Chương 1 TỔNG QUAN 1. VẬT LIỆU TiO2 1.1 CẤU TRÚC CỦA VẬT LIỆU TiO2 TiO 2 là chất bán dẫn t ồn t ại ở 3 d ạng cơ b ản sau: rutile, anatase, brookite. Cả ba dạng tinh thể này đều có chung một công thức hóa học TiO2, tuy nhiên cấu trúc tinh thể của chúng là khác nhau. Rutile: là trạng thái tinh th ể bền của TiO2, pha rutile có độ rộng khe năng lượng 3,02 eV.
Rutile là pha có đ ộ xếp chặt cao nh ất so với 2 pha còn l ại, khối lượng riêng 4,2 g/cm3. Rutile có ki ểu mạng bravais t ứ phương v ới các hình bát di ện xếp tiêp xúc nhau ở các đỉnh (hình 1. Cấu trúc tinh thể rutile Anatase: dạng có hoạt tính quang hóa mạnh nh ất trong 3 pha. Anatase ở dạng bravais tứ phương với các hình bát diện tiếp xúc ở cạnh với nhau và trục của tinh thể bị kéo dài.
Anatase thường có màu nâu sẫm, đôi khi có thể có màu vàng hoặc xanh, có độ sáng bóng như tinh thể kim loại. Tuy nhiên lại rất dễ rỗ bề mặt, các vết xước có màu trắng (hình 1.2) 4 Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Tất Cương - 12AVLPK – VIGLA Ti O Hình 1. Cấu trúc tinh thể anatase Brookite: Có hoạt tính quang hóa rất yếu, thường rất ít gặp nên ít được đề cập trong các nghiên cứu và ứng dụng (hình 1. Cấu trúc tinh thể brookite Trong tự nhiên dạng tinh thể anatase và rutile thường phổ biến hơn các dạng khác.
Cấu trúc của dạng tinh thể anatase và rutile thuộc hệ tinh thể tetragonal. Cả 2 dạng tinh thể trên đều được tạo nên từ các đa diện phối trí TiO6 cấu trúc theo kiểu bát diện (octahedra), TiO6 nối với nhau qua cạnh hoặc qua đỉnh oxy chung (hình 1. Mỗi ion Ti+4 được bao quanh bởi tám mặt tạo bởi sáu ion O2 -. Tuy nhiên trong tinh thể anatase các đa diện phối trí 8 mặt bị biến dạng mạnh hơn so với rutile, khoảng cách Ti-Ti ngắn hơn và khoảng cách Ti-O dài hơn.
Điều này ảnh hưởng đến 5 Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Tất Cương - 12AVLPK – VIGLA cấu trúc điện tử của hai dạng tinh thể, kéo theo sự khác nhau về các tính chất vật lý và hóa học (bảng 1. Đa diện phối trí của TiO2 Bảng 1. Một số thông số vật lý của TiO2 ở dạng anatase và rutile Tính chất Anatase Rutile Hệ tinh thể Tetragonal Tetragonal Nhóm không gian I41/amd P4 2/mnm Thông số mạng a 3,78 AO 4,58 AO Thông số mạng c 9,49 AO 2,95 AO Khối lượng riêng 3,895 g/cm3 4,25 g/cm3 Độ khúc xạ 2,52 2,71 Độ cứng (thang Mox) 5,5-6,0 6,0-7,0 Hằng số điện môi 31 114 Nhiệt độ nóng chảy 1800 OC 1858 OC Trong 2 dạng thù hình trên của TiO2 , dạng anatase thể hiện hoạt tính quang xúc tác mạnh hơn. Đó là do sự khác biệt về cấu trúc vùng năng lượng của anatase so với rutile, dẫn đến một số tính chất đặc biệt của anatase.
6 Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Tất Cương - 12AVLPK – VIGLA 1. TÍNH CHẤT QUANG CỦA VẬT LIỆU TiO2 Vật liệu TiO2 là vật liệu bán dẫn. Cấu trúc điện tử của chất bán dẫn đóng vai trò quan trọng trong quá trình xúc tác quang. Không giống như một chất dẫn điện, một chất bán dẫn bao gồ m vùng dẫn (CB - Conduction Band) và vùng hóa trị (VB - Valence Band).
