẩm ô nhiễm thứ cấp. Tuy nhiên, xúc tác kim loại quý (Pt, Pd, Rh) có giá thành cao và dễ bị ngộ độc xúc tác, trong khi xúc tác oxit kim loại chuyển tiếp thương mại chủ yếu phải nhập khẩu. Việt Nam có tiềm năng khoáng sản kim loại chuyển tiếp phong phú. Việc nghiên cứu tận dụng trực tiếp các loại quặng tự nhiên sẵn có trong nước (mangan, sắt, đồng) để chế tạo xúc tác CWAO chi phí thấp, kết hợp với công đoạn sinh học, là khoảng trống công nghệ mà luận án lựa chọn giải quyết.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích chính của luận án là tìm kiếm loại xúc tác phù hợp từ các loại quặng kim loại chuyển tiếp sẵn có tại Việt Nam cho phản ứng oxi hóa pha lỏng nhằm xử lý thuốc nhuộm hoạt tính trong nước thải dệt nhuộm bằng tác nhân $O_2$ không khí, làm tiền đề xử lý các chất hữu cơ khó phân hủy sinh học trong nước thải.
Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số gồm:
- Chọn lọc quặng có khả năng xúc tác tốt nhất cho phản ứng CWAO xử lý thuốc nhuộm hoạt tính từ các nguồn: quặng sắt Trại Cau (Fe-TC), quặng mangan Tuyên Quang (Mn-TQ), quặng mangan Hà Giang (Mn-HG) và quặng mangan Cao Bằng (Mn-CB); đánh giá ảnh hưởng của quá trình xử lý nhiệt ở 600°C trong 6 giờ.
- Đánh giá hoạt tính của quặng xúc tác thông qua việc xác định năng lượng hoạt hóa ($E_a$) và hằng số tốc độ ($k$) của phản ứng có và không có xúc tác ở cùng điều kiện.
- Chế tạo và đánh giá hoạt tính của nhóm xúc tác 2 hợp phần (Mn-Fe), nghiên cứu động học oxi hóa 3 loại thuốc nhuộm hoạt tính đại diện cho các gam màu cơ bản: Reactive Blue 19 (RB19), Reactive Orange 122 (RO122), Reactive Yellow 145 (RY145) trên xúc tác 2 hợp phần tốt nhất.
- Chế tạo và đánh giá hoạt tính xúc tác của nhóm xúc tác 3 hợp phần (Cu-Mn-Fe) sử dụng quặng đồng Sinh Quyền (Lào Cai).
- Khảo sát khả năng xúc tác của mẫu xúc tác 3 hợp phần đối với nước thải dệt nhuộm thực tế.
- Đánh giá khả năng xử lý sinh học bằng hệ bùn hoạt tính đối với nước thải sau quá trình CWAO.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Dung dịch các chất màu thuốc nhuộm hoạt tính pha chế trong phòng thí nghiệm (RB19 - cấu trúc antraquinon, RO122 - cấu trúc azo, RY145 - cấu trúc azo) và nước thải dệt nhuộm thực tế lấy từ máy nhuộm của Công ty TNHH Trường Thịnh (xã Phùng Xá, huyện Mỹ Đức, Hà Nội). Các loại quặng tự nhiên gồm: quặng mangan Cao Bằng, mangan Tuyên Quang, mangan Hà Giang, quặng sắt Trại Cau (Thái Nguyên) và quặng đồng Sinh Quyền (Lào Cai).
- Phạm vi nghiên cứu: Quá trình oxi hóa pha lỏng có xúc tác trong thiết bị phản ứng áp suất cao gián đoạn (Parr reactor) ở dải nhiệt độ 120°C - 150°C, áp suất làm việc đến 13 atm; tiếp nối bằng hệ bùn hoạt tính hiếu khí gián đoạn theo mẻ. Luận án thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội, bảo vệ năm 2012.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Tác giả đã hệ thống hóa các nhóm phương pháp xử lý thuốc nhuộm hoạt tính trong nước thải dệt nhuộm:
- Phương pháp hóa lý: Keo tụ - tạo bông (sử dụng phèn nhôm, $\text{FeCl}_3$, PAC, PFC, chất trợ keo tụ PAA), hấp phụ (than hoạt tính, khoáng sét, Acrasorb D, Macrosorb), công nghệ lọc màng (NF, RO). Nhược điểm chung của nhóm này là chỉ chuyển pha chất ô nhiễm từ pha lỏng sang pha rắn (bùn thải, chất hấp phụ), không phân hủy triệt để cấu trúc hóa học.
