CHƯƠNG I: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. Đặc điểm và xu hướng phát triển ngành công nghệ lọc hóa dầu trên thế giới:[17],[18],[19] Hiện nay, xã hội đang ngày càng phát triển và tạo bước tiến vững chắc vào một nền công nghiệp hiện đại hoà nhập với thế giới thì ngành công nghệ lọc hóa dầu đóng một vai trò quan trọng. Nhu cầu hóa dầu tăng cao vì nền kinh tế thế giới, đặc biệt là kinh tế Châu Á đang phát triển với tốc độ cao. Ngành công nghiệp hóa dầu Châu Á hoạt động trong bối cảnh toàn cầu hóa nên có tác động to lớn đến thị trường thế giới.
Dự kiến công suất hóa dầu sẽ tăng đáng kể trong giai đoạn 2007-2012. Phần lớn trong tổng các nhà máy lọc dầu mới có công suất trên 10 triệu thùng/ngày được xây dựng ở phía đông kênh đào Suez, Trung Đông và Châu Á Thái Bình Dương. Từ năm 1988 đến nay, mức cầu về dầu mỏ của thế giới tăng 25%, từ mức 64,95 triệu thùng/ngày lên đến 82,15 triệu thùng/ngày. Mỹ tăng mức cầu 18%, Nhật tăng mức cầu 25%, Trung Quốc tăng mức cầu 175%.
Mỹ tiêu thụ 3,08 triệu thùng/ngày, Trung Quốc tiêu thụ 3,98 triệu thùng/ngày bằng 7,6% lượng dầu tiêu thụ của thế giới, hơn cả Nhật Bản (7,4%). Các nhà máy có công suất tối đa 1,9 triệu thùng/ngày được xây dựng mới ở Châu Phi. Còn Châu Âu không có thêm nhà máy nào. Shell dự báo công suất chế biến dầu khí thế giới sẽ tăng thêm 11 triệu thùng/ngày vào năm 2009-2011, trong đó tăng 22% ở Châu Á Thái Bình Dương, 6% ở Châu Mỹ và 2% ở Châu Phi và Châu Âu.
Các dự án mở rộng công suất và xây dựng mới sẽ đưa vào hoạt động vào cuối thập kỷ này, tập trung nhiều nhất ở Trung Quốc với tổng công suất 2878 - 2998 nghìn thùng/ngày. Riêng đối với khối OPEC là 5315 - 5615 nghìn thùng/ngày.[17],[18] Ngoài ra, các nhà máy lọc dầu ở Nga ngày càng được nâng cấp và tăng công suất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ. Mặt khác, mở rộng các kế hoạch liên - 4 - kết với các nước như: Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan để tiếp cận tốt hơn thị trường xăng dầu rộng lớn này. Hiện nay, Ả Rập Xê Út có nền kinh tế phát triển nhờ xuất khẩu dầu thô.
Saudi Aramco, Công ty dầu quốc gia Ả Rập Xê Út cho biết họ đang đẩy mạnh kế hoạch mở rộng chế biến dầu. Các hợp đồng về hai nhà máy ch ế biến dầu mới liên doanh để xuất khẩu đã được ký trong nửa cuối năm 2006, trong đó hợp đồng mở rộng tổ hợp chế biến dầu Petrorabigh 425.000 thùng/ngày với một phân xưởng hóa dầu 2,4 triệu tấn/năm. Các nhà máy mới của Ả Rập Xê Út sẽ sản xuất nhiên liệu chất lượng cao mà các thị trường xuất khẩu yêu cầu. Do vậy, để đáp ứng nhu cầu sử dụng hiện nay thì lượng nhiên liệu đòi hỏi ngày càng một tăng cao.
Điều này được thể hiện cụ thể ở hình 1.1: Lượng nhiên liệu tiêu thụ trên thế giới. Hiện nay, đang có xu hướng tăng diesel GTL (khí hóa thành nhiên liệu lỏng). Vì đây là sản phẩm chất lượng rất cao, không có lưu huỳnh và aromatic độc hại, tất cả các chất thải như: NO x, COx , các hydrocacbon chưa cháy hết…đều thấp hơn. Mặt khác, dầu diesel GTL có thể đạt giá trị cao nhất khi được trộn với dầu diesel thông dụng.