Năng lượng khác biệt giữa hai mức này được gọi là năng lượng vùng cấm (Eg). Nếu không có sự kích thích, điện tử lấp đầy vùng hóa trị, còn vùng dẫn trống. Khi chất bán dẫn được kích thích bởi các photon với năng lượ ng bằng hoặc cao hơn mức năng lượng vùng cấm, các điện tử nhận được năng lượng từ các photon sẽ chuyển dờ i từ vùng VB lên CB. Đối với chất bán dẫn TiO 2, quá trình được thể hiện như sau: Trong các dạng thù hình của TiO2, chúng ta biết rẳng anatase có năng lượng vùng cấm là 3,2eV, tương đương với một lượ ng tử ánh sáng có bước sóng 388 nm.
Rutile có năng lượng vùng cấm là 3,0 eV tương đương với một lượng tử ánh sáng có bước sóng 413 nm. Tính chất quang học của từng pha là tương đồng, tuy nhiên có một số khác biệt nhỏ, ví dụ như bờ hấp thụ của chúng khác nhau (hình 1. Phổ quang dẫn của màng anatase và rutile. 7 Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Tất Cương - 12AVLPK – VIGLA Bảng 1.
Các đặc tính cấu trúc của các dạng thù hình của TiO2. Chiết suất Khối lượng riêng Độ rộng vùng cấ m (g/cm3) (eV) Anatase 2,49 3,84 3,25 Rutile 2,903 4,26 3,05 TiO2 ở dạng anatase có hoạt tính quang hóa cao hơn hẳn các dạng tinh thể khác, điều này đượ c giải thích dựa vào cấu trúc vùng năng lượng. Giản đồ năng lượng của Anatase và Rutile Vùng hóa trị của anatase và rutile như chỉ ra trên giản đồ (hình 1.6) là xấp xỉ bằng nhau và cũng rất dương, điều này có nghĩa là chúng có khả năng oxi hóa mạnh. Khi được kích thích bởi ánh sáng có bướ c sóng thích hợp, các electron hóa trị sẽ tách ra khỏi liên kết, chuyển lên vùng dẫn, tạo ra lỗ trống (hole) mang điện tích dương ở vùng hóa trị.
Các electron khác có thể nhảy vào vị trí này để bão hòa điện tích tại đó, đồng thời tạo ra một lỗ trống mới ngay tại vị trí mà nó vừa đi khỏi. Như vậy lỗ trống mang điện tích dương có thể tự do chuyển động trong vùng hóa trị. 8 Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Tất Cương - 12AVLPK – VIGLA 1. SỰ CHUYỂN PHA CỦA TINH THỂ TiO2 Các mẫu TiO 2 được chế tạo thường có dạng vô định hình, anatase hoặc rutile do trong quá trình xử lý nhiệt, cấu trúc vật liệu chuyển dần từ dạng vô định hình sang pha anatase ở nhiệt độ cỡ 300 ÷ 450OC và chuyển dần sang pha rutile khi nung ở nhiệt độ cao (cỡ trên 800OC).
Pha anatase chiếm ưu thế khi được nung ở nhiệt độ thấp (cỡ 300 ÷ 800OC) [2]. Sự chuyển cấu trúc sang pha rutile hoàn thành ở nhiệt độ cỡ 900OC. TiO2 cũng có thể chuyển từ pha anatase sang pha rutile ở nhiệt độ trên 500O C tuỳ theo tạp chất, áp suất, môi trường, công nghệ chế tạo. Một số nghiên cứu cho thấy sự chuyển cấ u trúc từ pha anatase sang rutile còn phụ thuộc vào kích thước hạt.
Kích thước hạt càng nhỏ, năng lượng hoạt hoá cần để chuyển cấu trúc từ pha anatase sang rutile càng nhỏ, sự chuyển pha càng dễ xảy ra. Như vậy, pha rutile là dạng phổ biến nhất của TiO2, pha anatase hiếm gặp trong tự nhiên. Thực tế TiO2 không tồn tại riêng biệt dưới một dạng nhất định trong các khoáng chất mà thường có nhiều pha khác cùng tồ n tại: rutile, anatase, brookite, quarzt, feldspars,. Tuy nhiên, trong các dạng thù hình trên của TiO2 thì pha anatase thể hiện tính hoạt động dưới ánh sáng mặt trời cao hơn hẳn so với các pha khác do s ự khác biệt về cấu trúc vùng năng lượng của nó 1.