- Phương pháp điện hóa và oxi hóa - khử hóa học: Khử bằng $\text{NaBH}_4$/bisunfit; oxi hóa bằng $\text{Cl}_2$, $\text{O}_3$, $\text{KMnO}_4$, $\text{H}_2\text{O}_2$. Khí clo sinh dẫn xuất cơ clo độc hại; ozon hóa có chi phí thiết bị cao và thời gian bán hủy ngắn.
- Các quá trình oxi hóa nâng cao (AOPs): Quang phân $\text{UV}/\text{H}_2\text{O}_2$, xúc tác quang hóa $\text{TiO}_2$ anatas, hệ Fenton ($\text{Fe}^{2+}/\text{H}_2\text{O}_2$) và kiểu Fenton ($\text{Fe}^{3+}/\text{H}_2\text{O}_2$).
- Phương pháp oxi hóa pha lỏng:
- Oxi hóa pha lỏng không xúc tác (Wet Air Oxidation - WAO) và oxi hóa pha lỏng siêu tới hạn (Supercritical Wet Oxidation - SCWO, $T > 375^\circ\text{C}, P > 22{,}1\text{ MPa}$). Bảng tổng quan luận án trích dẫn điều kiện nghiên cứu WAO của các tác giả quốc tế: Li và ctv (1991, 150-350°C, 20-200 atm), Mishra và ctv (1995, 125-320°C, 5-200 atm), Beyrich và ctv (1979, 150-300°C, 50-200 atm), Escalas và ctv (1997, 175-320°C, 22-208 atm), Debellefontaine và ctv (2000, 200-325°C, >150 atm), Perkow và ctv (1981, 150-330°C, 30-250 atm), Foussard và ctv (1989, 197-327°C, 20-200 atm).
- Nghiên cứu xúc tác CWO: Wu và ctv (2000, Cu/MCM-41 oxi hóa phenol), Hočevar và ctv (2000, $\text{CuO-CeO}_2$), Hamoudi và ctv (2000, $\text{Pt,Ag-MnO}_2/\text{CeO}_2$), Hussain và ctv (2001, K-Mn-Ce-O), Xiao và ctv (2000, $\text{Cu}_2(\text{OH})\text{PO}_4$), Batygina và ctv (2000, Ru), Fajerwerg và ctv (1997, Fe-ZSM-5).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Phần lớn các nghiên cứu CWAO sử dụng các muối hóa chất tinh khiết hoặc kim loại quý để tổng hợp chất mang và pha hoạt tính, dẫn đến chi phí vật liệu cao, khó triển khai thực tế tại các nước đang phát triển. Luận án lựa chọn khai thác trực tiếp nguồn quặng khoáng sản kim loại chuyển tiếp tự nhiên của Việt Nam làm tiền chất chế tạo xúc tác dị thể đa hợp phần, đồng thời thiết lập chuỗi quy trình tích hợp CWAO làm bước tiền xử lý để chuyển hóa các chất khó phân hủy thành dạng dễ phân hủy sinh học trước khi đưa vào hệ thống xử lý bùn hoạt tính.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và cơ chế phản ứng
- Cơ chế phản ứng CWAO: Quá trình oxi hóa pha lỏng diễn ra theo cơ chế chuỗi gốc tự do qua các giai đoạn:
- Khơi mào sinh gốc tự do: Oxy phân tử tương tác với liên kết $\text{C-H}$ của hợp chất hữu cơ ($\text{RH}$) tạo gốc $\text{HO}_2^\bullet$:
$$\text{RH} + \text{O}_2 \rightarrow \text{R}^\bullet + \text{HO}_2^\bullet$$
$$\text{RH} + \text{HO}_2^\bullet \rightarrow \text{R}^\bullet + \text{H}_2\text{O}_2$$
Gốc hydroxyl hoạt tính ($^\bullet\text{OH}$) hình thành khi $\text{H}_2\text{O}_2$ phân hủy trên bề mặt xúc tác kim loại ($\text{M}$):
$$\text{H}_2\text{O}_2 + \text{M} \rightarrow 2,^\bullet\text{OH}$$
- Phát triển mạch: Gốc $^\bullet\text{OH}$ tấn công phân cắt mạch hữu cơ tạo gốc peoxy ($\text{ROO}^\bullet$), sau đó tạo hydropeoxit ($\text{ROOH}$) và các axit cacboxylic mạch ngắn ($\text{CH}_3\text{COOH}, \text{HCOOH}$).
- Đứt mạch: Các axit hữu cơ trung gian tiếp tục bị oxi hóa thành $\text{CO}_2$ và $\text{H}_2\text{O}$.