Sự phát triển của dầu khí Việt Nam:[17],[18] Công nghiệp hóa dầu là một ngành công nghiệp rất mới đang được hình thành ở Việt Nam. Để đáp ứng nhu cầu thị trường và từng bước xây dựng ngành công nghiệp dầu khí hoàn chỉnh, hiện đại, phục vụ công cuộc công - 5 - nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam chủ trương phát triển ngành công nghiệp hóa dầu ngày càng lớn mạnh. Với sản lượng dầu thô 360.000 thùng/ngày, Việt Nam hiện là nước sản xuất dầu thô lớn thứ 3 ở khu vực Đông Nam Á, chỉ sau Malaysia và Indonesia. Do chưa có nhiều nhà máy lọc dầu, Việt Nam cũng là một trong những nước xuất khẩu dầu thô lớn nhất trong khu vực.
(Theo VnEconomy) Trong lĩnh vực chế biến khí và hóa dầu, Nhà máy lọc dầu Dung Quất đang được khẩn trương triển khai xây dựng với mục tiêu đưa vào vận hành thương mại năm 2009 với công suất 6,5 triệu tấn/năm. Dự án khu liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn với công suất dự kiến là 7 – 8,4 triệu tấn/năm và đề án Nhà máy lọc dầu phía Nam có quy mô công suất lớn hơn 7 triệu tấn/ năm. Nhà máy lọc dầu phía Nam đang được chuẩn bị tích cực để sớm đầu tư xây dựng đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về nguyên liệu cho đất nước và bổ sung cho công nghiệp hóa dầu những nguyên liệu và sản phẩm mới. (Nguồn Vinanet, 9/1/2006) Việc xuất khẩu dầu thô đã thực sự thúc đẩy sự phát triển kinh tế nhanh chóng của Việt Nam và trở thành mặt hàng xuất khẩu số một của đất nước.
Chính phủ Việt Nam đang tiến hành mở cửa nhiều mỏ dầu mới cho các công ty nước ngoài tiến hành thăm dò. Mặc dù vậy, các nhà hoạch định chính sách của chính phủ Việt Nam có một chiến lược năng lượng rộng lớn hơn, trong đó, hoạt động của Petro Việt Nam trên thị trường quốc tế đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Trong khoảng thời gian từ 2006 - 2010, tập đoàn này đã lên kế hoạch ngân sách 6,7 tỷ USD cho việc thăm dò ở nước ngoài. Khoản ngân sách này được tăng thêm 9,7 tỷ USD cho giai đoạn 2011- 2015.
Trong giai đoạn đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam xác định mục tiêu và nhiệm vụ là phát triển ngành Dầu khí Việt Nam trở thành ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng, đồng - 6 - bộ, bao gồm: tìm kiếm, thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến, tàng trữ, phân phối, dịch vụ và xuất, nhập khẩu. Có thể nói rằng, ngành lọc hóa dầu ở nước ta đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, không chỉ ở trong nước mà còn vươn ra ở thị trường nước ngoài. Điều đó cho thấy rằng, một nền công nghiệp dầu khí đang ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vị trí trong các tập đoàn dầu khí đa quốc gia trên thế giới. Quá trình hydro hóa làm sạch – quá trình hydrotreating: 1.
Giới thiệu về quá trình hydrotreating:[19],[45],[50] Quá trình hydrotreating được biết đến từ năm 1933 và ngày càng được nghiên cứu và mở rộng trên toàn thế giới. Ngày nay, do các yêu cầu nghiêm ngặt hơn về môi trường mà quá trình hydrotreating không chỉ được sử dụng như một quá trình trung gian trong nhà máy lọc dầu nhằm làm sạch các phân đoạn dầu mỏ sau khi chưng cất với các mục đích sử dụng khác nhau mà còn dùng để nâng cấp các phân đoạn nặng, các phân đoạn thu được từ quá trình nhiệt phân cặn dầu…Trên thế giới thì năng suất của quá trình hydrotreating khoảng 900 triệu tấn/năm. Điều này được thể hiện ở bảng 1.1: Năng suất của quá trình hydrotreating trên thế giới. Lục địa Năng suất (triệu tấn/năm) Châu Á 140 Mỹ 320 Châu Âu 180 Còn lại 260 Tổng 900 Điều này cho thấy rằng có hơn 1000 phân xưởng hydrotreating trên thế giới với lượng tiêu thụ xúc tác khoảng 30.000 tấn trong một năm.