VẬT LIỆU TiO2 NANOMET 1.1 KHÁI QUÁT VỀ VẬT LIỆU NANO Nano là một bội, ước thập phân được dùng chính thức trong hệ đơn vị đo lường Quốc tế SI. Nano là tên gọi dùng để thay thế cho thừa số 10 - 9 Công nghệ Nano là ngành công nghệ liên quan đến việc thiết kế, phân tích, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng, kích thước trên quy mô nanomét (nm, 1 nm = 10 - 9 m). 9 Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Tất Cương - 12AVLPK – VIGLA Trên thê giới, việc đầu tư cho việc phát triển nano ngày càng tăng. So sánh đầu tư của các nước châu Á - Thái Bình Dương (không tính Nhật Bản) cho công nghệ nano giai đoạn 2003-2007 (Nguồn: Asia Pacific Nanotech Weekly, www.
1400 1200 1000 TriÖu 800 USD 600 2003 400 2002 200 2001 0 EU Mü Ch©u ¸ Hình 1. So sánh đầu tư của các nước châu Âu, châu Á và Mỹ cho công nghệ nano giai đoạn 2001-2003. Lưu ý rằng đầu tư của Mỹ không bao gồm Microelectronics hoặc MEMS (Nguồn: Asia Pacific Nanotech Weekly, www. 10 Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Tất Cương - 12AVLPK – VIGLA Bảng 1.3: Kế hoạ ch thị trườ ng c ủa Nhật Bả n năm 2010 về 5 ngành công nghiệp chủ y ếu Các ngành công nghiệp nano Nghìn tỷ Yên Tỷ USD Các vậ t liệu tái chế 0,6 - 1,4 6 - 14 Môi trường nano và nă ng l ượ ng 0,9 - 1,7 9 - 17 Kỹ thuật sinh học nano 0,6 - 0,8 6-8 Mạng lưới và thiết bị nano 17 - 20 170 - 200 Đo lườ ng và sả n xu ất nano 0,8 - 2,2 8 - 22 (Nguồn: Keidanren Japan) Vật liệu nano được quan tầm nhiểu bởi khi vật liệu có kích thước nm, các số nguyên tử nằm trên bề mặt sẽ chiếm tỉ lệ đáng kể so với tổng số nguyên tử.
Chính vì vậy các hiệu ứng có liên quan đến bề mặt, gọi tắt là hiệu ứng bề mặt sẽ trở nên quan trọng làm cho tính chất của vật liệu có kích thước nanomet khác biệt so với vật liệu ở dạng khối. Các tính chất vật lý, hóa học của các vật liệu đều có một giới hạn về kích thước. Nếu vật liệu mà nhỏ hơn kích thước này thì tính chất của nó hoàn toàn bị thay đổi. Người ta gọi đó là kích thước tới hạn.
Vật liệu nano có tính chất đặc biệt là do kích thước của nó có thể so sánh được với kích thước tới hạn của các tính chất của vật liệu. Ví dụ điện trở của một kim loại tuân theo định luật Ohm ở kích thước vĩ mô mà ta thấy hàng ngày. Nếu ta giảm kích thước của vật liệu xuống nhỏ hơn quãng đường tự do trung bình của điện tử trong kim loại, mà thường có giá trị từ vài đến vài trăm nm, thì định luật Ohm không còn đúng nữa. Lúc đó điện trở của vật có kích thước nano sẽ tuân theo các quy tắc lượng tử.
Không phải bất cứ vật liệu nào có kích thước nano đều có tính chất khác biệt mà nó phụ thuộc vào tính chất mà nó được nghiên cứu. 11 Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Tất Cương - 12AVLPK – VIGLA Các tính chất khác như tính chất điện, tính chất từ, tính chất quang và các tính chất hóa học khác đều có độ dài tới hạn trong khoảng nm. Chính vì thế mà người ta gọi ngành khoa học và công nghệ liên quan là khoa học nano và công nghệ nano. Độ dài tới hạn của một số tính chất của vật liệu.