- Mô hình động học: Phản ứng tuân theo phương trình động học dạng:
$$w = -\frac{\mathrm{d}C}{\mathrm{d}t} = k \cdot C^n$$
Ảnh hưởng của nhiệt độ đến hằng số tốc độ $k$ được mô tả qua phương trình Arrhenius:
$$k = k_0 \cdot \exp\left(-\frac{E_a}{RT}\right)$$
- Hiện tượng chuyển khối: Quá trình CWAO diễn ra trong hệ ba pha (Khí - Lỏng - Rắn), sự chuyển khối oxy từ pha khí qua màng lỏng vào pha lỏng được kiểm soát bằng tốc độ khuấy trộn của thiết bị phản ứng.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
- Quy trình chế tạo xúc tác:
- Xúc tác một cấu tử (gốc): Quặng tự nhiên được tuyển lựa, nghiền, rây lấy kích thước hạt đồng đều; khảo sát mẫu nguyên bản và mẫu nung ở 600°C trong 6 giờ.
- Xúc tác hai cấu tử (Mn-Fe): Sử dụng bột quặng Mn-CB làm cốt, bổ sung pha $\text{Fe}_2\text{O}_3$ từ tiền chất muối $\text{FeCl}_3\cdot6\text{H}_2\text{O}$ bằng phương pháp đồng kết tủa ở các tỷ lệ mol khác nhau (ký hiệu: 1Q_Mn:1Fe, 1Q_Mn:2Fe, 1Q_Mn:3Fe...). Các mẫu đối chứng được tổng hợp hoàn toàn từ muối tinh khiết $\text{MnCl}_2$ và $\text{FeCl}_3$.
- Xúc tác ba cấu tử (Cu-Mn-Fe): Kết hợp quặng đồng Sinh Quyền với hệ xúc tác 1Q_Mn:3Fe theo 2 phương pháp: trộn cơ học đơn giản và phân giải hòa tan quặng đồng bằng axit rồi kết tủa lên bột 1Q_Mn:3Fe.
- Phương pháp phân tích đặc trưng xúc tác:
- Nhiễu xạ tia X (XRD) xác định thành phần pha tinh thể.
- Hiển vi điện tử truyền qua (TEM) quan sát hình thái, kích thước hạt nano xúc tác.
- Hấp phụ - giải hấp đẳng nhiệt nitơ theo phương pháp BET đo diện tích bề mặt riêng và phân bố kích thước lỗ xốp.
- Phân tích nhiệt khối lượng (TGA/DTA) theo dõi sự biến đổi pha khi xử lý nhiệt.
- Quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) và quang phổ phát xạ plasma (ICP) xác định hàm lượng kim loại hòa tan vào dung dịch.
- Phương pháp phân tích mẫu nước và xử lý số liệu:
- Đo quang phổ tử ngoại - khả kiến (UV-Vis) xác định nồng độ chất màu thuốc nhuộm (RB19, RY145, RO122) và độ màu theo thang Pt-Co.
- Đo nhu cầu oxy hóa học (COD) theo phương pháp chuẩn APHA 5220D.
- Đo nhu cầu oxy sinh hóa ($\text{BOD}_5$).
- Thuật toán tối ưu hóa phi tuyến: Sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu với công cụ Solver trong phần mềm Microsoft Excel để xác định đồng thời bậc riêng phản ứng ($n$) và hằng số tốc độ ($k$).
- Thí nghiệm sinh học: Khảo sát quá trình phân hủy nước thải sau CWAO bằng hệ bùn hoạt tính (BHT) hiếu khí vận hành theo mẻ gián đoạn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 tổng hợp cơ sở lý luận về thuốc nhuộm và các phương pháp xử lý môi trường. Thuốc nhuộm gồm nhóm mang màu (chromogen chứa liên kết đôi liên hợp như $-\text{N}=\text{N}-$, $>\text{C}=\text{C}<$, $>\text{C}=\text{O}$) và nhóm trợ màu ($-\text{SO}_3\text{H}$, $-\text{COOH}$, $-\text{OH}$, $-\text{NH}_2$). Thuốc nhuộm hoạt tính có công thức tổng quát $\text{S-R-T-Y}$, tạo liên kết cộng hóa trị với xơ sợi qua các nhóm chức phản ứng như vinylsunfon, halotriazin. Khi nhuộm, thuốc nhuộm bị thủy phân một phần tạo ra hợp chất không gắn vào sợi nhưng giữ nguyên màu sắc, đi vào nước thải với tỷ lệ thất thoát 10-50%.