Vì vậy quá trình hydrotreating đóng một vai trò rất quan trọng và không thể thiếu trong các nhà máy lọc dầu trên toàn thế giới. Các phản ứng của quá trình hydrotreating: - 7 - Hydrotreating là quá trình bao gồm các phản ứng chính: hydrodesulfua (HDS), hydrodenitơ (HDN) và hydro hóa (HYD). Mục đích của quá trình này là loại các hợp chất chứa lưu huỳnh, nitơ, các kim loại nặng…ra khỏi nguyên liệu dầu mỏ và làm no hóa các hợp chất dạng olefin và thơm dưới tác dụng của hydro. Phản ứng hydrodesulfua (HDS): a.
Vai trò của phản ứng hydrodesulfua (HDS):[8],[30],[40],[50] HDS là quá trình nhằm loại S ra khỏi các hợp chất chứa lưu huỳnh trong các nguyên liệu dầu mỏ bằng cách cho tương tác với hydro trên xúc tác rắn. Người ta đã xác định được có trên 250 loại hợp chất của lưu huỳnh. Các loại dầu chứa ít hơn 0,5% lưu huỳnh là loại dầu tốt, còn dầu nào chứa 1÷ 2% lưu huỳnh trở lên là dầu xấu. Những hợp chất hữu cơ chứa lưu huỳnh là nguyên nhân chính gây ra mùi khó chịu trong các sản phẩm dầu mỏ.
Việc loại bỏ các tạp chất này là điều cần thiết vì nó giảm tối thiểu lượng khí SOx sinh ra trong quá trình đốt cháy các hợp chất có chứa lưu huỳnh. Điều này giúp bảo vệ môi trường sinh thái và sức khoẻ của con người. Các hợp chất của lưu huỳnh thường ở các dạng sau:[25],[27],[50] b. Các phản ứng xảy ra trong quá trình HDS:[8],[27],[42] Bao gồm các phản ứng sau đây: - 8 - + Hợp chất mercaptan: + Hợp chất sunfua: + Hợp chất disunfua: + Thiophen: + Benzothiophen: Xúc tác được sử dụng cho quá trình hydrodesulfua này là NiMo/γAl 2O3.
Sau quá trình HDS thì lưu huỳnh được tách ra khỏi các hợp chất hữu cơ chứa chúng làm cho nguyên liệu trở nên sạch hơn và giảm hàm lượng lưu huỳnh đến hàm lượng cho phép. Điều này đáp ứng được yêu cầu về nhiên liệu sạch và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Cho nên, quá trình hydrodesulfua là một quá trình rất quan trọng và không thể thiếu trong bất kỳ một nhà máy lọc dầu nào. Cơ chế của phản ứng HDS:[25],[37],[50] Một số cơ chế của quá trình HDS đã được đưa ra và đều cho thấy rằng lỗ trống lưu huỳnh là những tâm hoạt tính cho quá trình HDS.
Bằng phương pháp đồng vị đánh dấu [50] cho thấy H2S không được tạo ra trực tiếp từ S trong Dibenzothiophen (DBT) mà được tạo ra từ S ở trên bề mặt xúc tác. Sự vắng mặt của DBT không sinh ra H2S mà phải có sự phối hợp giữa S của - 9 - DBT trên bề mặt xúc tác thì mới tạo ra H2 S. Cụ thể đưa ra cơ chế phản ứng HDS của Dibenzothiophen (DBT) ở trên hai loại xúc tác là: Mo/γ-Al2O3 và xúc tác khi có chất xúc tiến Ni-Mo/γ-Al 2O 3 [50] như sau: + Với xúc tác Mo/γ-Al2O3 được đưa ra ở hình 1.2: Cơ chế phản ứng HDS của DBT trên xúc tác Mo/γ-Al 2O3. + Với xúc tác khi có chất xúc tiến Ni-Mo/γ-Al2O3 được đưa ở hình 1.3: Cơ chế phản ứng HDS của DBT trên xúc tác Ni-Mo/γ-Al2O3 Cơ chế phản ứng được thực hiện theo các bước sau:[50] + Hợp chất lưu huỳnh bị hấp phụ trên một lỗ trống trên xúc tác.
+ Sau khi hydro phân liên kết C – S thì thành phần hydrocacbon được thoát ra trong pha khí. Còn nguyên tố lưu huỳnh vẫn còn tồn tại trên bề mặt xúc tác.