Tác giả phân tích chi tiết bản chất của các quá trình oxi hóa pha lỏng (WO, SCWO, CWAO). Đối với hệ CWAO ba pha, chương này chỉ ra 3 trường hợp chuyển khối:
- Trường hợp 1: Tốc độ phản ứng lớn hơn rất nhiều tốc độ khuếch tán, nồng độ oxy hòa tan trong lòng pha lỏng tiệm cận 0.
- Trường hợp 2: Tốc độ phản ứng xấp xỉ tốc độ khuếch tán, quá trình bị kiểm soát bởi sự chuyển khối.
- Trường hợp 3: Tốc độ phản ứng nhỏ hơn tốc độ khuếch tán, nồng độ oxy hòa tan đạt trạng thái bão hòa, phản ứng hóa học đóng vai trò kiểm soát toàn bộ tốc độ quá trình.
Chương 1 cũng đánh giá hạn chế của xúc tác đồng thể ($\text{Fe}^{2+}, \text{Cu}^{2+}, \text{Mn}^{2+}$) do nguy cơ gây ô nhiễm kim loại nặng thứ cấp, từ đó xác lập tính tất yếu của việc phát triển xúc tác dị thể oxit kim loại chuyển tiếp trên cơ sở quặng khoáng tự nhiên.
Chương 2: Đối tượng, các phương pháp nghiên cứu và đánh giá kết quả thực nghiệm
Chương 2 mô tả toàn bộ hóa chất, thiết bị và các quy trình thực nghiệm. Thiết bị chính là nồi phản ứng áp suất cao Parr có gắn cánh khuấy cơ học điều tốc, vỏ gia nhiệt tự động và hệ thống nạp khí nén.
Quy trình nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế theo các bước logic:
- Thí nghiệm xác định các yếu tố thủy động lực học: khảo sát tốc độ khuấy trộn để loại bỏ ảnh hưởng của trở lực khuếch tán ngoài; khảo sát ảnh hưởng của pH ban đầu.
- Thí nghiệm sàng lọc 4 loại quặng khoáng: xác định biến thiên nồng độ chất màu RB19 và COD theo thời gian ở điều kiện có và không có xử lý nhiệt quặng ở 600°C.
- Thí nghiệm xác định thông số động học ($k, E_a, k_0$) cho phản ứng oxi hóa RB19 trong hệ có xúc tác quặng gốc và hệ đối chứng không xúc tác tại các mức nhiệt độ khác nhau.
- Thí nghiệm chế tạo và khảo sát hoạt tính của chuỗi xúc tác hai cấu tử Mn-Fe điều chế từ quặng Mn-CB kết hợp muối sắt, so sánh với hệ xúc tác tổng hợp từ muối nguyên chất.
- Thí nghiệm động học phân hủy 3 chất màu (RB19, RO122, RY145) trên xúc tác hai cấu tử tối ưu (1Q_Mn:3Fe) ở dải nhiệt độ 120°C, 130°C, 140°C, 150°C.
- Thí nghiệm chế tạo chuỗi xúc tác ba cấu tử Cu-Mn-Fe qua phương pháp trộn cơ học và phương pháp kết tủa từ dịch hòa tan quặng đồng Sinh Quyền.
- Thí nghiệm CWAO xử lý nước thải dệt nhuộm thực tế của Công ty TNHH Trường Thịnh trên xúc tác ba cấu tử tốt nhất (1Q_Cu:(1Q_Mn:3Fe)), đánh giá độ hòa tan kim loại và độ bền tái sử dụng qua 5 chu kỳ.
- Thí nghiệm xử lý sinh học bằng bùn hoạt tính (BHT) gián đoạn đối với nước thải sau quá trình CWAO, theo dõi biến thiên COD, $\text{BOD}_5$ và tỷ lệ $\text{BOD}_5/\text{COD}$.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm và biện luận khoa học:
-
Ảnh hưởng của các yếu tố công nghệ:
- Tốc độ khuấy trộn: Khi tăng tốc độ khuấy đến giá trị thích hợp, hiệu suất xử lý màu và COD tăng nhanh, sau đó đạt trạng thái ổn định, chứng minh trở lực khuếch tán oxy qua màng lỏng đã bị triệt tiêu và phản ứng chuyển sang vùng kiểm soát động học.
- Ảnh hưởng của pH: Hiệu suất oxi hóa màu và giảm COD đạt giá trị cao trong môi trường axit nhẹ đến trung tính.
-
Kết quả chọn lọc quặng xúc tác:
- So sánh 4 loại quặng tự nhiên (Fe-TC, Mn-TQ, Mn-HG, Mn-CB), mẫu quặng mangan Cao Bằng (Mn-CB) thể hiện hoạt tính xúc tác cao nhất, đạt hiệu suất khử màu RB19 là 93,6%.
- Quá trình xử lý nhiệt (nung ở 600°C trong 6 giờ) không làm thay đổi nhiều hoạt tính xúc tác của các loại quặng so với mẫu không nung.
- Phản ứng oxi hóa RB19 trên xúc tác Mn-CB tuân theo phương trình tốc độ:
$$w = 1{,}12 \cdot [\text{RB19}]^1$$
- Năng lượng hoạt hóa ($E_a$) của phản ứng khi có mặt xúc tác Mn-CB giảm rõ rệt so với phản ứng không có xúc tác.
-
Hoạt tính của hệ xúc tác hai cấu tử (Mn-Fe):
- Khảo sát 6 mẫu xúc tác có tỷ lệ mol Mn và Fe khác nhau. Các mẫu điều chế từ quặng Mn-CB đều thể hiện tính chất cộng tính về khả năng xử lý COD.
- Mẫu ký hiệu 1Q_Mn:3Fe (tỷ lệ mol $\text{Mn}:\text{Fe} = 1:3$) cho hoạt tính thực nghiệm vượt cộng tính lý thuyết cao nhất, nâng hiệu suất xử lý COD đối với RB19 từ 33,4% (ở xúc tác gốc) lên 52,5%.
- Kết quả khảo sát động học quá trình CWAO đối với 3 loại thuốc nhuộm hoạt tính trên xúc tác 1Q_Mn:3Fe trong khoảng nhiệt độ 120 - 150°C xác định được phương trình tốc độ:
- Đối với RB19: $w = k \cdot [\text{RB19}]^1$
- Đối với RY145: $w = 2397 \cdot [\text{RY145}]^1$
- Đối với RO122: phản ứng cũng tuân theo quy luật động học bậc 1 biểu kiến.
-
Hoạt tính của hệ xúc tác ba cấu tử (Cu-Mn-Fe):
- Chế tạo 6 mẫu xúc tác ba cấu tử kết hợp quặng đồng Sinh Quyền với hệ 1Q_Mn:3Fe. Phương pháp hòa tan quặng đồng bằng axit rồi kết tủa lên bột 1Q_Mn:3Fe cho hoạt tính vượt trội so với phương pháp trộn cơ học đơn thuần.
- Mẫu 1Q_Cu:(1Q_Mn:3Fe) có hoạt tính ban đầu cao nhất, nâng hiệu suất xử lý COD đối với dung dịch RB19 lên 56,8%.
- Đánh giá độ bền: Trong quá trình phản ứng CWAO, có sự hòa tan một lượng đồng vào dung dịch. Khối lượng xúc tác hao hụt trung bình khoảng 10 - 15% mỗi mẻ phản ứng.
-
Xử lý nước thải dệt nhuộm thực tế và tích hợp vi sinh:
- Nước thải nhuộm thực tế của Công ty TNHH Trường Thịnh được xử lý bằng CWAO trên xúc tác 1Q_Cu:(1Q_Mn:3Fe) ở điều kiện mềm ($T = 150^\circ\text{C}, p_{\text{O}_2} = 13\text{ atm}$). Xúc tác có khả năng tái sử dụng qua 5 chu kỳ phản ứng.
- Nồng độ các kim loại hòa tan sau phản ứng: $[\text{Cu}]$ đạt mức B ($2\text{ mg/L}$), $[\text{Fe}]$ thấp hơn mức B cho phép ($5\text{ mg/L}$) theo QCVN 13:2008/BTNMT.
- Quá trình tiền oxi hóa CWAO đã bẻ gãy các liên kết vòng thơm và nhóm mang màu bền vững, làm tăng tỷ lệ $\text{BOD}_5/\text{COD}$ của nước thải thực từ mức thấp ban đầu (~0,2 - 0,25) lên trên 0,5 - 0,6.
- Sau công đoạn CWAO, nước thải tiếp tục được xử lý qua hệ bùn hoạt tính (BHT). Kết quả sau 4 giờ xử lý vi sinh cho thấy COD giảm về mức xấp xỉ 150 mg/L (tiệm cận và đạt giới hạn cột B theo QCVN 13:2008/BTNMT), $\text{BOD}_5$ đạt 101 mg/L.
Bảng tổng hợp số liệu thực nghiệm
Dưới đây là bảng tổng hợp các thông số đặc trưng và hiệu quả xử lý của các hệ xúc tác được nghiên cứu trong luận án:
| Mẫu xúc tác |
Thành phần / Tỷ lệ |
Hiệu suất khử màu RB19 (%) |
Hiệu suất xử lý COD (%) |
Bậc phản ứng ($n$) đối với chất màu |
Ghi chú |
| Không xúc tác |
- |
Thấp |
Rất thấp |
1 |
Mẫu đối chứng nhiệt phân |
| Mn-CB |
Quặng mangan Cao Bằng (1 cấu tử) |
93,6% |
~33,4% |
1 |
$w = 1{,}12 \cdot [\text{RB19}]^1$ |
| 1Q_Mn:3Fe |
Quặng Mn-CB biến tính $\text{Fe}_2\text{O}_3$ ($\text{Mn}:\text{Fe} = 1:3$) |
73,7% - 74,5% |
52,5% |
1 |
Vượt mức cộng tính lý thuyết về giảm COD |
| 1Q_Cu:(1Q_Mn:3Fe) |
Quặng Cu Sinh Quyền kết tủa trên 1Q_Mn:3Fe |
Cao (>90%) |
56,8% |
1 |
Hoạt tính cao nhất trên nước thải thực |
Bảng tổng hợp diễn biến các chỉ tiêu ô nhiễm của nước thải thực tế qua chuỗi xử lý hai bước CWAO - Bùn hoạt tính:
| Chỉ tiêu phân tích |
Nước thải thực ban đầu |
Sau tiền xử lý CWAO (150°C, 13 atm) |
Sau xử lý tiếp bằng Bùn hoạt tính (BHT) |
Quy chuẩn đối chiếu (QCVN 13:2008 - Cột B) |
| Độ màu |
Rất đậm (UV-Vis cao) |
Giảm mạnh |
Khử triệt để |
Đạt quy chuẩn |
| Tỷ lệ $\text{BOD}_5/\text{COD}$ |
~0,20 - 0,25 |
> 0,50 - 0,60 |
Ổn định |
Tăng khả năng phân hủy sinh học |
| COD (mg/L) |
Nồng độ cao |
< 400 mg/L (đạt mức C - TCVN 5945:2005) |
~150 mg/L |
Tiệm cận / Đạt mức B ($\le 150\text{ mg/L}$) |
| $\text{BOD}_5$ (mg/L) |
- |
- |
101 mg/L |
- |
| Hàm lượng Cu hòa tan |
- |
$\le 2\text{ mg/L}$ |
- |
Đạt mức B ($\le 2\text{ mg/L}$) |
| Hàm lượng Fe hòa tan |
- |
$< 5\text{ mg/L}$ |
- |
Đạt mức B ($\le 5\text{ mg/L}$) |
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Đã chứng minh một cách hệ thống hoạt tính xúc tác oxi hóa pha lỏng (CWAO) của các loại quặng tự nhiên Việt Nam chứa mangan, sắt và đồng trong việc phân hủy các hợp chất màu hữu cơ bền vững.
- Xác định quặng mangan Cao Bằng (Mn-CB) có hoạt tính xúc tác khử màu thuốc nhuộm hoạt tính vượt trội so với các loại quặng mangan và sắt khác.
- Thiết lập được quy luật động học bậc 1 biểu kiến cho phản ứng oxi hóa thuốc nhuộm hoạt tính (RB19, RO122, RY145) trên xúc tác gốc Mn-CB và xúc tác hai cấu tử 1Q_Mn:3Fe; xác định các thông số năng lượng hoạt hóa ($E_a$) và thừa số trước hàm mũ ($k_0$).
- Làm sáng tỏ hiện tượng tương tác cộng tính và vượt mức cộng tính lý thuyết khi biến tính kết hợp quặng Mn-CB với pha sắt ($\text{Fe}$) và đồng ($\text{Cu}$), tạo ra hệ xúc tác đa hợp phần có hoạt tính cao đối với quá trình khoáng hóa COD.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đề xuất quy trình chế tạo xúc tác CWAO giá thành thấp từ nguồn khoáng sản tự nhiên sẵn có trong nước (quặng Mn Cao Bằng, quặng sắt Trại Cau, quặng đồng Sinh Quyền) thay thế cho các hệ xúc tác đắt tiền hoặc phải nhập khẩu.
- Chế tạo thành công xúc tác ba cấu tử 1Q_Cu:(1Q_Mn:3Fe) hoạt động hiệu quả trong điều kiện phản ứng tương đối mềm ($150^\circ\text{C}, p_{\text{O}_2} = 13\text{ atm}$), có khả năng tái sử dụng qua 5 chu kỳ.
- Đề xuất và thử nghiệm thành công giải pháp công nghệ tổ hợp 2 bước: Tiền xử lý CWAO nhằm bẻ gãy cấu trúc mạch thuốc nhuộm, nâng cao tỷ lệ $\text{BOD}_5/\text{COD}$ từ ~0,2 lên >0,5, sau đó xử lý tiếp bằng công nghệ vi sinh bùn hoạt tính hiếu khí. Nước thải sau xử lý đạt quy chuẩn QCVN 13:2008/BTNMT đối với nước thải công nghiệp dệt may.
- Công bố 7 công trình khoa học liên quan trực tiếp đến đề tài, gồm 4 bài báo trên các tạp chí chuyên ngành trong nước (Tạp chí Hóa học, Tạp chí Khoa học và Công nghệ) và 2 báo cáo tại các hội nghị khoa học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế được ghi nhận
- Quá trình phản ứng CWAO trên xúc tác ba cấu tử có hiện tượng hòa tan một phần kim loại đồng vào pha lỏng, dẫn đến độ hao hụt khối lượng xúc tác dao động khoảng 10 - 15% mỗi mẻ phản ứng.
- Phản ứng đòi hỏi thiết bị chịu áp lực và gia nhiệt (120 - 150°C, 13 atm), yêu cầu kiểm soát an toàn công nghệ nghiêm ngặt.
- Báo cáo phản biện của hội đồng đã chỉ ra một số điểm cần khắc phục trong luận án: sự sai khác cục bộ giữa số liệu trên đồ thị và bảng biểu ở một số mẫu khảo sát COD/độ màu; cần bổ sung mô tả phương pháp đo $\text{BOD}_5$ và kiểm tra tính thống nhất của giá trị cực đại hiệu suất giữa các tỷ lệ Mn:Fe (mẫu 1:2 và 1:3).
Hướng nghiên cứu tiếp
- Nghiên cứu các giải pháp biến tính hoặc cố định pha hoạt tính nhằm giảm thiểu tối đa hiện tượng rửa trôi/hòa tan kim loại đồng, nâng cao độ bền cơ lý và hóa học của hạt xúc tác qua nhiều chu kỳ làm việc.
- Thử nghiệm mô hình thiết bị phản ứng CWAO dòng chảy liên tục (continuous flow reactor) ở quy mô pilot.
- Mở rộng phạm vi ứng dụng của hệ xúc tác đa cấu tử trên nền quặng tự nhiên để xử lý các loại nước thải công nghiệp chứa chất hữu cơ độc hại và khó phân hủy khác (nước thải sản xuất thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất hữu cơ, nước rỉ rác).
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Hóa lý, Hóa môi trường: Cung cấp tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu xúc tác dị thể từ khoáng sản tự nhiên; quy trình khảo sát động học phản ứng pha lỏng cao áp; kỹ thuật xử lý dữ liệu động học phi tuyến bằng công cụ Solver trong Excel; các phương pháp phân tích đặc trưng vật liệu (XRD, TEM, BET, TGA).
- Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo: Bổ sung tư liệu giảng dạy thực tế trong các học phần Hóa học Môi trường, Quá trình Oxi hóa Tiên tiến (AOPs), Động học Xúc tác và Công nghệ Xử lý Nước thải Công nghiệp.
- Đối với kỹ sư môi trường và doanh nghiệp dệt may: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm về giải pháp xử lý dòng thải nhuộm đậm đặc, khó phân hủy bằng công nghệ tiền xử lý CWAO kết hợp hệ thống bùn hoạt tính sinh học, giúp tối ưu chi phí hóa chất và tận dụng nguồn quặng khoáng nội địa.
Câu hỏi thường gặp
1. Trong các loại quặng tự nhiên được khảo sát, loại quặng nào có hoạt tính xúc tác CWAO tốt nhất và hiệu quả đạt được là bao nhiêu?
Trong số 4 loại quặng mangan và sắt được khảo sát (Fe Trại Cau, Mn Tuyên Quang, Mn Hà Giang, Mn Cao Bằng), quặng mangan Cao Bằng (Mn-CB) thể hiện hoạt tính xúc tác cao nhất. Đối với thuốc nhuộm hoạt tính Reactive Blue 19 (RB19), xúc tác Mn-CB đạt hiệu suất khử màu lên đến 93,6% và làm giảm đáng kể năng lượng hoạt hóa của phản ứng so với trường hợp không sử dụng chất xúc tác.
2. Xúc tác hai cấu tử và ba cấu tử được tổng hợp từ những thành phần nào và mang lại hiệu quả gì đối với việc xử lý COD?
Xúc tác hai cấu tử được chế tạo bằng cách đưa thêm pha sắt ($\text{Fe}_2\text{O}_3$ từ tiền chất $\text{FeCl}_3$) lên nền quặng Mn-CB. Mẫu tối ưu 1Q_Mn:3Fe (tỷ lệ mol $\text{Mn}:\text{Fe} = 1:3$) nâng hiệu suất xử lý COD đối với RB19 từ 33,4% lên 52,5% (vượt mức cộng tính lý thuyết). Xúc tác ba cấu tử được tạo thành khi bổ sung thêm quặng đồng Sinh Quyền (Lào Cai) qua phương pháp phân giải - kết tủa; mẫu 1Q_Cu:(1Q_Mn:3Fe) tiếp tục nâng hiệu suất xử lý COD lên 56,8%.
3. Phương trình động học của phản ứng oxi hóa thuốc nhuộm hoạt tính trên xúc tác nghiên cứu được xác định như thế nào?
Bằng phương pháp bình phương tối thiểu sử dụng lệnh Solver trong Excel, phản ứng oxi hóa các chất màu hoạt tính trong hệ CWAO được xác định tuân theo phương trình động học bậc 1 biểu kiến đối với nồng độ chất màu:
- Trên xúc tác quặng gốc Mn-CB đối với RB19: $w = 1{,}12 \cdot [\text{RB19}]^1$
- Trên xúc tác hai cấu tử 1Q_Mn:3Fe đối với RY145: $w = 2397 \cdot [\text{RY145}]^1$ (ở khoảng nhiệt độ 120 - 150°C).
4. Vai trò của công đoạn tiền xử lý CWAO đối với quá trình xử lý sinh học tiếp theo là gì?
Thuốc nhuộm hoạt tính thực tế có cấu trúc vòng thơm bền vững, khiến tỷ lệ $\text{BOD}_5/\text{COD}$ của nước thải ban đầu rất thấp (~0,2 - 0,25), gây ức chế vi sinh vật. Quá trình tiền xử lý CWAO bẻ gãy các liên kết mang màu và phân cắt mạch hữu cơ phức tạp thành các hợp chất phân tử nhỏ hơn, làm tăng tỷ lệ $\text{BOD}_5/\text{COD}$ lên trên 0,5 - 0,6. Nhờ đó, hệ bùn hoạt tính (BHT) ở bước tiếp theo có thể phân hủy dễ dàng, đưa COD sau cùng về mức ~150 mg/L, đạt quy chuẩn QCVN 13:2008/BTNMT.
5. Điều kiện phản ứng CWAO trên nước thải thực và mức độ tái sử dụng của xúc tác ba cấu tử như thế nào?
Quá trình CWAO trên nước thải thực của Công ty TNHH Trường Thịnh được thực hiện ở nhiệt độ 150°C và áp suất riêng phần oxy $p_{\text{O}_2} = 13\text{ atm}$. Xúc tác ba cấu tử 1Q_Cu:(1Q_Mn:3Fe) có thể tái sử dụng qua 5 mẻ phản ứng. Lượng xúc tác hao hụt trung bình khoảng 10 - 15% mỗi mẻ do hòa tan một phần kim loại; nồng độ Cu và Fe tan trong nước sau CWAO vẫn nằm trong giới hạn cho phép của quy chuẩn xả thải.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thị Hậu đã nghiên cứu thành công việc sử dụng trực tiếp và biến tính các loại quặng tự nhiên Việt Nam (mangan Cao Bằng, sắt Trại Cau, đồng Sinh Quyền) để tạo ra các hệ xúc tác CWAO đa cấu tử có chi phí thấp và hoạt tính cao. Đề tài đã thiết lập các thông số động học phản ứng oxi hóa pha lỏng cho các loại thuốc nhuộm hoạt tính đại diện và chứng minh cơ chế nâng cao hiệu quả phân hủy khi phối hợp đa kim loại chuyển tiếp. Nghiên cứu đã ứng dụng thành công chuỗi quy trình công nghệ tích hợp gồm tiền xử lý CWAO ở điều kiện nhiệt độ - áp suất vừa phải kết hợp với xử lý vi sinh bằng bùn hoạt tính, xử lý đạt quy chuẩn môi trường nước thải dệt may thực tế và mở ra tiềm năng ứng dụng khoáng sản nội địa trong công nghệ xử lý chất thải độc hại khó phân hủy sinh học.